Về nước, thấy gì, nghĩ gì?

Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người
Người vẫn kinh hoàng trước tương lai!
(Trần Dần - Nhất Định Thắng)

Giữa năm 2016, tôi về VN hơn một tháng, đi loanh quanh vài nơi: Gò Công, Mỹ Tho, Phan Thiết, Phan Rang… rồi trở lại Mỹ.

Sau chuyền đi, nói chuyện chơi với vài người bạn, họ hỏi tôi thấy gì, nghĩ gì?... Sau đây là vài điều mắt thấy tai nghe, và kể lại, cùng quí bạn.

1)- Dĩ nhiên, như ai cũng thấy, ở “nước ta” bây giờ - nước ta là Việt Nam đấy, chớ không phải Mỹ. Ai có quốc tịch Mỹ thì nước Mỹ cũng là “nước ta” vây! - người giàu thì quá giàu, người nghèo thì quá nghèo. Nói theo sách vở thì “Sự cách biệt giàu nghèo quá lớn”.

Tôi không đi hết để thấy từng cảnh nghèo. Thấy từng cảnh nghèo thì dễ, gặp họ đâu có gì “ngăn trở”. Dĩ nhiên, gặp người giàu thì khó lắm. Trước hết là họ không muốn gặp mình, dù có là “Việt kiều” hay thuộc hạng người nào đó ở Việt Nam. Họ đi xe hơi, dĩ nhiên, và nơi ở thì “kín cổng cao tường”. Người ta, cũng như tôi vậy - chỉ đứng ngoài lõ mắt nhìn vào mà thôi, nhưng cũng không thấy gì!”

Hạng người tôi thấy nhiều nhứt là “bán vé số dạo”. Đủ thành phần: đàn ông, đàn bà, trẻ con, có đứa rất nhỏ, không đoán được tuổi vì những đứa trẻ nầy phần đông thiếu ăn, ốm o, gầy còm… và cả những người tàn tật, chống gậy, lê lết trên đường…
Ở đâu cũng gặp người bán vé số: trong quán ăn, cà phê cóc, bên lề đường. Người nầy tới nói “nhờ mua giúp”, chưa kịp đi thì người khác đã tới, liền liền. Ngó tới cũng thấy họ, ngó lui cũng thấy họ, rất dễ thấy, rất dễ biết: Ngoài hình ảnh ốm o, rách rưới dơ dáy là xấp vé số cầm trên tay. Phần đông mang “dép Nhựt”, đế mỏng lét, gần như có thể đem “cạo râu được” như câu cô em vợ tôi nói đùa tôi trước 1975, khi thấy tôi mang đôi giép đã mòn. Bây giờ người ta còn mang dép “đơ cu-lơ” nữa, không phải giày “soulier deux couleurs” như thời trang đàn ông thời 1950, mà chính là đôi dép có quai hai màu khác nhau: Một chiếc quai màu xanh, một chiếc quai màu đỏ chẳng hạn.
Về hình dạng và cách ăn mặc, trông họ giống như kẻ ăn mày.

Suy cho đúng, nếu kể về “thành phần” như cách phân loại xã hội của Việt Cộng, thì hạng bán vé số dạo chỉ đứng trên thành phần ăn mày mà thôi. Ăn mày ở Việt Nam bây giờ chẳng thiếu chi, nhưng xem ra ít hơn thành phần bán vé số dạo.

Người Việt Nam dù nghèo như thế nào, vẫn còn tự trọng. Bán vé số cũng còn là “lấy công làm lời”, chớ không phải ngữa tay xin không. Không muốn đi ăn xin tức là còn biết mắc cở. Nghĩ như thế, nên tôi thấy hai câu thơ “khen khéo” người ăn mày của vua Lê Thánh Tông cũng có phần tàn nhẫn đấy:
Chẳng phải ăn đong, chẳng phải vay
Ơn trời dày mới được ăn mày…
(Người ăn mày. Lê Thánh Tôn)

Dĩ nhiên, người bán vé số dạo đông là vì thất nghiệp, không tìm ra công ăn việc làm, không có vốn để buôn bán…

Nhưng có một điều chắc chắn, nói theo cách của các nhà kinh tế là “luật cung cầu”. Có người mua nhiều nên người đi bán mới đông. Có nghĩa rằng ở “nước ta” bây giờ, người ta “đánh vé số” đông. Cũng có thể nói như trước 1975, người ta “chơi vé số”.

“Chơi vé số” và “đánh vé số” khác nhau như thế nào?

“Chơi” có nghĩa là một thú vui, giống như ngày tết hồi xưa, người ta chơi bài tới, bài chòi, tứ sắc, xóc dĩa… Nôm na gọi là “chơi bài”.

Bây giờ không phải là “chơi bài” mà “đánh”. Đánh là một phương cách kiếm tiền, kiếm “cơm gạo”, không phải là một thứ vui chơi.

Xã hội bế tắc, buôn bán khó khăn, “gạo châu củi quế”. Cách nào kiếm tiền cũng khó, thôi thì chi bằng tìm sự may rủi, nếu không vào chùa, vào nhà thờ cầu Phật, cầu Chúa “ban phước lành”.

Trước 1975, chỉ có vé số “Kiến Thiết Quốc Gia” mà thôi. Cứ chiều thứ sáu, trên đài phát thanh Saigon, trước giờ mở số ở rạp Thống Nhứt, người ta lại nghe Trần Văn Trạch hát “Kiến Thiết Quốc Gia, giúp đồng bào ta mua lấy cái nhà, giàu sang mấy hồi”. Sau 1975, ở hải ngoại, đôi khi cũng có người bắt chước Trần Văn Trạch, nhưng nghe sao mà lạt lẽo quá, chỉ ông Trạch hát mới mặn mòi mà thôi. Đôi khi, nếu như cơ quan đoàn thể nào hay khi có “Hội Chợ” mới có tổ chức bán vé số, chỉ một hai lần mà thôi, gọi là “Xổ số Tombola”. Thông thường giải độc đắc không lớn lắm.

Sau 1975, Việt cộng tổ chức xổ số tùm lum, vùng nào cũng có, tỉnh nào cũng có. Họ khuyến khích sự may rủi nhưng vì vô thần nên không tin ở số phận, chỉ tin ông Mác, ông Mao. Thiệt là mâu thuẫn. Mâu thuẫn nhưng có tiền cũng cứ làm. Việt Cộng mà!!!

Đất nước giàu mạnh thì tự nhiên người ăn mày cũng ít đi, bị triệt tiêu dần dần, người bán vé số dạo cũng không còn.

