Kể chuyện

Mục lục

  • Tựa
  • Xuân An Hải
  • Răng đen
  • Dưa hấu Đồng Nai
  • Cọp hú
  • Thuỷ hoàng và thuốc trường sanh
  • Ngày chót của một nữ sứ quân
  • Nàng mọt sách
  • Những chuyện tiếu lâm về "quặp râu"
  • Đồng bào ơi, quả thật là đại biến

Tựa

Vào thế hệ của tôi, nhất là ở nơi cái xứ thuộc địa Nam kỳ, mà viết được tiếng mẹ, thật là một việc khá hiếm. Trong số khá hiếm nầy, số lớn nhờ cha anh đỡ đầu, như ông bạn già Đông Hồ; số nhỏ hơn nhờ gặp thuận cảnh mà tự học, như anh bạn quá cố Phan Văn Hùm. Sanh trong một gia đình nông dân nghèo, chẳng nhờ cha anh đỡ đầu, lớn lên, mặc dầu bạn tôi, anh Phan Văn Hùm, khuyến khích và chịu khó năn nỉ dạy không công cho tôi viết văn, tôi lại lười biếng. Thế mà tôi cũng được xem là có chân trong làng văn. Việc tuy lạ, song có nguyên nhân của nó. Bởi vì tôi học làm văn từ thuở bé tí hon, moi trong ký ức, có thể nói ngay từ lúc biết nghe, biết hiểu mà nói chưa rành.

Giáo sư dạy văn chương cho tôi là chị tôi, ngày ngày ầu ơ mấy lần để ru cho tôi ngủ; là mấy người chèo ghe bơi xuồng trong rạch, đêm đêm đối đáp nhau bằng những câu hát, bài ca; là tía tôi, một nông dân nghiêm nghị, đoan trang nhưng tài nói tiếu lâm tôi chưa gặp ai ăn đứt nổi, là mấy chú “Huế” theo ghe bầu đem cái giọng lớ lớ của đàng ngoài vào; là công gặt, công đập, khi nghỉ trưa đãi lẫn nhau một vài chầu trào phúng; là công thợ làm việc cho chủ đất tôi; và khi tôi biết đọc, là thơ, tuồng, truyện. Những giáo sư ấy tạo cho tôi có một sắc thái riêng biệt. Anh Hùm khuyên tôi học làm văn, để có thể “làm văn hào”. Tôi không cần cái danh dự văn hào, bởi tôi mến tiếc cái bản sắc nông dân của tôi. Đọc tiểu thuyết hay của các nước, tôi rất hiểu tiểu thuyết, mà chỉ bám vào lối văn “kể chuyện”. Triều Sơn thường phê bình tôi: “Óc tưởng tượng anh phong phú lắm. Anh mà rán lên, viết tiểu thuyết được, thì nước Việt Nam có thể đếm anh là một Dostoievsky hay một Tolstoi” Tôi không đáp. Tôi nhường danh dự làm Dostoievsky, làm Tolstoi lại cho người khác. Tôi chỉ muốn “kể chuyện” cho hoang đường, cho hóm hỉnh cho trào phúng và cho quê mùa, như những giáo sư văn chương của tôi mà thôi. Con nhà trăm anh thế phiệt, ông, bác, cha, anh thảy đều khoa hoạn, thì viết văn điêu luyện như Nguyễn Du, việc ấy hợp lý hợp tình. Con nhà nông như tôi, mà viết văn nông dân, việc ấy cũng hợp lý, hợp tình nữa.

Con vua, thì đặng làm vua,
Con sãi ở chùa thì quét lá đa.

Có cái văn tâm như thế, nên trong chín năm theo chủ nghĩa Mác–Lê, giáo điều của chủ nghĩa nầy dạy phải viết theo đường lối của “tả chân xã hội” (realisme socialiste), thà tôi nhịn viết văn, chớ tôi không chịu phản lại giai cấp của tôi. Trong cuộc tranh biện về “nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sanh” (1935), tôi đứng ngoài, vì trận thế lúc ấy không cho phép tôi binh vực thứ văn chương mà tôi mến. Cái văn tâm như thế đem những văn tứ “cổ điển” lại. Chuyện “ma”, chuyện thần tiên, chuyện hoang đường, chuyện tiếu lâm châm biếm… “cổ điển” là cổ điển của thứ văn chương nông dân ta vào thế hệ của tôi.