Trước năm 1945, khi còn Tây đô hộ, trên đường đi về nhà ngoại tôi, tôi phải đi qua một ngôi nhà gọi là Trại Tế Bần. Tế bần, theo Tự Điển Hán Việt của Đào Duy Anh giải thích là “Cứu vớt kẻ nghèo khổ” (secourir les indigents). Thực tế, thành phố Quảng Trị, nơi tôi “chôn nhau cắt rún” hồi ấy không có ăn mày. Hễ “cu-lít” (Police) gặp ăn mày ngoài đường thì bắt đưa vào Trại Tế Bần, cũng như bên Mỹ bây giờ có chỗ ăn chỗ ở cho người homeless vậy.

Không lý Tây cai trị, bóc lột dân ta mà còn hơn “Chính phủ Cách Mạng” bây giờ ở Việt Nam hay sao? Vậy thì “cách mạng” để làm cái gì? Ông Hồ Chí Minh ở trong lăng Ba Đình có sống dậy cũng ngọng luôn, không giải thích được! “Bác” còn chịu thua, huống chi mấy tay cắc ké ở “Phủ Chủ tịch” Hà Nội bây giờ.

2)-Thứ hai là “Chắc cú”
Ở bên Mỹ nầy chẳng ai hứa với tôi cái gì là chắc chắn “chăm phần chăm” (100%) cả, cũng giống như miền Nam trước 1975 vậy.

Hùng Cường hát “Chăm phần chăm em ơi, chiều nay một chăm phần chăm”, có nghĩa rằng hôm nay “cắm trại trăm phần trăm” lính phải ngủ trong doanh trại, không được về ngủ nhà với vợ con hay với bồ, nhưng tết Mậu Thân, khi Việt Cọng bất thần tấn công thì lính trong đồn còn chưa tới 50%.

Không có 100% vì người ta thường tính tới sai số, chính xác như máy điện tử, cũng chỉ tới 99,999999… % nhiều con số chín lẻ phía sau.
Vậy mà khi về VN, nhờ ai chuyện gì, làm việc gì, có trà nước, có thù lao hay không cũng đều được hứa “chắc cú”.

“Chắc cú” tức là chắc chắn 100% đấy. Đó là cái “thói quen” của xã hội mới có từ ngày “giải phóng” (ngoặc kép) mà thôi.

Hứa “chắc cú” là để cho người ta tin mình. “Yên tâm đi, chắc cú mà”. Đây là hiện tượng “khủng hoảng niềm tin” của xã hội Việt Nam bây giờ. Một xã hội người ta thiếu tin nhau. Thiếu tin nhau là vì xã hội có nhiều dối trá, lừa đảo, phỉnh gạt…

Hiện tượng tiêu cực nầy trong xã hội bây giờ chỉ xuất hiện từ thời “giải phóng” mà thôi. Nôm na là vì cái lưỡi được “giải phóng” nên nói láo nhiều, nói khoát nhiều, phỉnh phờ nhiều, lường gạt nhiều… Ai tin ai bây giờ.
Trong chế độ Cộng Sản, ai tin ai được?

Ngay cả Hồ Chí Minh cũng không tin ai, và ông ta cũng không tin chính mình, bởi vì ông Hồ biết rất rõ cái lưỡi của ông vọng vẹo như thế nào?

Thật đấy, Trần Dần viết trong bài thơ “Nhất định thắng”:

Xưa nay, Người vẫn thiếu tin Người,
Người vẫn kinh hoàng trước tương lai.

Trong chế độ “suy tôn lãnh tụ”, chữ Người (viết hoa) chỉ để dành cho “bác” mà thôi.

Vậy nên, Trần Dần vô tù ngồi, không rõ mấy năm nhưng không duới hai con số.

Moi tới “tim đen” của “Bác”, Trần Dần không ở tù sao được!

Đèn Saigon ngọn xanh, ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu
Anh về học lấy chữ nhu
Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ
(Ca dao Nam Bộ)

3)- Đường sá
Theo các kinh tế gia thì muốn phát triển đất nước, ưu tiên phải phát triển giao thông, nghĩa là đường sá đi lại dễ dàng, thuận tiện. Trong viễn tượng đó, ngày nay, Saigon - xin gọi theo tên cũ, có lẽ nên vậy - thì đường sá phát triển nhiều. Có những xa lộ được xây nên, cũng dễ hiểu, có cái người ta làm nhưng tôi không rõ xây lên như thế để làm gì. Có phải Việt Cộng xây dựng sẵn, để ba mươi năm sau - con số tôi viết chừng - mới xử dụng tới hay sao?

Xa lộ từ Saigon đi ra miền Trung, bắt đầu từ khoảng bến xe miền Đông ra quá ngã ba Dầu Giây, xe chạy thoải mái vì… vắng hoe! Tiện thì cũng tiện đấy, khỏi qua Thủ Đức, khỏi qua Hố Nai… nhưng xe cộ ít quá, chạy xe trên đường một mình, thấy cũng… buồn.

Nhưng về các cây cầu thì tôi không ngờ…

Cầu Bến Lức được xây trước 1975. Cầu Mỹ Thuận (Tiền Giang) xây xong sau 1975. “Bắc” Cần Thơ trên sông Hậu, sông nầy rộng và sâu, nhưng cũng làm cầu xong rồi. Vậy là hay. Nhưng khi qua cầu nầy, tôi bỗng nhớ Trần Thiện Thanh:

“Em xinh tươi trong chiếc áo bà ba
Em đi mau kẻo trễ chuyến phà đêm
Qua bến Bắc Cần Thơ…”
(Chiếc áo bà ba - Trần Thiện Thanh)

Sau 1975, sau khi ở tù về, tôi có việc phải đi Cần Thơ, dự định về trong ngày. Khi tôi ra bến xe về Saigon thì đã hết xe. Tôi tìm tới nhà một người quen định ngủ nhờ qua đêm. Chủ nhà rất tử tế, - “thầy trò” cũ mà - nhưng khi tôi hỏi câu, tôi đi tù về, ở lại nhà anh ta, anh có ngại Công An không thì anh ta làm thinh, một lúc mới trả lời: “Em liệu được, chắc không có gì!” Nghe câu nói có chút ngại ngùng, tôi bèn từ giã anh ta ra ngồi ở “bến bắc” cầu âu; may có chiếc xe tải nào về Saigon sẽ xin quá giang.

Nhìn giòng nước sông chảy mạnh, tôi bỗng nhớ sông Hương, nhớ câu thơ của Thu Bồn: “Con sông dùng dằng, con sông chảy”, nhưng cũng nhớ chiếc áo bà ba của Trần Thiện Thanh.

Ông ta sáng tác bài nầy lúc nào? Có phải vào thời gian ông ta đi “hát chui”, như một số nghệ sĩ miền Nam, như Ngọc Minh, như Nhật Ngân, Duy Khánh… sau 1975 để trốn Việt Cộng. Rồi một đêm nào đó, Trần Thiện Thanh qua “bắc” Cần Thơ và nhìn lại mình, quê hương đất nước mình, xúc cảm mà viết nên bài ca!