Về chuyện ma, kỷ niệm của tôi là kỷ niệm chung của tất cả, tất cả trẻ con Việt ở nhà quê. Một đêm tối om, bên cạnh ngọn đèn dầu leo lét, ba bốn người ngồi mà nghe kể chuyện, một thằng nhỏ giỏng tai nghe. Một lát nó nhảy vào giữa, run sợ. Mà càng run, thì nó càng có lý thú. Nhà văn gốc ở nhà quê, là Sơn Nam, có lẽ cũng có cái kỷ niệm ấy. Thế mà, vào nhà trường, học khoa học của Tây phương, thầy cấm đứa nhỏ ấy tin chuyện ma, cho đó là dị đoan. Năm 1924, học nội trú tại Cần Thơ, tôi ấm ức không được đi xem ma hiện về nhà của một ông giáo sư trung học dạy về khoa học. Chúng bạn đi xem rần rần, sáng vô lớp kể nhau chẳng ngớt những chi tiết của việc ma về. Ông giáo sư ấy nay còn sống và vẫn ở tại Cần Thơ. Ai có học trường trung học ở tỉnh lỵ nầy đều biết ông: Nguyễn Văn Trọng. Khi nhập vào chủ nghĩa Mác–Lê, thì giáo điều của duy vật luận biện chứng pháp lại càng nghiêm khắc với chuyện ma hơn nữa. Thế mà, sự thật lại khác hẳn. Năm 1932, nhà của một người bạn của Tạ Thu Thâu là trạng sư Blaquiere, ở đầu đường Taberd (nay là Nguyễn Du) xéo xéo Nhà thờ Lớn, lại có ma, dời bàn, khiêng ghế, dựng ván đứng lên, làm “trò khỉ” (mượn lời của cựu Thủ tướng Hương). Nhà Mácxít Tạ Thu Thâu tức quá, luôn ba đêm đến đó ngủ, để nghiên cứu bọn ma có quyền lực gì, mà làm cái công việc mười người lực lưỡng chưa chắc làm nổi… Nhưng mà quyền lợi của chủ nghĩa duy vật, mà chúng tôi đương vác cờ, không cho phép chúng tôi nói đến… Ít nữa là trước công chúng.

Năm 1930, tôi rời chủ nghĩa Mác–Lê. Ở tù bốn năm xong, tôi bị dời qua An Hải. Tết năm ấy, có hiện tượng “ma dấu”. Người bị ma dấu là một “cộng sản duy vật”. Sống việc ma dấu nầy, gần hai trăm người, mà kẻ duy vật là tối đại đa số. Phần đông, nay là “lãnh tụ” cả (Người bị ma dấu, lúc tôi bị án tử hình, còn gặp lại tại Côn Sơn, sau khi anh ra hoạt động trong mười năm, rồi bị bắt lại). Ra tù, có cơ hội viết, tôi thuật chuyện ma dấu nầy, không phải để thuật chuyện ma, mà cốt để tuyên bố rằng “nhà văn nông dân”, bấy lâu nay bị ràng buộc bởi giáo điều Mác–Lê, nay đã cởi mở hoàn toàn. Đó là một tuyên ngôn. Vì vậy mà bài “Xuân An Hải” được đăng ở địa vị của nó trong tập nầy. Từ ấy mà tha hồ “kể chuyện”, hóm hỉnh, trào phúng, châm biếm. Độc giả ắt nhận thấy nơi mỗi bài cái sắc thái “chuyện tiếu lâm” mượn một cái tứ xa xôi mà công kích một chuyện trái cựa.

Bài “Cọp hú”, là một bài chửi vào mặt bọn ăn tiền thực dân mà vọng ngoại, trở lại đánh đập kẻ đồng huyết thống của mình. “Răng đen” có mục đích tố cáo sự láo dối của thực dân, đồng thời châm biếm tục nhuộm răng của đồng bào ở Bắc… Đến như những “Chuyện râu quặp”, thì thú thật, là những chuyện do tía tôi kể, để nhạo những ai lập trang mà thờ bà còn sống. Riêng có bài “Nàng mọt sách” là một câu chuyện thần tiên mà tôi xây dựng ra để ca tụng thú vui của kẻ sống trong “vạn quyền thơ lâu”.

Khi bạn thân của tôi, là anh Đông Hồ, cho ra tờ Nhân Loại, tôi có đem cái tứ của câu chuyện thần tiên nầy mà hiến cho bạn, để cho bạn mở một loạt bài “Tóm tắt mỗi kỳ một sách hay” và ký cái tên mới là Nàng Mọt Sách. Ngay trong số I (8-VI.1953) chị Mộng Tuyết, thất tiểu muội, đã kể lại cái tứ, và đánh dấu nguồn gốc của tứ bằng nhân vật Hồ Sinh. Văn của chị Mộng Tuyết rất điêu luyện, do đó mà mất sắc thái quê mùa, nên chỉ năm 1955, Hồ Sinh thuật lại trên mặt của Truyền Tin. Vậy nhờ Mõ Làng Văn rêu rao cho làng hay rằng, mười năm đã qua, chị Mộng Tuyết không kiện Hồ Sinh về tội “đạo tứ”, thì ngày sau, có ai buộc tội cho Hồ Sinh về “đạo văn”, thì oan cho Hồ Sinh lắm lắm.