Trước 1975, người ta hát ở Saigon, trên đài phát thanh, TV, phòng trà… cho “giai cấp trên” của xã hội. Sau 1975, người ta về hát chui ở các xã, các huyện, cho nông dân, cho “giai cấp dưới” của xã hội! Những nông dân, tiểu thương, buôn bán đầu sông cuối chợ, những người lao động chân tay vất vả, trước kia cũng như bây giờ, đều là “giai cấp dưới” của xã hội cả. Ngày xưa ai hát cho họ nghe? Thường là các gánh cải lương. Âm nhạc cải cách, “nhạc vàng”, ít khi ngó ngàng tới họ, dù có hát nhạc bolero, “Lối Về Xóm Nhỏ”, “Chiều Làng Em”, “Đường Về Hai Thôn”… thì cũng để cho “dân Saigon” hay các tỉnh thành nghe. Ở các xã, mấy khi thấy các đoàn hát của Bộ Thông Tin, Dân Vận Chiêu Hồi… Nay thì người ca sĩ Saigon về “hát chui”, về với họ sau khi đã “mất” họ.

Vậy thì ai “trung thành” với người nghệ sĩ. Ngồi trên bến “bắc” Cần Thơ vào một đêm nào đó, ông Trần Thiện Thanh có nghĩ tới thân phận mình, thân phận của người nghệ sĩ, tới những người từng yêu mến ông. Những chiếc áo dài, những “khăn là áo lụa” nay đâu rồi. Có phải người nghệ sĩ, khi “mất” Hòn Ngọc Viễn Đông mới thấy cái đẹp của ruộng đồng và chiếc áo bà ba??? Với bài hát “Chiếc áo bà ba”, tôi không nghĩ nhạc sĩ Trần Thiện Thanh “về” với Dân Tộc, nhưng bây giờ ông đi “gần” với Dân Tộc hơn, bởi vì dân tộc Việt Nam không chỉ là “dân thành phố”. Tám mươi phần trăm dân số là nông dân, ai nghĩ tới họ, lo cho họ trong bao nhiêu năm chiến tranh?

Về Gò Công, qua cầu trên “bác Cầu Nổi” tôi lại càng ngạc nhiên hơn. Trong gần một năm phục vụ ở Gò Công, từ Saigon về bản quán của bà Từ Dũ, tôi qua “bắc” nầy không biết bao nhiêu lần. Bờ bên nầy là Cần Đước, bờ bên kia là Bình Đông(?) thuộc tỉnh Gò Công cũ, hai bờ xa chút mút. Sông rộng bờ xa, sát biển, tôi không nghĩ có ngày nơi đây lại được xây cầu. Những ngày mưa nặng hạt, đứng bờ bên nầy không thấy bờ bên kia, lòng kẻ tha phương nhiều thương nhớ và tủi cho thân phận người lính xa nhà. Khi tôi trở lại đây, bến “bắc” không còn nữa. Xe chạy một lèo qua cầu, lòng tôi vui như… mọi người.

Hôm trở về, tài xế vô tình cho xe chui đường hầm, chạy lạc qua Thủ Thiêm rồi vòng lại.

Tại sao lại làm hầm mà không làm cầu như trong “Chương trình phát triển kinh tế hậu chiến” (1961) và “Phúc Trình Stanley-Thúc” đã vạch ra từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa?

Giữa năm 1982, tôi đi tù cải tạo về. Mấy năm sau, trước khi vượt biên năm 1989, ông Nguyễn Xuân Quỳnh, xui gia với anh chị tôi, gọi tôi tới chơi, như nhiều lần trước.

Ông Quỳnh xuất thân “Haute Commerce” bên Tây về, từng làm “Cố vấn Kinh tế” cho tổng thống Thiệu, đang giữ chức vụ Tổng Giám đốc Ngân hàng thì “đứt phim”. Sau 1985, Việt Cộng tìm tới anh ấy và “tham vấn” về các chương trình phát triển kinh tế của chế độ cũ. Anh ấy gọi tôi tới, hỏi tôi về việc có thời gian ngắn làm việc ở Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc trách Kinh tế Hậu chiến, và “Cậu còn nhớ gì về các chương trình của ông Thúc hay không?” Tôi trả lời nhớ chút chút vì “Chương trình Stanley Thuc là hay lắm, tôi mê lắm.” Anh yêu cầu tôi viết những gì còn nhớ vì tài liệu không còn, “Việt Cộng tìm không ra”.

Theo tôi nhớ thì chương trình cũ đâu có kế hoạch đào hầm qua Thủ Thiêm mà là một cây cầu, từ cuối đường Hàm Nghi đi thẳng lên cầu rồi qua bên Thủ Thiêm.

Sao bây giờ Việt Cộng không làm cầu mà làm hầm.

Trên một con sông, cây cầu thường “tô điểm” cho vẽ đẹp của một con sông. “Chiếc cầu thì cong mà con đường thì thẳng”. Cầu Trường Tiền không đẹp lắm đâu, không như cầu Long Biên trên sông Hồng, nhưng Trường Tiền sáu vài mười hai dịp (nhịp) không chỉ nối hai bờ sông Hương mà “nối” bao nhiêu tình, bao nhiêu nhớ, bao nhiêu thương với nhau, và nằm im ở đấy, trong tâm hồn những người Huế xa quê.

“Cầu Xa Lộ” nhưng nếu như song song với nó, có một cây cầu nữa trên sông Saigon thì Saigon đẹp hơn biết bao nhiêu! Thêm một cây cầu là tô điểm thêm vẽ đẹp cho một thành phố. Nhiều người nghĩ Paris đẹp cũng là nhờ có nhiều cầu bắc qua sông Seine.

Vậy thì tại sao không làm cầu cho Saigon đẹp hơn?

Có gì đâu. Rất dễ hiểu.

Mặc dù ông Đỗ Mười nói rằng cầu thì “dễ bị địch tấn công”. Vậy thì làm hầm địch không tấn công được hay sao? Không phải người ta không thấy sự thông minh của ông “cựu” hoạn lợn đâu. Ông ta khôn lắm đấy. Làm cầu, ngân sách chi ba trăm triệu đô-la Mỹ. Làm hầm, chí tới bốn trăm triệu. Chọn số tiền lớn mà không chọn số tiền nhỏ, là vì tiền lớn thì “lại quả” lớn; tiền nhỏ thì “lại quả” nhỏ. Vậy thôi!

Tiền ấy từ đâu ra? Nhiều kinh tế gia giải thích rồi. Làm cầu, làm đường là từ “vốn xây dựng”, là từ chương trình “Hỗ trợ phát triển chính thức” (Official Development Assistance gọi tắt là ODA) do các nước tư bản cho chính phủ Việt Nam Cộng Sản vay, nhiều nhứt là từ Nhựt Bản.

Chính phủ Hà Nội cứ vay bừa, vay như thế nào, có tiền lời hay không tiền lời đều được, miễn sao kiếm được “chút cháo vài trăm triệu đô” được. Ngày sau, con cháu sẽ trả, “nợ ngập đầu” cũng chẳng sao. Chuyện đời sau, đâu phải chuyện dời nay mà lo, “mất đảng” là mất cái nồi cơm bằng vàng

Làm cầu qua Thủ Thiêm để làm gì?

Theo chương trình cũ, có từ thời tổng thống Diệm thì Saigon sẽ phát triển bằng cách “nối” ba thành phố Saigon – Biên Hòa – Vũng Tầu làm một. Thủ Thiêm trở thành “khu quốc tế” của Saigon: Sân bay quốc tế, công nghiệp, thương mãi, giao dịch, du lịch quốc tế… đều ở Thủ Thiêm. Saigon cũ chỉ còn giữ nhiệm vụ “nội địa”.

Nếu tin về phong thủy, “thủ đô” của nước Việt Nam đặt ở Thủ Thiêm “đắc địa” hơn Saigon hiện nay bởi vì Thủ Thiêm có hai mặt sông: Sông Saigon và sông Đồng Tranh (còn gọi là sông Thị Vãi). Núi Thị Vãi là cái “chẫm” hay còn gọi là cái “lưng dựa” của thủ đô. “Thế đất” như vậy, vừa bảo vệ vừa phát triển “trung tâm của đất nước”.

“Chính phủ Việt Nam Cộng Sản” (phải gọi như thế cho đầy đủ ý nghĩa) đang thực hiện “chương trình phát triển kinh tế hậu chiến” Stanley- Thúc đó hay sao?

Có thể!
Nhưng họ “phát triển” theo phương cách đặc biệt của họ: Thượng tọa Không Tánh mất nơi tu hành, chùa Liên Trì thành bình địa, và mấy “bà xơ” mất nơi thờ phượng Chúa Giê Su.

Việt Cộng phát triển Saigon bằng cách phá chùa, phá nhà thờ thì liệu có “đăc địa” được hay không?

Ngày xưa, vua lấy “đức” để trị dân, ít khi dùng “pháp trị” (pháp luật) hay “nhân trị” (sức người tức là vũ lực, Việt Cộng gọi là “bạo lực cách mạng”, nghe hay dữ!!!)

Điều tôi nghĩ những người lãnh đạo đất nước phải làm, thì họ không làm. Đó là đường xe lửa.

Tại sao Việt Cộng không có chương trình phát triển đường xe lửa? Họ sợ mất lòng ông Lê Duẫn, vốn ngày xưa là “người bẻ ghi” hay nói một cách văn hoa là “công nhân hỏa xa”, cũng như Visan hoạt động yếu vì mở rộng ra nữa thì mất lòng ông Đỗ Mười. Người ta ai cũng muốn quên thuở hàn vi của mình.

Đường xe lửa Nam Bắc VN do Tây xây dựng hoàn tất vào năm 1936, bề ngang giữa hai đường “rây” (rail) chỉ có 9 tấc. Đường xe lửa nầy bị Việt Cộng phá hủy hoàn toàn trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-54), nhất là đoạn đường trong phạm vi bốn tỉnh Nam – Ngãi Bình – Phú là vùng Việt Cộng kiểm soát cho đến Hiệp Định Genève 1954, các tỉnh nầy thuộc quyền cai trị của chính quyền Nam Vĩ Tuyến 17.

Trong thời kỳ chiến tranh, ở miền Trung và miền Nam, xe lửa chỉ hoạt động hai đoạn: Từ Trà Kiệu (Quảng Nam) tới Đông Hà (Quảng Trị), và từ Saigon ra Ninh Hòa (?), thuộc tỉnh Khánh Hòa.

Tổng thống Ngô Đình Diệm làm tổng thống kể từ 26 tháng 10 năm 1955, sau khi lật đổ Quốc Trưởng Bảo Đại 23 tháng 10 năm ấy. Bốn năm năm sau, đường xe lửa miền Nam được nối liền từ Saigon đến Đông Hà. Năm 1959, sau khi đường xe lửa ở miền Nam được “thống nhất”, ông Bộ Trưởng Quốc Gia Trần Hữu Thế ra “thăm” Huế bằng đường xe lửa. Tôi được lệnh ông hiệu trưỏng dẫn học sinh đi đón chào ông bộ trưởng ở Ga Huế, tặng hoa, cầm cờ hoan hô,v.v… và v,v...

Chương trình cải tiến “hệ thống hỏa xa” thời TT Ngô Đình Diệm là thay đường “rây” rộng 9 tấc như hiện tại thành 1m2 hay 1m4, tôi không nhớ rõ, mục đích là để an toàn hơn và xe chạy nhanh hơn. Ví dụ: hồi bấy giờ, chuyến xe lửa khởi hành từ Saigon “sáng hôm nay” thì mãi đến “chiều hôm sau” mới đến Huế. Theo dự trù, nếu thay thế bằng đường sắt rộng hơn, xe lửa Saigon - Huế chạy chưa tới 24 giờ đã tới nơi.

Chương trình nầy ở Saigon thì “ngoạn mục” hơn. Từ cầu Bình Lợi vào, xe lửa chạy trên không, không còn những “Cổng xe lửa số 6, số 10”… như tình hình lúc đó. Để tiện lợi, xe lửa có hai đường vô ra riêng biệt trong khoảng đường Bình Lợi - Ga Saigon.

Ga Saigon vẫn ở địa điểm cũ, ngay trước Chợ Bến Thành. Ga là một ngôi nhà 5 tầng lầu: Tầng trệt (đất) là bãi đậu xe. Tầng 1 là Ga, xe lửa đến và đi, hành khach lên xuống, v.v… Người nào “đói bụng, khát nước”, mời lên tầng hai, có chợ, phố, nhà hàng… Tôi không nhớ tầng 3 tầng 4 để làm gì, nhưng tầng 5 là “trụ sở “Bộ Giao Thông - Công Chánh”

Cũng từ Saigon, có đường xe lửa qua “Kho Tân Thuận” để vận chuyển hàng hóa xuất nhập cảng…

Chương trình nầy cũng cải tiến đường xe lửa Saigon - Lộc Ninh để vận chuyển Cao su, hay Saigon Đắk-Nông, để vận chuyển quặng “bô-xít nhôm”. Mỏ nhôm nầy được tìm thấy thừ thời Pháp thuộc nhưng chưa khai thác được.