Nay gom một mớ chuyện kể, đã in từ 1948 đến 1955 - rất tiếc là tôi không tìm lại được quyển sách con Quả trứng thần [1] trong ấy còn chép nhiều truyện cổ tích thần tiên - mục đích của tôi là lập một cuộc lễ tạ ơn những vị giáo sư đã dạy tôi viết văn nhà quê, hoang đường, hóm hỉnh, trào lộng và châm biếm, đặc biệt của nông dân miền Tây vào đầu thế kỷ XX nầy.

Sài Gòn, I-VI-1965.

Xuân An Hải

Kể ra tôi đã ăn được nhiều cát Tết ly kỳ, ngoài những Tết như mọi người, với pháo tạch đùng, với quần áo mới, với ăn uống ngỏa nguê, tôi còn sống những cái xuân lạ lùng. Cần chi đến những cái; một cái thôi, cũng đủ làm cho đời người khác thường rồi.

Có cái xuân ở Pháp, anh em hội lại gây lấy bầu không khí nước nhà, rồi có người – nay cũng là tai mắt của xã hội – đứng lên ca một bài Tứ đại giọng xưa không nhịn cười được.

Lại cái xuân cũng ở Pháp, một lần ăn Tết mà không có tiền đã hơn hai ngày rồi, mà ngày ấy, mừng ông bà bằng nước lạnh, khi mà ngoài trời tuyết rơi trắng đất.

Cũng cái xuân trốn tránh không cho người biết nhà, thế mà có năm gã thanh niên yêu văn rình theo được, hôm ấy lén đến “dâng” cho một bó hoa với mấy cái bánh chưng.

Và cũng trốn tránh mà không tiền vì không muốn cho hai bên hàng xóm để ý, phải bắt chảo, bỏ nước vào cho nó nổ xèo xèo, tỏ ra nhà mình cũng ăn Tết bằng những cao lương mỹ vị!

Cũng có những cái xuân ở khám lớn, bà con ở ngoài gởi đủ món ăn vào, làm tiệc ê hề rồi anh em bay ra hát bội, cải lương, múa lân đấu võ, thú vui còn gấp mấy lần ngoài “đời”.

Và trong cảnh tù tội ở Côn Đảo, ăn Tết mà bị còng chân cả tháng bên cạnh nhà văn Phan Văn Hùm, tha hồ buông tư tưởng đằng phi trong lãnh vực thơm tho của văn chương nghệ thuật, khi mà lỗ mũi để khít bên mấy cái ti-nết không đậy nắp. Có cái xuân vừa bị bắt trong một cuộc hành quân, đưa về Hà Nội sau cuộc đánh nhau 19-12-1946, trong túi vắng hoe, đến không có một mảnh mù soa, trong lúc mà ăn gạo hai ngàn rưởi một tạ và ngoài đường không có bóng người đi…

Nhưng không có một cái Tết nào để vào tâm hồn tôi một ấn tượng mãnh liệt bằng cái xuân ở An Hải. An Hải là tên một cái làng xưa ở Côn Đảo. Nay làng ấy không còn, bởi vì thường dân không được ở ngoài ấy nữa. Tuy vậy, hãy còn một vài di tích như mấy cây dừa sống đã hơn trăm năm, như cái miểu Bà mà người ta trùng tu mãi mãi, hoặc mấy cái nền nhà xưa…

Làng An Hải không còn nhưng nơi ấy vẫn được kêu là An Hải và làm trại giam những tù lưu. Năm 1943, trại giam dời vào nơi ấy. Và khi tôi ở mãn hạn tù bên Côn Lôn, thì bị đưa lội bộ bốn cây số vào trại giam An Hải nầy. Đời trại giam không cần phải kể. Vả lại, bài nầy là thuật cái xuân ở An Hải mà thôi. Vậy hãy bước ngay vào đề.

Ở tù thì biết lúc nào mãn! Ở trại giam lại càng không biết hạn. Ngày mai, cũng phải, trọn đời không biết chừng. Nên năm ấy anh em định tổ chức một buổi ăn Tết thật long trọng để quên bớt những cảnh khổ. Nào đốn đủng đỉnh