Tôi không thấy có tài liệu phục hồi đường xa lửa Saigon - Mỹ Tho đã có từ thời Tây, và bị phá hủy thời Việt Minh.

(kỳ tới: “Sống chết với Đảng”

hoànglonghải

Tôi đi thăm một người bạn cũ, nói rõ hơn là một trí thức chế độ cũ, từng giữ một nhiệm vụ không nhỏ dưới thời VNCH. Anh ấy “học tập” chưa đủ ba năm, vì có người anh “đi tập kết” về bảo lãnh cho ra sớm, nên không đi HO được. Cuộc sống của anh ấy bây giờ cũng vất vả, tuy đã già.

Gặp tôi, anh ấy bảo: -“Ông Việt, anh vợ ông anh mầy, bán được căn nhà 9 ngàn lượng vàng. Trúng dữ.”

Tôi nói:

-“Tao nghe nói tới ông ta từ khi tao còn nhỏ, biết rõ gia đình ông. Ông ta theo đảng là phải, theo cách nghĩ của ông ta và gia đình ông.”

Ông bạn tôi chỉ cười, tỏ ý hiểu tôi.

Ông Việt, người làn An Tiêm, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Quảng Trị, hồi trước 1945, “nổi tiếng” có hai “làng Cộng Sản”: Làng Huỳnh Công (Đông), phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, làng của ông Trần Công Khanh, người đầu tiên làm Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Trung bộ, khi Việt Minh mới “cướp chính quyền”. Em gái ông là Trần Thị Biền bị Việt Minh xử bắn hồi ấy, vì “tội phản đảng”. Làng An Tiêm có anh em nhà ông Đặng Thí, Đăng Lang, “theo” Lê Duẫn, “dân Quảng Trị” với nhau, được làm to hồi trước 1975.

Ông Việt là anh của bà chị dâu tôi. Gọi là anh nhưng khác máu mũ, bởi vì người anh là con riêng của ông, chị dâu tôi là con riêng của bà, kiểu như người ta thường nói đùa “Con của anh, con của em đánh con chúng ta”, nên có máu mũ gì đâu!

Bố ông anh đi lính Khố Đỏ thời Tây còn cai trị xứ An Nam nầy, “đóng loon” đội, nên dân làng gọi là “ông đội”, vợ là “bà độì”. Khi “Nhựt đảo chánh Pháp”, lính Khố Đỏ bị Nhựt giải tán, ông về làng làm ruộng, giống như câu ca dao: “Mãn mùa cai đội hồi hương, trai vui về làm ruộng, gái bán buôn nuôi mẹ già”.

Ông có “vui làm ruộng” không thì tôi không biết, nhưng mỗi khi đi làm ruộng thì đi cả hai cha con: “Ông đội” và cậu con trai đầu của ông. Khi Việt Minh “cướp chính quyền”, cả hai cha con đều “theo cách mạng”. Ông đội mất sớm, người con tập kết ra Bắc năm 1954.

Có lẽ vì “theo cách mạng” nên tên của ông Việt thêm vào chữ “quốc”. Quốc là “nước”: Quốc Việt, - nước Việt Nam, giống như Hà Bá Cang vậy. Tên là Hà Bá (chuyên dìm người xuống nước cho theo vua Thủy Tề) thì đổi thành Hoàng Quốc Việt. Thêm chữ “Quốc” để tỏ rõ “lòng yêu nước”. Những người theo Việt Cộng phần nhiều như thế cả, “nổ dễ sợ”, nhưng có yêu nước hay không là chuyện tính sau.

Khi Saigon mới “giải phóng”, nghĩa là Trần Văn Trà mới ngồi trong Dinh Độc Lập, chưa nóng chỗ, thì ông Việt còn ở ngoài Bắc, gởi cho cô em gái ở Saigon một gói quà, gồm có hai cục “xà bông Thăng Long” và một cái khăn lau mặt hiệu “Điện Biên”. Bà chị dâu tôi nhận quà, mở ra xem rồi quẳng (ném) ra sân, trước mặt người đem quà, nói: “Thứ nầy con ở tui cũng không thèm dùng”.

Bây giờ thì người anh, “nhờ ơn Bác, nhờ ơn “Đảng”, có được 9 nghìn lượng vàng, còn người em gái thì qua đời ở xứ người vì bị “đột quị”, không một người thân, không chồng (qua đời trước), các con ở xa…

Tôi nói với người bạn:

-“Tài sản như thế thì không “theo đảng” thế nào được. Giả tỉ như hồi đó, Việt Minh không cướp chính quyền, nếu “không có đảng”, đời ông ta sẽ thế nào! Vẫn làm ruộng, vẫn “con trâu đi trước, cái cày theo sau”, làm sao có được chừng ấy lượng vàng để hưởng đời giàu sang.”

Bạn tôi nói:

-“Hồi mới “giải phóng”, anh thằng bạn “moi” là đại tá chế độ cũ, có người rủ ông ta “theo phục quốc”. Ông ta từ chối, bảo: “Người ta chiến đấu mấy chục năm, chết hàng triệu người, tốn bao nhiêu xương máu mới có cái kết quả ngày hôm nay, không dễ gì người ta nhả ra chia cho mình mà tranh giành.”

Tôi cười:

-“Vậy thì đây là một sự tranh giành. Tranh giành quyền lực. Có quyền lực thì có quyền lợi.”

-“Bây giờ là quyền lợi của ba triệu đảng viên, trên tài sản của chín mươi triệu dân, chưa kể “tiền rừng bạc biển”, “tất đất tất vàng”. Cứ đo đất mà bán cho “nước ngoài” là có tiền. Đánh đổ ba triệu đảng viên đó, để giành lại quyền lợi! Được không? Dù gì thì họ cũng “cố sống cố chết” để giữ đảng, giữ quyền lợi. Không dễ đâu!” Người bạn tôi nói.

-“Dù gì thì cũng phải chết sống giữ chín ngàn lượng vàng, phải không?! Biết mấy đời mới có lại được.” Tôi góp ý.

-Tôi chỉ cho “ông” thấy mấy điều nầy - Người bạn tôi nói - Thứ nhất, họ là người Cộng Sản, nghĩa là họ có “đủ cả”: Thủ đoạn, mưu lược, xảo trá, lường gạt, lừa phỉnh… Cái gì họ cũng hơn ta. “Văn hóa Dân tộc” và “Văn hóa Cộng Sản” đối nghịch nhau từng điều một, trăm phần trăm. Thứ hai, dân Bắc kỳ “Chí Phèo”. “Ông” có đối đầu được không? Ba là “Cách mạng triệt để”, làm là làm tới nơi, “cạn tào ráo máng”. “Ông” có chơi “cạn tào ráo máng” như kẻ thù được không? Tất cả là “Tán tận lương tâm”. “Ông” có làm điều “tán tận lương tâm” được không? Hãy nhìn lại mình đi rồi nói chuyện chống Cộng. Người miền Nam có được kinh nghiệm gì sau ba mươi năm chống Cộng?”

Người bạn tôi nói một hơi, như trút lên đầu tôi những điều anh ấy ấm ức bao lâu nay, vì còn ở lại trong nước, sống với Việt Cộng. Điều nầy làm cho tôi thoáng nhớ lại những cuốn sách “chống Cộng” mà tôi đã đọc trước 1975: “Trại Đầm Đùn” của Trần Văn Thái, “Về R” của Kim Nhật, “Ai có qua cầu” của Hà Lang, “Kẻ Nội Thù” của linh mục Raymonh De Jaegher, “Đêm hay Ngày” của Koestler và hay nhất, gần gũi nhất là “Đêm Giữa Ban Ngày” của ông Vũ Thư Hiên, “Hoa Xuyên Tuyết”, “Mặt Thật” của ông Bùi Tín, “Đèn Cù” của Trần Đĩnh, các cuốn tiểu thuyết của Dương Thu Hương. Và cuối cùng là câu tực ngữ “Ở trong chăn mới biết chăn có rận” và người bạn tôi đang trong cảnh “Đoạn trường ai có qua cầu…”

Nếu chỉ nói về quyền lợi, như cá tính của người Cộng Sản, trong cuộc “đấu đá” nầy, họ không bao giờ chịu thua, mặc dù họ chỉ có ba triệu đảng viên, phía đối thủ có chín mươi triệu dân.

Nhưng đây không phải là “đấu đá” bởi vì đã “đấu đá” thì có chính nghĩa gì đâu! Đây là cuộc tranh đấu, chín mươi triệu dân có chính nghĩa, bởi vì cái họ muốn nắm giữ là quyền lợi, là đời sống, là sự sinh tồn của dân tộc. Trong viễn tượng đó, dân chúng có lý tưởng, có ý chí, có chính nghĩa. Như người ta thường nói, “Chính nghĩa sẽ thắng”.

Dân chúng có chính nghĩa thật sự, rõ ràng, sáng tỏ. Còn người Cộng Sản bây giờ họ có chính nghia gì, lý tưởng gì?

Tuy nhiên, cuộc chiến đấu nầy không dễ thắng lợi. Dân chúng thì chỉ có ý chí, có lý tưởng, có lòng yêu nước. Khi nghe tin Miền Nam thất trận, Nguyễn Chí Thiện viết:

Cuộc chiến đấu nầy vẫn chưa phân thắng phụ

Ta vẫn còn đây và sắt thép còn kia

Chết chóc thầm âm, cốt nhục chia lìa

Ta vẫn sống và không hề lẩn lú!

Nhà thơ khẳng định “chưa phân thắng phụ” là vì ông đứng về phía dân tộc, phía chính nghĩa. “Ta vẫn còn đây” và “Ta vẫn sống” có nghĩa là dân tộc đang còn, đang sống, và sẽ có ngày quật khởi.

Với vũ khí từ bên ngoài đưa vào, trang bị tận răng cho các lực lượng “bạo lực cách mạng”, vậy mà Cộng Sản Việt Nam phải trải qua ba mươi năm mới giành được chính quyền, huống chi dân chúng chỉ có hai bàn tay không.

Tuy nhiên, không chỉ chúng ta ở hải ngoại, dân chúng ở trong nước vẫn tin chắc Cộng Sản sẽ sụp đổ. Dù ta phải trải qua sáu mươi năm, gấp đôi hời gian của Việt Cộng cướp chính quyền, thì thời gian chúng ta phải đi qua vẫn còn là ngắn.

Nỗi điêu linh của dân tộc Việt Nam chính là ở chỗ đó, Chính là Cọng Sản và lòng tham lam của chúng, chớ không phải ở lý tưởng gì cả./

hoànglonghải

(Kỳ tới: Hủ hóa giới trẻ)

Đến bây giờ Thăng Long nằm đợi chết
Đau lòng ta tiếng gọi dưới trăng thanh
Nước phá, nhà tan, muôn dân u uất!
Biết bao giờ lau sạch máu trên đầu?

                      (Hận Nam Quan – Hoàng Cầm)

Hủ hóa thanh, thiếu niên.

Người ta khó phủ nhận việc một số không nhỏ thanh, thiếu niên trong nước ngày nay ăn chơi sa đọa, khoe giàu, khoe của, vui chơi, hưởng thụ mà không có lý tưởng gì cả. Gần như đây là một “phong trào”.

Dĩ nhiên, không cần tới những nhà xã hội học, chính trị học… một người có trình độ kiến thức trung bình, có kinh nghiệm sống qua một vài chế độ, - chế độ cũ và chế độ Công Sản Việt Nam chẳng hạn - cũng thấy rõ đây là chính sách của nhà nước, chớ không phải khuynh hướng phát triển theo mặt xấu, tự nhiên của một xã hội phát triển quá nhanh, nảy sinh nhiều người giàu một cách mau lẹ, không đổ mồ hôi nước mắt, “ngồi mát ăn bát vàng”. (Câu tục ngữ nầy, Việt Cộng thường dùng để phê phán chế độ cũ.) Dĩ nhiên, bên cạnh những người giàu quá cỡ “nứt đố đổ vách” thì cũng lắm người không đủ chén cơm ăn mỗi ngày. Đó là “định luật tất yếu” của một xã hội bất công.

Trong chiến đấu, Việt Cọng cần thanh, thiếu niên tham gia đấu tranh, nói rõ là “tham gia bộ đội đi B”, - câu của họ đấy, dưới chiêu bài “giải phóng miền Nam”, cầm súng ra chiến trường, thực ra là để làm “bia đỡ đạn”, để “hy sinh” tuổi trẻ và cả cuộc đời của những người trẻ cho tham vọng của những tay lãnh tụ Cộng Sản ở Bắc Bộ phủ.

Câu Hồ Chí Minh thường tuyên truyền là “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên.”

Ngày nay, khi đã thâu tóm được miền Nam rồi, Cộng Sản Hà Nội không chia quyền cai trị đất nước cho ai được, ngay cả giới thanh niên đã chiến đấu cho họ. Họ giành độc quyền cai trị đất nước, thì phải “đẩy” thanh niên ra ngoài lề chính trị, bằng cách ru ngủ thanh, thiếu niên những thứ ăn chơi, hưởng thụ, thậm chí sa đọa, miễn cho đám chóp bu Hà Nội yên tâm nắm độc quyền cai trị đất nước.

Ai cũng biết việc cai trị đất nước là thuộc về toàn dân.

Liechtenstein có thể là quốc gia độc nhất trên thế giới không có chính quyền. Hằng năm, toàn thể dân chúng họp lại một lần để giải quyết việc nước, không cần có chính phủ, quân đội…

Dân chúng quốc gia nầy cai trị trực tiếp như vậy được là vì dân số chỉ quá ba chục ngàn dân. Những quốc gia có dân số lớn hơn, hàng triệu người, trên một tỉ người như Tầu như Ấn, thì người dân phải bầu người thay mặt ra cầm quyền cai trị. Những người cầm quyền cai trị đó ở trong ba ngành độc lập nhau. Một chính quyền như thế phải là của dân, do dân, vì dân.

Tuy nhiên, trong tình hình chính trị trước nay của nhiều nước trên thế giới, có nhiều nước theo chế độ quân chủ chuyên chế, chế độ độc tài, dân chủ giả hiệu và cũng có một số quốc gia dân chủ thực sự.

Dân chủ thực sự?

Mỹ có không?

Thật ra, từ một vùng đất bị Anh cai trị, các nhà cách mạng anh hùng đã xây dựng nước Mỹ thành một quốc gia dân chủ tự do thực sự, có lý tưởng, dưới ảnh hưởng của những tư tưởng về Tự Do, Dân Chủ của Thế Kỷ Ánh Sáng trong lịch sử tư tưởng Châu Âu.

Lý tưởng Tự Do, Dân Chủ châu Âu được những người di dân Mỹ thực hiện trên vùng đất mới ở Tây Bán Cầu, với cuộc chiến tranh giành độc lập qua những nhà lãnh đạo kiệt xuất của Mỹ như Washington, Jefferson, Adams…

Tất cả những công trình quân sự và chính trị của nước Mỹ thời lập quốc là nền tảng cho một nước Mỹ hùng mạnh, Dân Chủ và Tự Do bây giờ. Sau hai cuộc Thế Giới Chiến Tranh, nước Mỹ vượt lên nắm vị trí hàng đầu thế giới về nhiều phương diện, thì nước Mỹ ngày nay, nhìn chung, đang lùi dần. Lý Tưởng Dân Chủ Tự Do thời cách mạng đang “mờ nhạt” đi, hay “chệch hướng” như người ta thường nói.

Thật vậy, từ đầu thế kỷ 20 đến giờ, việc cai trị nước Mỹ dần dà nằm trong tay của những người làm chính trị chuyên nghiệp. Nó có nghĩa rằng có những người sinh ra để làm chính trị, cả gia đình làm chính trị, cả dòng họ làm chính trị, “cha truyền con nối”, một tập thể - có thể gọi là tập đoàn -  liên kết với nhau để làm chính trị. Chính trị, hay nói rõ hơn là việc cai trị đất nước là của họ. Họ nắm “độc quyền cai trị đất nước” dưới những chiêu bài tự do, dân chủ, dưới nhiều thủ đoạn để “qua mặt luật pháp”, “hợp pháp hóa” những hành động bất hợp pháp, v.v…. và v.v…

Tình trạng nầy đã tạo thế mạnh cho ông Obama đắc cử nhờ lá phiếu của giới trẻ dưới chiêu bài “Change” và sự đắc cử của ông Trump “ăn ngang nói ngược”, nhưng “trúng ý” giới công nhân lương thấp, công ăn việc làm bấp bênh, bất mãn vì nước Mỹ đang gặp nhiều khó khăn kinh tế…

Tình trạng “độc quyền chính trị” nầy ở nước Mỹ là cái “mẫu” cho Cộng Sản Việt Nam noi theo khi họ muốn giành độc quyền cai trị Việt Nam.

Đây là nhận định sai lầm nghiêm trọng và nông cạn của Cộng Sản Việt Nam. Con đường nước Mỹ đang đi tới trên hai trăm năm nay, kể từ khi giành độc lập, là con đường tự do, dân chủ rộng rãi và vững chắc. Có thể có một thời kỳ nào đó, nền chính trị Mỹ đi lệch hướng, “nghiêng” ra ngoài con đường chính ít nhiều, nhưng bởi vì nền tảng căn bản nước Mỹ là một nước được xây dựng trên nền tảng dân chủ, tự do; hiến pháp là trên hết, luật pháp được tôn trọng, thì sự chệch hướng sẽ được điều chỉnh, có khi sự “điều chỉnh” đó không kém phần gay go và đau đớn. Nước Mỹ sẽ lại tiến vững chắc trên nền tảng tinh thần của nó, mà cha ông họ đã dày công xây dựng từ mấy trăm năm nay.

Về phía nước Viêt Nam Cộng Sản thì ngược lại. Sự độc quyền chính trị của Việt Cộng chỉ có một hậu quả, - một hậu quả không thể tránh khỏi - là xô đẩy xã hội Việt Nam xuống cái hố thẳm của độc tài, áp bức, bất công, nghèo đói và sụp đổ.

Trở lại vấn đề nói từ đầu. Sự hủ hóa thanh thiếu niên Việt Nam ở trong nước hiện nay là sách lược của Cộng Sản Việt Nam. Kinh nghiệm “cách mang tháng tám”, kinh nghiệm “Nam bộ Kháng Chiến”, kinh nghiệm “Chín năm chống Pháp” và kinh nghiệm “xâm lăng miền Nam của Cộng Sản Bắc Việt” cho Việt Cộng thấy rằng chính vì biết “vận động” thanh niên mà Cộng Sản Việt Nam thành công.

Trong viễn tượng đó, trong tương lai, chính thanh niên sẽ là lực lượng có khả năng nhất, ưu thế nhất để lật đổ chế độ Cộng Sản Việt Nam. Với nhận định đó, Việt Cộng thấy cần phải phá nát, làm suy yếu, bạc nhược, trụy lạc thanh thiếu niên Việt Nam. Thực hiện những ý đồ đó, Cộng Sản Việt Nam mới có thể ngồi yên ở Bắc Bộ Phủ.

Cộng Sản Việt Nam biết rất rõ sách lược nầy là “con dao hai lưỡi”. Con dao đó có thể dâm chết dân tộc Việt Nam, nhưng đồng thời nó cũng có thể đâm thấu trái tim Việt Cộng.

Thực ra, sách lược làm hư hỏng thanh, thiếu niên như Việt Cộng đang thực hiên ở trong nước, không lạ gì với chính sách cai trị của thực dân Pháp khi họ còn cai trị Đông Dương.

Sau khi mẫu quốc đầu hàng Đức năm 1940 (25 tháng 6), thực dân Pháp ở Đông Dương thấy vị thế của họ ở đây yếu đi, có thể bị sụp đổ, nhất là trước tình hình Nhật đang tham chiến ở mặt trận Châu Á và chuẩn bị đem quân vào Đông Dương, và các “đảng phái cách mạng” hoạt động càng ngày càng mạnh mẽ hơn, thực dân Pháp cũng có chính sách hủ hóa, làm bạc nhược thanh, thiếu niên Việt Nam thời kỳ ấy, như Việt Cộng đang làm bây giờ. Cũng có thể nói khác đi, rằng Cộng Sản Việt Nam đang thực hiện những gì thực dân Pháp đã làm trước năm 1945.

1)-Ru ngũ bằng thuốc phiện. Thực dân Pháp cổ xúy người Việt Nam dùng thuốc phiện. Gia đình nào, trong nhà có bàn đèn thuốc phiện mới là nhà sang trọng, giàu có. Trong khi đó Tây nắm độc quyền buôn bán thuốc phiện để kiếm tiền. Tình trạng “xì ke ma túy” ở VN ngày nay như thế nào? Việt Cộng cố triệt tiêu hay nuôi dưỡng? Hỏi là trả lời đấy! Đây cũng là chính sách về rượu của thực dân Pháp.

2)-Ru ngũ thanh, thiếu niên bằng những tư tưởng, văn hóa lãng mạn, mơ mộng, thiếu thực tế, cổ xúy luyến ái tự do để được coi là người tiến bộ. Tiểu thuyết, thơ, nhạc… thực hiện nhiệm vụ cổ xúy vận động nầy.

Sau khi nắm chính quyền, Cộng Sản tấn công, đã phá, thậm chí cả triệt tiêu loại văn hóa nầy. Họ coi đó là sự đồi trụy. Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư đều phải phản tỉnh và học tập văn học mới, theo “đề cương văn hóa” do Trường Chinh lãnh đạo (thực chất là Trường Chinh “sao chép” lại tư tưởng Mao Trạch Đông).

Bây giờ, để ru ngủ thanh, thiếu niên, Việt Cộng “phục hồi” cái mà họ cho là “đồi trụy”, “phản động” trước kia. Tình trạng sách báo không thiếu những điều nhảm nhí, khiêu dâm, cổ xúy việc tiêu hoang, xài sang của “Hắc công tử” “Bạch công tử”… Nhạc vàng được tái sinh. Bolero được cổ xúy, khuyến khích… Trường hợp Nguyễn Văn Tý là cụ thể nhất: Ông phê phán bản nhạc “Dư Âm” của ông. Bây giờ, chính ông lại hồi sinh cho bản nhạc ấy.

3)-Thời thực dân, đại tá De Coiroix theo lệnh toàn quyền Jean Decoux phát động một “phong trào thể thao” trên toàn cõi Đông Dương. Điển hình là “đua xe đạp vòng quanh Đông Dương” (1) và phong trào bóng tròn (bây giờ trong nước gọi là bóng đá), với nhiều cuộc tranh giải. Mỗi tỉnh có ít nhất là 1 đội bóng tranh giải với các tỉnh khác. Phong trào bóng tròn khá sôi nổi và hào hứng, được đông đảo quần chúng hoan hô.

Thử nhìn lại trong nước, “bóng đá” đang được Việt Cộng vận động, cổ xúy mạnh mẽ. Mục đích của thực dân Pháp là để người dân ham mê bóng đá mà quên đi “Hờn mất nước” đi chăng. Thanh niên, tuổi trẻ cứ đá bóng đi, tranh giải bóng tròn đi, việc cai trị đất nước có thực dân Pháp “quản lý” thay cho người Việt.

Tình hình bóng đá trong nước hiện giờ có khác đi chăng?

Thắng một trận bóng đá, “dân Saigon” đổ ra dầy đường, từ trong hẽm nhỏ ra tới đường lớn, đại lộ, công trường, công viên, bất kể đêm ngày, giờ giấc. Chiêng trống inh ỏi, nồi niêu “soon” chão đánh lên ầm ỉ. Vui chơi, nói cười thỏa thích, “mừng thắng lợi”.

Thua một trận bóng đá thì kéo nhau ra quán nhậu “giải sầu”. Có người khóc to, có kẻ khóc thầm.

Vậy khi những người đi biểu tình vì bị mất dất, mất nhà; biểu tình “chống đặc khu”, bị đàn áp, bị đánh đập, bể đầu, sứt trán, bị trói, bị khiêng, quăng lên xe Công An như súc vật… hay có người ra tòa vì chống bất công, đời nhân quyền, bị kêu tù nhiều năm… Có bao nhiêu người rơi nước mắt vì họ?

Nhìn những cảnh nầy, tôi bỗng nhớ… một bài thơ của Tản Đà:

Nọ bức dư đồ đứng thử coi

Sông sông, núi núi khéo bia cười

Biết bao lúc mới công vờn vẽ

Sao đến bây giờ rách tả tơi

Ấy trước ông cha mua để lại

Mà nay con cháu lấy làm chơi

Thôi thôi đừng trách chi đàn trẻ

Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi

(“Vịnh bức dư đồ rách” - Khối Tình Con - Tản Đà)

Liệu tôi có thể như Tản Đà, không “trách chi đàn trẻ” được hay chăng?

hoànglonghải

(1) Trong “vòng đua Đông Dương, “Phượng Hoàng Lê Thành Các” là “vua leo đèo”, Vũ Văn Thân là “vua đường trường”. Ham đua xe đạp nhưng có quên “hờn mất nước” được đâu. Cũng như số đông thanh niên thời ấy, họ có tham gia “Nam Bộ kháng chiến”.

This post has already been read 120 times!

Related Articles

SỰ THẬT VÕ NGUYÊN GIÁP

Tôi đã nghiên cứu quyển hồi ký “Đường tới Điện Biên Phủ” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và từ hồi ký này tôi đã…

Bóng lá hồn hoa

Đã mấy tuần nay, thằng bạn không đến chơi. Tôi nghĩ hẳn nó đang đi xa với một người đàn bà nào đó vừa xoay…

Độc thoại

Cô vọng ngôn chi cô thính chi (Vương Ngư Dương) 15-9-1965 Thế rồi, tôi bắt gặp lại trong tôi một thoáng cảm giác, mảnh mai…

Cái chuồng khỉ

Qua khỏi một ngân hàng ngoại quốc ở đường Bến Chương Dương, tôi chỉ tay cho tài xế trực thẳng ra đường Hàm Nghi mà…

Thương nhớ An Giang vùng đất sơn kỳ thủy tú

Trên vùng địa lý của miền đất An-Giang ở phương Nam từ xưa cho đến nay, nếu không có được dòng chảy của con sông…

Responses

Leave a Reply

%d bloggers like this: