Lột trần Việt ngữ

Chương II - Việt ngữ đa âm trước Mã Viện

Ta đã thấy rằng vua Hùng Vương, Hai Bà Trưng không nói Tôi, Cá, mà nói AI, AKA, và nếu ta biết rằng luật Swadesh đúng, thì ta không phải ngạc nhiên nữa.

Nhưng ta cần thêm chứng tích. Việt ngữ nằm trong đại khối Mã Lai ngữ, mà các nhà ngữ học đều cho rằng Mã Lai ngữ đa âm vì ảnh hưởng Ấn Độ tại Nam Dương thì làm thế nào mà Việt ngữ ở lưu vực Hồng Hà, không thọ lãnh ảnh hưởng Ấn Độ, lại đa âm được.

Chúng ta sẽ thấy rằng Mã Lai ngữ đã tự động đa âm hoá trước khi một số người Mã Lai di cư đi Nam Dương, ngược hẳn với quan niệm thông thường. Thế thì Việt ngữ cũng có thể tự động đa âm hoá được. Về chủ trương này, tưởng không cần phải chứng minh. Ta nói CÁM ƠN là nói tiếng Tàu. Người Khả Lá Vàng nói tiếng Việt cổ thời là TÔWAYKÔ, tức nói với tam âm. Một số người Đa Đảo cũng nói Tôwaykô. Đó là kẻ đã nói Ai, nói AKA.

Nhưng ta cần càng nhiều chứng tích càng hay. Ta thử nghiên cứu biểu đối chiếu dưới đây:

Việt Nam: XINH
Ra Đê: MSIN
Đa Đảo: SINI
Miền Dưới: ASAM ASIN
Chàm Bình Tuy: SAM
Nhật Bổn: SHAN

Theo nghĩa đen thì Asam Asin chỉ là CHUA MẶN. Tĩnh từ kép của Miền Dưới được dùng theo nghĩa bóng. Nhan sắc Chua Mặn là nhan sắc dễ ưa, tức XINH.

Các cô Sài Gòn thích ăn cóc ngâm nước muối, các cô gốc Hà Nội thích ăn ô mai thì phải chăng của Chua Mặn là của dễ ưa?

I – Các dân tộc đều độc âm hoá cái tĩnh từ vừa kép vừa nhị âm này và chỉ nói Mặn mà thôi, người Nam Dương thì còn giữ đúng hai từ.

II – Chàm Bình Tuy và Nhựt biến cái Phonème SIN khác xa Phonème gốc nó phải là ASIN, SIN, hoặc XINH hoặc SINI.

III – XINH của Việt Nam và SHAN của Nhựt Bổn đã bị quên nghĩa đen, còn các dân tộc khác thì còn nhớ cả hai nghĩa.

IV – Tại sao Việt và Nhựt lại quên? Vì họ tân tạo hai tính từ mới để diễn nghĩa đen là MẶN và SHIO và danh từ mới được dùng lối 200 năm là danh từ cũ chỉ còn mang nghĩa bóng.

V – Tại sao họ lại tân tạo tĩnh từ thứ nhì? Vì một tĩnh từ chỉ hai ý niệm thì không hay, thường gây rắc rối. Riêng Việt Nam, tân tạo MẶN rồi thì lại tân tạo MẶN MÀ nữa, và cũng cứ dùng tĩnh từ mới theo nghĩa bóng, có lẽ Mặn Mà còn non tuổi cho nên ta chưa kịp quên nghĩa đen của Mặn Mà.

Chúng tôi nói rằng Việt và Nhựt quên nghĩa đen của XINH và SHAN, chắc không ai tin. Nhưng ở cuối Chương quí vị sẽ thấy rõ là dân tộc nào cũng đã quên hàng ngàn danh từ cổ của họ. Việt Nam may mắn nhất thế giới là đại khối Mã Lai còn giữ được và tục ngữ ca dao ta còn nằm đó để làm chứng. Hễ trong tục ngữ ca dao có danh từ nào ta không hiểu thì ta cứ học các sinh ngữ quanh ta là hiểu ngay. Thí dụ không còn ai biết BÍT là gì nữa, cả trong câu tục ngữ MÂN SON BÁT BÍT. Nhưng còn hai trăm triệu người đang dùng mạnh danh từ đó. Đó là danh từ Mã Lai BIKA có nghĩa là SỨ. Đồ Sứ là tiếng Tàu mà ta vay mượn sau Mã Viện rồi quên Bít đi. Đó là luật Swadesh. Không có Mã Viện, ta vẫn quên một số danh từ như thường.

Cái may là các dân tộc gốc Mã Lai không quên giống nhau, hễ Nam Dương quên thì ta nhớ, ta quên thì Nhựt nhớ, nhưng ta may hơn họ là ta có học ngôn ngữ của họ còn họ thì không học ngôn ngữ của ta. Hiện ta rất bí về BÚA trong CHỢ BÚA. Nam Dương thì biết Búa là gì. Trái lại họ rất bí về CON CHIM MÚA (con Công) bởi họ đã mượn động từ Múa của Mã Lai. Nhựt Bổn lại rất bí về KI trong KIMONO, nhưng ta thì biết KI là gì. Ta rất bí về MAY trong MÁU MAY, nhưng Nhựt Bổn biết rõ MAY là gì.

Nhưng đó là chuyện về sau. Xin trở lại điều đối chiếu. Ta nghiên cứu tĩnh từ Asam. Asam là Chua, như đã nói (xưa kia ta cũng có Asam, nhưng ta đánh mất. Nam Dương còn giữ được cả hai Asam và CHUKA). Nhưng thật ra thì hồi cổ thời, nó chỉ là SAM. (Xin đừng lẫn lộn Sam này với SAM của Chàm Bình Tuy có nghĩa là Mặn).

A chỉ là tiếp đầu ngữ mới được thêm sau.

(A) sam = Trái chua
(Ma) sam = Giấm chua
(Ba) sam = Sữa chua (Yaourt)

Mỗi món chua, mỗi mang một tiếp đầu ngữ khác nhau. Thế thì Mã Lai ngữ xưa kia chỉ là độc âm. Việt ngữ cũng thế. Nhưng nó đa âm từ thời nào, có phải chăng là vì ảnh hưởng Ấn Độ?

Chúng tôi giải quyết rằng nó đa âm thuở dân Mã Lai chưa di cư đi Nam Dương. Ta nghiên cứu lại tĩnh từ ASAM ASIN thì rõ. Họ nói ASAM ASIN, nhưng họ cũng nói ASAM GARAM. Garam là Muối. Nhan sắc chua mặn hay chua muối, cũng thế thôi.

Biết danh từ MUỐI của họ rồi, biết thêm văn phạm của họ nữa thì một sự kiện vô cùng quan trọng sẽ lộ ra. Muốn diễn cái ý niệm BỎ THÊM MUỐI VÀO, họ không nói BUBỎ GARAM (Bubỏ = Bỏ thêm vào), mà thêm tiếp vĩ ngữ I, hoặc UI, nó hoá ra là GARAMI, hoặc GARAMUI.

Nếu họ đi Nam Dương rồi mới đa âm hoá thì ta đào đâu cho ra vĩ ngữ MUI để giữ lại hầu biến thành MUỐI, sau khi ta bị Mã Viện độc âm hoá?

Hình như quí vị không tin lối giải thích đó. Chúng tôi xin giải thích một cách khác nữa.

Người Chàm đã tự động và tự lực đa âm hoá từ lâu đời lắm rồi. Họ có tiếp đầu ngữ MƠM, MƠNG có nghĩa là LÀM và bị ta vay mượn, biến thành MẦN: “Mi nói rứa, ta biết mần răng bây chừ?”

Có lẽ quí vị lại bác: "Chính người Chàm cũng thọ lãnh ảnh hưởng Ấn Độ từ đầu Tây Lịch”.

Chúng tôi chỉ mong cho quý vị bác như thế để đưa luận cứ lớn ra. Người Chàm Bình Tuy nói độc âm. Từ hai ngàn năm nay, ảnh hưởng Ấn Độ thừa thì giờ để tới Bình Tuy chớ không phải chưa kịp xuống Bình Tuy. Thế thì có phải chăng là ảnh hưởng Ấn Độ hoàn toàn không chi phối ngôn ngữ Chàm? Trong biểu đối chiếu, chúng tôi cố ý dùng danh từ Bình Tuy là SAM để quý vị thấy ngay rằng người Chàm Bình Tuy nói độc âm. Bao nhiêu âm của Chàm, đều bị Chàm Bình Tuy nuốt hết, chỉ chừa lại một âm độc nhất, bất kể ảnh hưởng Ấn Độ.

Người Chàm Bình Tuy không phải là người Chàm chăng? Đúng thế vì biên giới Chiêm - Phù Nam nằm tại Bắc Khánh Hoà Nhưng cả Phù Nam lẫn Chàm đều là Lạc bộ Mã, nói y hệt với nhau và đều thọ lãnh ảnh hưởng Ấn Độ cùng lúc với nhau. Quốc tịch chẳng liên hệ gì với vấn đề. Vấn đề là có ảnh hưởng Ấn Độ hay không và ảnh hưởng đó có chi phối ngôn ngữ hay không?

Người Cao Miên cũng cùng chung số phận với người Chàm, những ngôn ngữ có bao giờ đa âm hay không?

Ta có thể kết luận mà không sợ sai lầm rằng một số người Mã Lai đã tự động và tự lực đa âm hoá ngôn ngữ của họ trước khi họ di cư đi Nam Dương. Việt ngữ ở trong khối đó, nên vua Hùng Vương mới nói AI, AKA, TÔWAYKÔ.

Hiện tượng sau đây trong Việt ngữ cũng là một chứng tích hùng biện tiết lộ tánh cách đa âm của Việt ngữ trước Mã Viện. Tất cả danh từ kép của ta đều gồm hai từ đồng nghĩa với nhau, không khác một nét.

Nhiều học giả, nhiều nhà văn phạm cứ chủ trương rằng từ thứ nhì trong danh từ, tĩnh từ kép của ta hoàn toàn vô nghĩa, chỉ thêm chơi cho êm tai. Thí dụ CÂY CỐI, MÚA MAY vân vân.

Ta quên hàng ngàn danh từ cổ. Khi ta lật quyển Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc thì ta thấy có vô số danh từ mà ta không hiểu, như MÂM SON BÁT BÍT đã viện dẫn đến khi nãy.

Có quả thật CỐI vô nghĩa hay không trong CÂY CỐI ? Không. Chủng Mã Lai có hai danh từ chỉ CÂY.

Khả Lá Vàng: KI
Mạ: KI
Nhựt Bổn: KI
Việt Nam: CÂY
Miền Dưới: KÂYU
Đa Đảo: KAIWI (ĐẢO FUGUSON)
Ra đê: KIÂO

Nhưng đồng thời họ cũng có:

Ngô, Việt, Sở: BÔ CỐC
Miền Dưới: BÔ CỐC
Việt Nam: CỐI
Nhựt Bổn: BÔKU
Đa Đảo: BUKÔ

Vậy CỐI chỉ là Cây, không hề vô nghĩa bao giờ hết và nó là danh từ thứ nhì của chủng tộc.

MAY cũng không vô nghĩa. Trong Nhựt ngữ MAI (I cụt) đích thị là MÚA. Và MÚA MAY cũng có nghĩa hẳn hoi. Nhưng MAY còn nằm trong ngôn ngữ ta, mặc dù ta không dùng động từ MAY nữa. Gió HEO MAY, là gió gì? HEO là biến dạng của HIU (hắt) còn MAY là MÚA. Gió đó LÀM MÚA cây cỏ dữ lắm, bằng vào câu tục ngữ: “Gió heo may chẳng mưa thì bão.”

NỘI là gì trong ĐỒNG NỘI? NỘI cũng chưa biến mất, nhưng tuổi trẻ ngày nay tuyệt đối không biết, nếu họ không có đi học, không có nghiên cứu truyện Kiều.

NỘI chỉ là ĐỒNG mà thôi. Đó là danh từ của Lạc bộ Trãi, được dùng mạnh ở Nhựt Bổn, dưới hình thức là NÔ còn ở xứ ta thì hầu gần như bị quên.

Danh từ cũng có đời sống như sinh vật, có sinh, bịnh, lão, tử, thế nên mặc dầu không bị ảnh hưởng ngoại lai, cũng có thể mất, bằng chứng là Nguyễn Du chỉ mới đây thôi, thế mà người đã dùng mạnh danh từ NỘI, còn ta thì đã hết dùng danh từ đó rồi.

Nhưng Tây lại không hề bắt ép ta bỏ danh từ NỘI. Chính luật Swadesh đã chi phối tất cả. Khi chúng tôi nói rằng ta bị độc âm hoá sau Mã Viện là chúng tôi chỉ mượn thời Bắc thuộc để chỉ thời điểm chứ không có ý gì đổ lỗi cho Mã Viện cả đâu. Vả lại Mã Viện chỉ có mặt mấy năm rồi đi mất thì làm sao kịp thi hành biện pháp sâu rộng nào. Nhưng quả ta đã bị nhiễm ảnh hưởng độc âm của người Tàu khi ta tiếp xúc lâu dài và nhất là theo học với họ.

Nhưng tổ tiên ta đã nhiễm bịnh nhưng vẫn còn nhờ dấu tích tiền nhơn mà họ hoài cổ khi họ tạo ra danh từ kép để nuôi nấng cái ảo tưởng rằng họ còn đa âm như trước đó.

Một danh từ gồm hai từ hoàn toàn đồng nghĩa là một chế tạo rất vô lý. Nhưng tổ tiên ta không vô lý. Họ chỉ tạo ảo tưởng đa âm khi chợt thấy là họ bị độc âm, và chợt ngậm ngùi nhớ xưa.

Không còn ai biết NHỎ NHOI là gì cả. Nhưng những người thạo tiếng Thái thì hiểu, nếu họ chịu nghiên cứu. NOI là NHỎ trong Thái ngữ. Chẳng còn ai biết Sá là gì trong ĐƯỜNG SÁ. Nhưng khi ta nói ĐÀNG SÁ thì Nam Dương nói TÀNG SÁNA. Sána là hướng, là phía của con đường.

Chẳng còn ai biết BÚA là gì cả trong CHỢ BÚA nhưng Miền Dưới biết rất rõ. BÚA là HỚ trong giá cả. Chợ búa là nơi con người thường mua hớ.

Chúng tôi bắt được dấu vết độc âm hoá của Việt ngữ, nó gồm năm phương pháp sau:

I) Ta tách đôi một danh từ Mã Lai ra làm hai âm khi nào danh từ đó mang hai nghĩa. Thí dụ KAYA, Kaya được người Miền Dưới dùng với cái nghĩa là LỚN như BIỂN CẢ, NGHIỆP CẢ, và GIÀU.

KA/YA = Cả + giàu

Với KA, ta chỉ thêm dấu hỏi. Nhưng với GIÀU thì ta thêm cả một nguyên âm U.(Về phương diện Phonnème thì YA giống hệt GIA nên kể như YA không bị biến dạng).

Chúng tôi cho rằng ta nói tiếng Mã Lai đúng hơn người Chàm, không ai tin cả, kể cả người Chàm cũng không tin. Nhưng trong Chàm ngữ thì KAYA là QUÀ BÁNH chớ không có gì là CẢ là GIÀU hết như trong Mã ngữ và Việt ngữ. Còn giàu của Chàm là MƠ TÀ.

Trái lại ta với Nam Dương thì đã giống hệt nhau ở KAYA lại giống hệt nhau ở Quà:

Việt Nam: Quà
Nam Dương: Kúé

II) Ta tách đôi một tiếng Mã Lai để làm một danh từ Kép mà từ thứ nhì hoàn toàn vô nghĩa vì danh từ Mã Lai ấy chỉ mang có một nghĩa. Thí dụ KUYU.

KU/YU = Cù Dù = Buồn thảm

Tuy nhiên rồi ta vẫn cố cho nó một nghĩa,

KU/YU = Cú Vọ

Chúng tôi không bao giờ thấy con Vọ. Vài cụ tả thì ra đó là con chim mèo (Chat huant) và Vọ chỉ được sáng tác bâng quơ rồi gán đại cho một con chim đã có tên rồi.

III) Ta tách hai một danh từ Mã Lai và lần này thì ta không còn làm sao mà gán từ thứ nhì cho ai được nữa, ta đành để nó vô nghĩa thực sự. Thí dụ: LƠ LÀ.

Lo/lai = Lơ là (là vô nghĩa)

IV) Ta nuốt hết tất cả mọi âm của Mã Lai khi nào danh từ mang ba âm sấp lên và chừa lại một độc nhất:

Kơmarau = Ráo

Kơma đã bị nuốt chửng, chỉ còn lại cái đuôi Rau ( Ráo.

Tơmbikar = đồ sứ

Tơm và Kar bị nuốt chửng chỉ còn lại khúc giữa BIK ( BÍT (mâm son, bát bít)

V) Ta dịch khi nào danh từ Mã Lai là một danh từ kép mà trong đó gồm hai từ chung cho Trãi và Mã. Cái từ riêng ấy bị ta thay bằng một từ riêng của Trãi. Đây là trường hợp ngộ nghĩnh hơn hết trong các phương pháp độc âm hoá.

Thí dụ danh từ SOAN (cây soan). Danh từ ấy dưới thời Hai Bà Trưng không có giản dị như thế đâu.

Trong quyển Tục ngữ phong dao, ông Nguyễn Văn Ngọc ghi câu tục ngữ sau đây:”Ăn cây táo rào cây soan đâu” rồi thì ông đánh một cái dấu nơi chữ ĐÂU, chua ở dưới là ĐÀO. Thế nghĩa là ông đã quên ĐÂU là gì, và chua như vậy là một lối giải thích riêng của ông. Nhưng đáng kính ông lắm là ông đã ghép y như đã nghe thiên hạ nói chứ không tự ý sửa đổi. Nếu ông đã sửa đổi thì từ năm sách này ra đời đến nay, 40 năm đã qua rồi, chưa chắc câu tục ngữ ấy còn được ai nói đến nữa và dấu cũ đã bị xoá.

Nhưng dấu cũ còn và ta sẽ biết SOAN ĐÂU là cái gì. Chữ ĐÂU đã bị miền Bắc sửa lại là ĐẤU (chung lưng đấu cật) Nhưng nếu miền Bắc không sửa, còn nói là ĐÂU như miền Nam, thì cũng không ai biết SOAN ĐÂU là gì. Nhưng học tiếng Nam Dương rồi thì biết cây soan, Nam Dương gọi là : KAYU ĐOAN MAMBU.

MAMBU là Nhỏ và ĐẤU LẠI (Feuilles composées) vì có một loại soan có lá như thế. Còn Đoan là danh từ thứ nhì của chủng Mã Lai, chỉ LÁ, mà ta đã đánh mất.

Vậy cây soan đâu là cây lá nhỏ và đâu (đấu) lại. Ta biến KAYU thành CÂY, ĐOAN thành SOAN, MAMBU là tĩnh từ riêng của Lạc bộ Mã, nên ta không dùng, mà dịch là ĐÂU, ĐÂU có nghĩa tương đương với MAMBU.

Nhưng khi SOAN đã bị quên rằng là LÁ thì không còn ai biết ĐÂU, ĐẤU là gì nữa hết, cho dẫu nó ở dưới hình thức nào đi nữa.

(Tên của loại cây ấy có một lịch sử rất ngộ nghĩnh qua ba hình thức sau đây:

Cao Miên: So Đau
Miền Nam: Sầu Đâu
Miền Trung: Sầu Đông

Vậy, ai học của ai? Thấy rõ là Cao Miên đã học của Việt Nam, hay của Phù Nam hồi cổ thời vì Phù Nam có ngôn ngữ như Nam Dương. Ta biết được rằng chính họ đã học vì hai tiếng So Đau của họ chẳng có nghĩa gì dính líu đến LÁ và ĐÂU cả. Đó là họ mượn âm đọc chứ không phải dịch mà cũng không phải là đồng gốc.

Nhưng miền Trung và miền Nam thì rõ là đã học của Cao Miên, vì SOAN ĐÂU không thể biến thành SẦU ĐÔNG, SẦU ĐÂU, mà SO ĐAU của Cao Miên thì có khả năng đó.

Chúng tôi tạm xem như Cao Miên học của Phù Nam, còn miền Trung thì học của Cao Miên; qua đèo Mụ Già, hồi nước Cao Miên còn ở Trung Lào).

Dân ta đã quên Việt ngữ hết. Chúng tôi đối chiếu PRI của Mạ và Rừng của ta, trong quyển sử, đã bị công kích dữ. Nhưng cứ lật Nguyễn Văn Ngọc mà xem:

Miệng tu hú ăn lở rú lở ri.

Phải chăng RI là tiếng Việt cổ có nghĩa là Rừng?

Chúng tôi cho rằng VĂN LANG do CAU SỌC mà ra, cũng bị chê là nguỵ biện. Nhưng tại sao MO CAU không gọi là Mo Cau mà gọi là MO NANG? Vì tổ tiên ta gọi Cây Cau là Cây Nang. Danh từ Cau chỉ mới có đây thôi vì luật Swadesh.

Thương Việt: PƠNANG
Chàm: NÂNG
Nam Dương: PINANG
Cổ Việt: NANG

Còn sọc thì

Nam Dương: BƠ LANG
Thương Việt: VLANG

 

Nam: VẰN
Bắc: RẰN

Ta biến thành

Văn Lang: Nang Vlang = Cau Sọc

Bị các nhà nho cho ký hiệu Con trai xâm mình.

Cứ lật Nguyễn Văn Ngọc ra là học được hàng tá danh từ Mã Lai, Nhựt Bổn, Trung Mỹ.

Cô kia có tính dở hơi
Nấu cơm ra cháo, nấu khoai ra bù.

Chẳng ai biết BÙ là gì cả kể cả Tự điển Khai trí Tiến đức. Bù là cháo. Cháo là tiếng Tàu nó đã đẩy Bù ra khỏi Việt ngữ sau Mã Viện, nhưng Bù cứng đầu, di cư vào Trung và Nam dưới hình thức Bồi = Cháo đặt.

Mạ:
Churu:
Lào:
Kôhô:
Sơ Đăng :
Cao Miên: BOBO
Nam Dương: BÙBO
Nam Việt: (CHÁO) BỒI

Nguyên nhơn làm mất ngôn ngữ chỉ xảy ra ở Bắc Việt dưới thời Lê Trịnh. Lưu dân đi Trung, đi Nam cứu vãn được khá nhiều danh từ mà GHE là một.

Có người đưa ra câu hỏi sau đây: "Tiếng ta vốn đa âm, nhưng đã bị chận đứng sau Mã Viện. Bây giờ có nên tái khởi hành cho nó đa âm trở lại hay không?”

Câu hỏi này, tưởng không nên đặt ra vì quyền lực ở trong tay dân chúng, chớ không ở trong tay ta. Nếu họ muốn thì họ cứ cho đa âm, bằng không, ta không làm sao mà bắt ép họ được.

Nhưng chủ trương sau đây thì nên chận đứng: Bỏ gạch nối liền, viết dính các danh, động, tĩnh từ kép lại.

Ta nên chận đứng nó vì nó sẽ làm cho ta bối rối lắm, không còn biết đầu đuôi ra sao nữa, trong vài chục năm tới, cái hoạ mà hiện Nhựt đang mắc phải.

Ta thấy, mặc dù có những danh từ viết dài, người Nam Dương không bao giờ viết dính các danh từ ngắn của họ. Thí dụ: XÀO XẠC thì cứ là SOK-SEK; CHUA MẶN thì cứ là Asam Asin, để còn biết ngữ căn ở đâu. Họ làm y hệt như Tây, dùng tiếp đầu ngữ, tiếp vĩ ngữ, nhưng chỉ có vài cái như Pháp. Thí dụ Pháp có tiếp vĩ ngữ ABLE chỉ sự có thể được thì Nam Dương có AN, dùng hoài hoài, trong mọi trường hợp:

Makan = Ăn
Makan + an = Ăn được

Thế nên nhìn vào một từ dài là họ biết ngữ căn ra sao rồi.

Nhật Bổn thì trái lại, làm hệt như đề nghị của Việt Nam trên kia, nên giờ có lắm tiếng dài họ quên mất nghĩa của các phần tử hợp thành.

Thí dụ trong Nhựt ngữ, cần lấy động từ Makan mới xong. Nhựt đã đánh mất động từ ấy của họ, chỉ còn giữ được trong môi trường hợp độc nhất là MAKAN - AI có nghĩa là THỰC PHẨM. Nhưng AI lại không phải dùng hoài hoài để chỉ phẩm chất, thành thử nhìn vào MAKANAI họ không biết nó do đâu mà ra nữa. Đó là hai từ Makan và Ai bị viết dính, và khi quên nghĩa của một, thì chẳng biết nghĩa của từ khác.

Trường hợp điển hình là hiện họ đang bí về phần tử KI trong KIMONO, y hệt Việt Nam bí về BÚA trong CHỢ BÚA, và Nam Dương bí về MÚA trong con CHIM MÚA.

Họ biết MONO là MÓN, nên họ dịch ra tiếng Tàu là Vật. Thế thì KIMONO là hai từ rời được viết dính, nhưng không theo luật nào cả nên họ quên mất KI là gì, và dịch càn là MẶC. MÓN MẶC thì rất ổn, nhưng đó là dịch vì đoán hiểu chớ không phải vì biết, vì ở các chữ KI rời, không hề có chữ KI nào được dịch là MẶC hết vì cái lẽ dễ hiểu rằng KI không bao giờ có nghĩa là MẶC trong Nhựt ngữ.

Nghiên cứu ngôn ngữ của Lạc bộ Trãi xong, ta mới biết KI là gì. Tất cả âm AI của Lạc bộ Trãi đều biến thành âm I của Nhựt:

Cây = Ki
Trái = Ki

Vậy KI trong KIMONO, chỉ có thể là Cài (nút)

Tại sao lại là Món Cài (nút)? Ai biết đâu! Có lẽ trước khi KIMONO được phát minh, loại áo xa xưa hơn được cột bằng dây chăng?

Đó là chúng tôi đoán hiểu vì thấy từ điển Nhựt bối rối vì quên nghĩa của KI. Những chữ KI rời không bao giờ được dịch ra tiếng Tàu là TRƯỚC tức MẶC, thế mà thình lình KI trong KIMONO được dịch là Trước Vật = Món mặc thì hơi khó chấp nhận.

Phụ chú

Chủng Mã Lai có tĩnh từ thứ hai để chỉ sự chua mà vài học giả Việt Nam cứ cho là mượn của Tàu. Nhưng TSÚA của Quan Thoại chỉ là Giấm, CHUA của họ là TOAN mà họ đọc là XỐL hoàn toàn không dính líu tới CHUA của Mã Lai:

Việt Nam: CHUA
Nam Dương: CHUKA
Sơ Đăng: CHÔU
Cao Miên: MÔCHU
Nhựt Bổn: SUI

Nhựt đã mượn TSÚA của Quan Thoại và đọc là SU = Giấm, mượn XÔL và đọc là SAN = Chua, nhưng SUI là tĩnh từ Mã Lai mà họ còn giữ được.

Chương III - Những đảo âm nội bộ trong chủng Mã Lai

Chương này vẫn cứ nghiên cứu về ngôn ngữ, nhưng nó sẽ đưa ta về dân tộc học, và chúng tôi phải điên đầu với những nhận xét sau đây, không còn biết kết luận ra sao cho ổn, nên chỉ giải thích theo chủ quan và đợi người khác rút tỉa ra từ đó những kết luận về chủng tộc học cần thiết.

I – Những âm AU của Nhật Bổn đều biến thành âm UA của Việt Nam, và ngược lại:

Nhựt Việt
IRAU RỬA
MAU MÚA
KAU MUA
NAO NỮA
NIAO VỪA (VẶN)

Không phải luôn luôn biến như vậy thí dụ CÂY SÀO thì cứ là SAO, nhưng thường biến như vậy và hễ có biến là theo cái luật trên. Luật đó, đúng cho tất cả các nhóm Mã Lai khác đối với Việt Nam, chớ không phải chỉ đúng cho Nhựt Bổn. Thí dụ:

Sơ Đăng Việt
BÁU LÚA
RAU RỪA (DỪA)
CHÔU CHUA

 

Mạ và các phụ chi
Việt
LAU
DỪA
RAU
RỬA
KA LAUUA
CÁ LẤU (CHẠCH LẤU)

Nhưng kì lạ thay, đối với Nam Dương thì ta không có biến, mặc dầu người Thượng là Lạc bộ Trãi, tức thẳng dòng với ta hơn, còn Nam Dương là Lạc bộ Mã, tức không thẳng dòng.

Nam Dương Việt
KURA RÙA
SUA (ĐỒNG) THOÀ
PUA THOẢ
SUAI THÓI

Nhìn vào các bảng đối chiếu trên, ta thấy Nhựt giống hệt Thượng Việt.

Thượng Việt: KI (CÂY)
Nhật Bổn: KI (CÂY)

 

Mạ: RAU (RỬA)
Nhựt Bổn: ARAU (RỬA)

 

Khả Lá Vàng: KITA (HƯỚNG BẮC)
Nhựt Bổn: KITA (HƯỚNG BẮC)

Thoạt nhìn, có người sẽ cho rằng không có gì là lạ, trừ Rađê và Giarai, còn thì toàn thể Thượng Việt đều là Lạc bộ Trãi hết vì toàn thể nói CHƠN, Rađê, Giarai và Chàm nói CẲNG. Còn ở Nhựt thì là MÃ Lai hỗn hợp Trãi + Mã y hệt như ở lưu vực Hồng Hà. Thế thì Nhựt có giống Thượng Việt là chuyện dĩ nhiên.

Nhưng không dĩ nhiên chút nào hết vì ta là Lạc bộ Trãi đa số thế mà lại khác Thượng Việt và giống Lạc bộ Mã là Nam Dương.

Về danh từ thì ta giống Thượng Việt hơn, nhưng về âm AU thì như thế đó. Đây là một cuộc đi sâu vào môn đối chiếu ngôn ngữ, chớ nếu chỉ dừng chân tại các cuộc đối chiếu phớt qua, không thể thấy được chi tiết này.

Chúng tôi thử giải thích, nhưng không lấy gì làm chắc thật chắc đến một trăm phần trăm. Trước khi di cư đi Nam Dương một nhóm Lạc bộ Mã rất lớn đã sống chung với ta tại lưu vực Hồng Hà, mà không có lên Cao Nguyên. Họ còn để lại hậu duệ là người Mường.

Ta chịu ảnh hưởng của họ về sự đảo âm AU thành UA, còn người Thượng vốn Lạc bộ Trãi như ta thì lại thoát.

Thí dụ Cây Dừa thì trước khi bọn Lạc bộ Trãi đến ta vẫn gọi là DAU y như Thượng Việt, Lúa, ta gọi là LÁU, RỬA ta gọi là RẢU v.v.

Không thể nói là họ chịu ảnh hưởng của ta vì chỉ có một nhóm là có ở lưu vực sông Hồng Hà, mà toàn thể Nam Dương, Mã Lai Á, Phi Luật Tân đều nói giống nhau về điểm đó. Nếu họ chịu ảnh hưởng của ta thì cái khối kể trên không thể giống nhau như thế được, bởi đa số không chịu ảnh hưởng, còn kẻ chịu ảnh hưởng thì lại quá ít.

Nhưng giải thích như vậy xong rồi, tạm ổn rồi thì vấp phải điều này là Nhựt không biến luôn luôn như vậy mà chỉ biến có nửa chừng thôi. Thí dụ:

Nhựt Việt
Sitxuua (Setsewa) Tích xưa

Nói một cách khác, ta chịu ảnh hưởng của Lạc bộ Mã nhưng chỉ chịu có nửa chừng, còn một phần thì cứ giống Lạc bộ Trãi vì Xưa là danh từ của Lạc bộ Trãi chắc một trăm phần trăm, mà Lạc bộ Mã không có.

(Cả hai Việt và Nhựt đều mượn TÍCH của Tàu. Ở Nhựt bọn Lạc bộ Trãi đã thua trận và bị Lạc bộ Mã lãnh đạo từ hai ngàn năm nay, khác hẳn ở Việt Nam là vua Hùng cứ vững ngôi.)

Nhựt có hai danh từ để chỉ hai văn thể thì đều là danh từ của Lạc bộ Trãi:

Tích xưa = Sitxuua (Setsewa)
Món xưa = Xuuamônô (Sewa mono)

Văn thể thứ nhứt chỉ chuyện cổ tích, còn văn thể thứ hai là một loại kịch chuyên diễn tuồng phong tục.

Quả xưa kia bọn Lạc bộ Trãi đã dùng XUUA để chỉ phong tục nữa, chớ không phải chỉ chỏ chuyện cổ không mà thôi, có lẽ đó là nghĩa rộng của CỔ. Người Sơ Đăng còn giữ được danh từ XUUA có nghĩa là Phong Tục dưới hình thức XRUA.

Hai danh từ đó, cho thấy vai trò văn hoá của Lạc bộ Trãi ở Nhựt rất lớn lao, thành thử âm UA không lấn âm AU được trong toàn thể Nhựt ngữ.

Có hơi kỳ khôi là ở Việt Nam Lạc Mã đã chịu thần phục vua Hùng Vương thuộc Lạc Trãi, nhưng Lạc Trãi lại bị truyền nhiễm âm đọc.

Chúng tôi giải thích như vậy, nhưng không dám tin cho lắm là đã giải thích đúng. Có cái gì trục trặc trong vấn đề dân tộc vì vấn đề đảo âm UA này, rất khó mà truy ra manh mối, nó không được xuôi chèo mát mái là Trãi Việt Nam lại giống Mã mà khác Trãi Thượng.

Có thế nào mà các đời vua Hùng Vương, sau là bọn Mã chăng, vì Trãi đã bị tràn ngập khi Mã đến quá đông, y hệt như ở Nhựt Bổn? Truyền thuyết Mường không nói gì hết về một cuộc đảo chánh, cướp ngôi nào cả, nhưng sự đảo lộn của âm UA lại bắt ta nghĩ rằng Trãi Việt Nam đã bị tràn ngập.

Đây là Chương ngắn nhứt của quyển sách, nhưng nó sẽ mở ra một đám đất mênh mông cho những người khác nhiều khả năng hơn khai thác, tìm tòi để biết có sự dời đổi vai trò lãnh đạo dưới các đời Hùng Vương hay không?

Tưởng cũng nên nói rõ một lần nữa về cách phân biệt hai thứ Lạc ở địa bàn Mã Lai. Danh từ riêng của hai thứ Lạc đó, rất dễ biết, nhưng con người của họ thì không, vì Mã Lai thì giống nhau hết thảy, và vì có nhóm Lạc bộ Trãi chịu ảnh hưởng nặng nề của Lạc bộ Mã, khiến ta lẫn lộn hai thứ với nhau.

Trên miền Thượng có nhiều chi nhóm như Churu, Roglai, Lào, vừa dùng danh từ của Chàm (Lạc bộ Mã), vừa dùng danh từ của Lạc bộ Trãi, tức giống Việt Nam hơn.

Đó là các nhóm ở gần Ninh Thuận, Khánh Hoà, Phú Yên, họ có chịu ảnh hưởng của Chàm.

Rất khó lòng mà biết họ thuộc Lạc Mã hay Lạc Trãi vì nếu nhìn kỹ vào ngôn ngữ của họ, ta thường thấy số danh từ của hai nhóm Mã và Trãi đồng số lượng với nhau.

Chúng tôi có thử dựa vào danh từ dùng làm căn bản, nhưng không chắc gì hết.

Người Churu gọi lúa là Pơđai, tức đó là tiếng Chàm đọc sai chút ít. Nhưng đồng thời họ cũng gọi lúa là KUÊ, hình thức đầu của danh từ LÚA của nhóm Trãi.

Họ dùng RƠGƠI là hình thức đầu tiên của GIỎI của bộ Trãi, nhưng CON thì gọi là ANA, tức tiếng Chàm đọc sai.

Họ là Trãi nhưng được Chàm khai hoá.

Theo chúng tôi thì chế độ hôn nhân là bằng chứng vững chắc hơn cả. Hiện trên thế giới, không có nhóm Lạc bộ Trãi nào còn theo mẫu hệ hết thì tình trạng dân Cao Nguyên chắc cũng thế.

Vậy đối với những nhóm chắc một phần trăm là Trãi, như Sơ Đăng, Ba Na, Mạ, thì không có vấn đề. Các nhóm chắc một trăm phần trăm là Mã như Rađê và Giarai, cũng không có vấn đề.

Đối với các nhóm khác, ta cứ dựa vào chế độ hôn nhân của họ là ăn chắc, chớ không dựa vào ngôn ngữ một cách đơn phương được. Tuy Mã và Trãi có đến 40% danh từ chung, nhưng vẫn khác nhau, mà sự khác nhau ấy cần được biết và yếu tố giúp ta biết chắc là yếu tố độc nhứt: hôn nhân.

Nhưng cũng không nên biết điều này là nhân loại phải mất ít lắm là một ngàn năm mới bước sang từ mẫu hệ đến phụ hệ được, chớ không phải đầu hôm sớm mai mà xong việc. Nhưng ở Việt Nam thì ba nhóm Mã lớn là Chàm, Giarai và Rađê không có dấu hiệu muốn bước sang phụ hệ.

Vậy chỉ có dấu hiệu đó là đủ chứng tích họ là Trãi rồi, chớ không cần đợi thấy họ theo phụ hệ hẳn. Thí dụ tục đi ở nhà vợ một thời gian rồi mới về nhà mình là tang tích mẫu hệ mà cũng là dấu hiệu đang bước sang phụ hệ của vài nhóm Trãi chậm tiến.

Các ông Tây thường cứ bằng vào số lượng danh từ để cho nhóm này thuộc vào nhóm nọ thì không đúng.

Chúng tôi tìm khắp Đ. N. Á. lục địa và Đ.N.Á hải dương mà chỉ gặp có hai nơi độc nhứt có động từ HÔN là động từ riêng của Lạc bộ Trãi. Động từ này chỉ có mặt ở Nhựt Bổn, dưới hình thức HOOZURI và ở đảo Marquises, dưới hình thức HÔNGHI: nhưng Nhựt Bổn có, không đáng ngạc nhiên vì ở Nhựt, Trãi và Mã đồng số dân với nhau. Sự kiện Đa Đảo có, mới là lạ. Đa Đảo còn theo mẫu hệ toàn loạt, không có đảo nào bước sang phụ hệ hết. Thế thì họ là Mã. Nhưng lại có HÔN ở quần đảo Marquises.

Điều này chứng tỏ rằng tiền sử học làm việc thiếu sót. Lạc bộ Trãi có đi xa khỏi Nam Dương, chớ không phải là chỉ có ghé tại đảo Célèbes không mà thôi. Trái lại đảo Célèbes là địa bàn của Lạc bộ Trãi, thế mà dân ở đó không có động từ HÔN, vì rồi về sau họ bị Nam Dương lấn át và chịu ảnh hưởng rất nặng của Lạc bộ Mã.

Thế nên trong việc học ngôn ngữ, chúng tôi phải học quá xa, học tận đảo Pâques ở cực Nam Mỹ vì ở đó có vài danh từ Việt Nam. Vài dân Tộc Sơ Đăng, có mặt tại Đa Đảo.

(động từ của Nam Dương là CHIUM, có thể nối kết với HÔN, nhưng chúng tôi chỉ tìm được có một cái khoen độc nhứt ở miền Nam nước việt là HUN, phát âm với chữ U, trong khi phải có hai ba chục cái khoen, thành thử chúng tôi không thể CHIUM được).

Chương IV - Nguyên nhân mất mát âm D và GI của miền Bắc

Một người Bắc Việt mới vào Nam, không thể nào phát âm được hai âm D và Gi giống người Nam cả, chỉ dẫn thế nào họ cũng thất bại. Đó là người khác chỉ dẫn, còn chúng tôi chỉ dẫn thì họ có thể đọc ngay tức khắc. Thí dụ DA THỊT, thay vì viết như vậy, tôi viết là YA THỊT và chỉ dẫn rằng phải qua hai giai đoạn:

  1. Tách rời Y và A
  2. Nhập lại thật nhanh.

Thế là họ thành công liền. Chỉ tốn có hai phút.

Sự kiện ấy chứng tỏ nhiều điều kì lạ lắm. Là lưỡi của hai miền không có khác nhau chút nào hết và họ vẫn phát âm được y hệt như Trung, Nam và bất kì nhóm Mã Lai nào, và cả Trung Hoa cũng phát âm được.

Nhiều người hay đổ thừa cho sự lai Trung Hoa, nhưng chúng tôi nghe Trung Hoa nói mỗi ngày hai tiếng XÌ DẦU cả chục bận. Họ vẫn phát âm được chữ D thì thủ phạm không phải là người Tàu.

Đồng bào miền Bắc đọc được, như bất kì ai, nhưng phải qua một thời kì tập sự, ngắn hay dài tuỳ người chỉ dẫn, thí dụ với tôi thì chỉ tốn có hai phút, còn người khác có khi chỉ dẫn hai ba năm, họ đọc cũng không được.

Thế nghĩa là khi xưa, có một thời họ đọc được, nhưng họ đã đánh mất khả năng của họ chăng? Không.

Thế giới không có chữ D của Nam Kì. Đó sáng tác riêng của các cố đạo. Thế nghĩa là loài người không có âm D. Vậy viết ra chữ D rồi bắt thiên hạ phải đọc chữ đầu đó như Nam Kì thì làm thế nào mà người miền Bắc đọc cho được. Họ đã nỗ lực đến mức tối đa, nhưng nó chỉ hoá ra Dz mà thôi.

Trong ngôn ngữ những gì nhân tạo và cưỡng ép thì không xong. Nếu phải cải cách quốc ngữ thì công việc cần làm trước nhứt là bỏ chữ D.

Ở khắp các địa bàn Mã Lai, ngày nay các nhà ngữ học đã dùng chữ Y để kí hiệu cái âm mà các cố đạo đã ký bằng D và họ thành công 100%.

Thế thì cái lưỡi của đồng bào miền Bắc không có bịnh tật gì cả, tại kí hiệu sai không giúp họ đọc được âm ấy.

Nhưng ta nên tự đặt câu hỏi. Trước khi chữ Quốc ngữ được các cố đạo chế ra, đồng bào miền Bắc phát âm chữ D ra sao? Có phải là Dz như ngày nay hay không?

Đã bảo nhân loại không có âm D thì họ không bao giờ có dịp phát âm D mà nghĩ rằng họ đã phát âm đúng hay sai. Ngày nay họ phát âm là Dz thì chỉ là một nỗ lực đặc biệt (nhưng không thành công) để diễn tả chữ D nhân tạo đó.

Có một âm gần gần như thế, đó là âm Y, và họ đã phát âm được, nay thì thế xưa chắc cũng thế, trước khi ngoại nhân đưa vào một kí hiệu kém khả năng miêu tả là D.

Sự miêu tả văn phạm và giọng đọc rất là quan trọng và ngày nay tất cả các nhà ngôn ngữ học thế giới đều chú tâm vào đó.

Nhưng đừng tưởng là các cố dốt. Về phương diện Phonème thì Y chỉ có giá trị bằng phân nửa I. Đó là một bán nguyên âm (Semi – voyelle). Nhưng dân ta phát âm DA rất mạnh ở D, thành thử các cố thấy là Y không ổn nên mới phát minh D mà cả thế giới đều không có. Nhưng các cố phát minh GI thì quả thật là dị kì. Hồi tiền chiến ở Hà Nội người ta đã cãi nhau ầm ĩ về chữ DÒNG và GIÒNG. Sở dĩ có cãi nhau là tại hai chữ đó đọc như nhau. Thế thì GI thậm vô ích.

Sự bối rối của các cố trước Y đọc thật mạnh của ta do ta có âm IA trong chữ KIA. Người Chàm không có âm IA nên họ viết IA cho Chàm và Chàm đọc thật đúng là D như Nam Kì, vì I mạnh lắm. Các cố không làm như vậy được cho Việt vì sợ IA (DA) lẫn lộn với IA ( KIA), nên đành phát minh D kém khả năng miêu tả.

Nhưng nếu các cố cứ dùng Y như các nhà ngữ học Âu Mỹ đã dùng cho Nam Dương và Thái Lan , rồi đưa ra ước lệ này là Y có đầy đủ giá trị như I, tức đọc mạnh được, thì đã không xảy ra rắc rối nào hết.

Ở Nam Dương và Thái Lan, người công dân cũng phát âm rất mạnh ở DA vì họ cũng là Mã Lai như ta, nhưng khi dùng ký hiệu Y thì các nhà ngữ học đã đưa ra ước lệ đó, nên không có gì trục trặc cả.

Kết luận, miền Bắc không bao giờ mất âm D vì không bao giờ có âm D mà họ chỉ có âm Y đọc mạnh như I.

Vậy nếu có cải cách ta sẽ cải cách với ước lệ như ở Nam Dương và Thái Lan, tức bất kể luật quốc tế, cho phép đọc Y thật mạnh như I.

Nghiên cứu ngôn ngữ của toàn khối Mã Lai, chúng tôi lại nhận thấy điều nầy là Mã Lai không có âm V, hoặc rất hiếm có. Nhưng Việt Nam thì rất giàu V. Tại sao Mã Lai lưu vực Hồng Hà lại làm khác?

Đó là một cải cách lớn có mục đích hẳn hoi, xảy ra cách đây hơn hai ngàn năm. Muốn biết mục đích của cuộc cải cách cổ thời ấy, ta cần biết thêm đặc điểm nữa của ngôn ngữ Mã Lai. Đại khối Mã Lai lạm phát nguyên âm. Đôi khi có đến năm nguyên âm dính liền với nhau.

Thí dụ ĐÙA của Nam Dương là TAUÙA, còn ĐÙA của Nhựt Bổn là: Tauuamurê, tức cũng có bốn nguyên âm, AUUA dính nhau y hệt như Nam Dương, chỉ khác có cái đuôi MURÊ.

Danh từ CON DIỀU của Thái còn kinh khủng hơn nữa. Nó là HYIAOU tức chứa đến 5 nguyên âm dính liền nhau, THỪA MỨA của Nam Dương là MIỨUA.

Những danh từ ấy, có tánh cách đa âm. Khi ta độc âm hoá ngôn ngữ ta sau Mã Viện thì dĩ nhiên ta phải thu ngắn những danh từ đó, bằng cách phát âm V để thay cho hai, ba nguyên âm, hoặc nuốt mất một số nguyên âm.

Các dân của tộc khác không độc âm hoá thì cứ tiếp tục đọc dài cho tới thế kỷ 19, các nhà ngữ học Âu Mỹ cho họ mượn W thì giải quyết được sự kì dị khi ký hiệu bằng La Tinh. TAUUA của Nam Dương biến thành TAWA TAUUAMURÊ của Nhựt biến thành TAWAUMRÊ.

Chủng Mã Lai lại cũng không có dấu ngã bao giờ và người ta lại tự hỏi lưu vực Hồng Hà đã sáng tác dấu ngã làm gì cho rắc rối đến thế.

Những gì chúng tôi viết ra dưới đây là chỉ viết riêng cho các nhà nghiên cứu và xin báo trước rằng chúng tôi không bảo đảm một phần trăm nào hết cho chủ trương dưới đây, chính vì ông bạn Trung Hoa đã dạy chúng tôi học Quan thoại cũng chỉ tưởng thế thôi mà không dám chắc gì hết.

Chúng tôi đã chứng minh trong quyển sử, bằng một biểu đối chiếu rằng dân tộc ta đã học với thầy Hoa Bắc vào đời Hán, nên ta nói tiếng Tàu giống giọng Quan Thoại hơn là giống các giọng khác, mặc dầu ta có đọc sai Quan Thoại, vẫn còn cứ khá giống Quan Thoại.

Ông bạn Trung Hoa của chúng tôi vốn người Thất Mân đồng ý về điểm đó, nhưng có thêm ý kiến nầy là Quan Thoại ngày nay đã sai giọng Quan Thoại đời Hán, và người Tàu vừa trở về với Quan Thoại đời Hán mà ta gọi là Tân Âm nhưng nó vốn là Cựu Âm. Đó là Quan Thoại của khu tam giác mà chúng tôi đã nói đến trong quyển sử.

Cái Quan Thoại Tân Âm nhưng mà là Cựu Âm đó có dấu huyền rất là kỳ dị là hơi giống dấu ngã của Bắc Việt, tức xuống rồi lên, nhưng chỉ ít thôi, và rất khó nhận ra.

Chỉ có người Việt châu thổ Hồng Hà mới đủ thính tai để nhận diện được cái dấu huyền kỳ dị đó, còn cho đến cả người Tàu ở xa kinh đô cũng không nhận được, không đọc được.

Thế nên họ đã sáng tác dấu ngã để diễn tả cái dấu huyền đó mà trên thế giới chỉ có họ là nhận ra mà thôi. Nhưng họ lại đi quá lố, chớ thật ra thì cái dấu huyền Quan Thoại đời xưa, không có lên cao đến thế, vì vậy mà trừ Bắc Việt ra, trên thế giới không ai nhận ra được hết, kể cả người Tàu ở ngoài khu tam giác đó.

Ông bạn người Trung Hoa ấy đã đưa ra thí dụ cụ thể để minh chứng chủ quan của ông:

Quan thoại Bắc Việt
Mã (ngựa)
Wùa Vũ (mưa)
Dèl Nguyễn (họ)
Luỳ Lữ (họ)
Nài Nãi (sữa)
MỸ

Chúng tôi chất vấn ông bạn Trung Hoa đó: “Nói thế thì tại sao những danh từ không do tiếng Tàu mà ra, cũng viết với dấu ngã?”

Ông bạn Trung Hoa nầy đã theo dõi chúng tôi khi chúng tôi viết sử, và đã biết tất cả những gì chúng tôi viết trong đó, nên ông bạn đáp ngay: “Đó là tại những danh từ ấy không phải là của Lạc bộ Trãi. Các anh đã vay mượn của các nhóm khác rồi quên mất chủ nhơn, cứ ngỡ là của Tàu”.

Thí dụ ẴM BỒNG, anh đã nói là do AMBING của Lạc bộ Mã mà ra (Nam Dương: Ambing = Ẵm bồng).

Chúng tôi cười hơi mỉa mai: “Có thế nào mà chúng tôi quên cả chủ nợ hay không?”

“Có. Thuở đó Trung Hoa là số dzách khiến ai cũng ngỡ cái gì cũng của Tàu mà ra cả. Anh có biết hiện nay (năm 1972) người Thái Lan gọi người Trung Hoa là gì không?”

“Không.”

“Họ gọi đồng bào của chúng tôi, kể cả cu li nữa là CHAOU JIN, tức là CHỦ NHƠN. Họ gọi theo đời Tần, mà họ bị đánh chiếm, rồi thì nó quen miệng đi. Các anh không có gọi Trung Hoa như vậy, nhưng hẳn các anh có phục Trung Hoa, khi Mã Viện bình định xong, và các anh bắt đầu an phận, theo học văn hoá Tàu.”

Chúng tôi lại chất vấn thêm, và ông bạn vẫn cứ trả lời xuôi rót:

“Tôi còn thắc mắc. Có những tiếng Tàu mang âm huyền rõ ràng thế sao Bắc Việt vẫn phát âm hỏi.”

“Hà, cái nầy dễ hiểu quá mà, tại các anh học với lính Quảng Đông, Phúc Kiến, tức bọn quân bổ túc cho đạo binh viễn chinh, mà người Quảng Đông, Phúc Kiến chỉ mới bị trị trước các anh không tới một trăm năm. Họ chỉ vừa bị Hoa hoá và cho tới ngày nay họ không nhận diện được cái dấu huyền đó, thế nên họ phát âm sai, tức với dấu hỏi.”

Ông bạn lại đưa ra thí dụ:

Quan thoại Quảng Đông Bắc Việt
Quò Quỏ Quả
Chường Chưởng Thưởng
Pèo ẻo Biểu

Chúng tôi xin lặp lại là chúng tôi không đảm bảo gì hết, và chúng tôi chỉ viết ra để các nhà học giả thạo hơn chúng tôi nghiên cứu thử, chớ chính chúng tôi cũng chẳng nhận diện được dấu huyền Quan Thoại đó, và chính kẻ dạy chúng tôi học cũng không đọc được cái dấu huyền hoặc đó.

Dầu sao sự kiện nầy cũng có và còn nguyên vẹn, là trong đại khối Mã Lai đông hơn 300 triệu, chỉ còn Bắc Việt là có dấu ngã, khiến ta phải nghĩ rằng họ mới sáng tác về sau, không biết để làm gì, còn gốc tổ thì không có.

Mặc dù không tin chủ trương trên đây, chúng tôi vẫn băn khoăn tự hỏi những luật hỏi ngã của văn phạm ta sao mà hơi kỳ kỳ, đại khái như thế này: khi mà các danh từ gốc Hán Việt mà bắt đầu bằng D, L, M v.v. thì phải viết với dấu ngã.

Ở đây, nguyên nhơn tại chữ D, chữ L, chữ M. Tại sao các chữ đó là nguyên nhơn được? Chủ trương của ông bạn Trung Hoa tuy không được chúng tôi tin, nhưng nguyên nhơn mà ông bạn ấy đưa ra có vẻ là nguyên nhơn thật sự, chớ còn chữ D, chữ L, chữ M làm thế nào lại là nguyên nhơn được.

Nếu chủ trương của ông bạn Trung Hoa nói trên mà sai, tưởng ta cũng cần tìm nguyên nhơn khác hơn là chữ D, chữ L, chữ M, nó không có vẻ gì là nguyên nhơn cả.

Chương V - Tài ba của Việt ngữ

Mẹ hát con khen hay thì chẳng được ai khen theo hết. Nhưng chúng tôi khen vì MẸ CHÚNG TA tài tình thật sự.

Nam Dương và Nhựt Bổn đã chế biến ra lắm trò, nào là Nam Dương gắn đầu gắn đuôi như Tây, Nhựt Bổn chia động từ như Tây, nhưng diễn tả không hơn Việt Nam chút nào hết mà lại còn kém hơn nhiều bực.

Các nhóm Mã Lai khác đều mắc nạn đồng âm dị nghĩa mà vô địch là Miền Dưới và Nhựt. Việt Nam cũng có danh từ đồng âm dị nghĩa, nhưng rất là ít, thí dụ Đồng (bằng), Đồng (thau), trong khi đó thì các dân tộc khác mỗi nhóm có hai ba chục tiếng đồng âm.

Ta cũng đã có như họ, vì tất cả đều là Mã Lai, nhưng ta đã uyển chuyển cho mất sự lạm phát đồng âm, còn họ không biết làm thế.

Đó là nguyên nhơn của các dấu sắc, huyền, hỏi, nặng của ta mà các nhóm khác rất hiếm có. Thí dụ GIÁ RẺ ở Nam Dương, thì rẻ chỉ là MURAH. Chữ H cuối chỉ có giá trị của 1/3 cái dấu hỏi hay dấu sắc của ta mà thôi, tức như là MURẢ, nhưng RẢ phải đọc thật nhẹ, chữ H được đọc nửa chừng thì người đọc đứt hơi thình lình.

Quý vị đã thấy ta biến PƠAKA thành BÓI CÁ một cách tài tình. Chúng tôi đếm được trong các tự điển Miền Dưới 40 chữ Tơrăng chẵn chòi, không thiếu một nét.

Việt Nam cứ sử dụng dấu sắc huyền hỏi nặng là dẹp tan hết:

Tơrăng = Trằn
Tơrăng = Trảng
Tơrăng = Trắng trợn
Tơrăng = Trong

Vân vân và vân vân…

Ta biến dạng mà không hề làm mất Phonème, làm mất nghĩa, và trái lại còn thêm nghĩa rất dồi dào. Xem người Mạ và ta biến dạng một từ ngữ Mã Lai thì thấy rõ là ta quá tài.

Con sulong= Filsainé, Elder

Người Mạ biến thành: KON TABÔNG. Phonème đã sai rồi, mà TABÔNG thì chẳng có nghĩa gì cả trong ngôn ngữ Mạ.

Việt Nam biến: CON ĐẦU LÒNG

Có tài tình chưa? Phonème còn nguyên vẹn, nhứt là trong CON SO và SỔ LÒNG, mà ĐẦU LÒNG cũng đầy ý nghĩa. Đó là một cuộc biến có cố ý, có ý thức vì hiểu nghĩa, chứ không phải là kẻ vay mượn, chỉ mượn âm, như Cao Miên đã biến Kayu Đoan Đâu thành So Đau.

Kẻ hiểu nghĩa để biến cho còn nghĩa là kẻ có danh từ đó, chớ không phải vay mượn.

Sự biến dạng của Tơrăng trong Việt ngữ, tuy hay về số lượng, nhưng không hay về phẩm chất vì ta chỉ bỏ dấu khác mà thôi, ngoài ra không có sửa đổi bao nhiêu. Nhưng sự biến dạng của một động từ, động từ CHẾT thì tài vượt bực.

Chủng Mã Lai có hai động từ chỉ ý niệm chết, mà Miền Dưới chỉ dùng có một là MATI.

Nam Dương: Mati
Chàm Ninh Thuận: Mưtai
Chàm Bình Tuy: Htai
Thái: Tai
Việt Nam: Mất

Thái cũng biến nhưng biến một cách vô ích, và nếu không có cái khoen Chàm Bình Tuy, không làm sao mà nhận ra được TAI do MATI mà ra.

Nhưng Việt Nam biến có mục đích hẳn hòi, để xoá đồng âm U như với tĩnh từ Tơrăng.

Vậy Mati = mất.

Ta nuốt chữ I cuối. Thí dụ: Ông tôi mất năm ngoái.

Người Nam Dương cũng có ao nuôi cá và lũy tre quanh làng y như ở Bắc Việt, và họ gọi ao đó là:

Ao mati = Ao chết

Tại sao ao lại chết? Vì nước ao không được thay đổi tức đó là nước chết. Việt Nam không bằng lòng như thế và trong trường hợp này, ta không nuốt chữ I mà nuốt âm MA. Âm TI còn lại được biến thành ra là TÙ.

Ao mati = Ao tù

Xin lưu ý các nhà làm từ điển. Chữ Tù hồi cổ thời chỉ có nghĩa là (nước) Chết.

Đèn không cháy nữa, người Nam Dương gọi là:

Đian mati = Đèn chết

Tại sao chết? Vì ngọn lửa đã chết. Trong bài hát Au clair de la lune, của Pháp ta cũng thấy câu: Ma chandelle est morte, tức cây nến của tôi đã chết.

Việt Nam cũng chẳng bằng lòng vàa lần nầy ta biến âm TI thành TẮT.

Đian mati = Đèn tắt

Có tài tình chưa? Và cũng xin các nhà làm tự điển biết rằng vào cổ thời TẮT, chỉ có nghĩa là CHẾT. Hiện nay trong Việt ngữ, ta vẫn còn nói TẮT để chỉ ý niệm Chết. Thí dụ: “Ông tôi tắt nghỉ hôm qua”.

Sự tài tình ở đây, còn hơn cả trong từ ngữ CON ĐẦU LÒNG nữa. Và có hằng ngàn trường hợp biến tài tình như cái vụ Ti →Tù, Ti →Tắt.

Khi ta so tự điển Việt Nam với tụ điển các dân tộc khác gốc Mã Lai, ta thấy luôn luôn tự điển ta dày hơn tự điển họ quá nhiều, bởi họ chỉ định nghĩa có một chữ MATI còn ta thì phải định nghĩa cho ba chữ: MẤT, TÙ và TẮT.

Nhưng hủy bỏ đồng âm, tuy là tài, nhưng vẫn không tài bằng mỹ hoá như trường hợp CHIM BÓI CÁ đã cho thấy.

pơraka = Bắt cá→ Bói cá

BÓI CÁ đậm ý nghĩa hơn BẮT CÁ, nhưng không khác âm bao nhiêu. Thế thì không cần gì tiến tới đa âm như họ, ta vẫn diễn ý được nhiều hơn họ và nhứt là hay hơn họ.

Xem ra sự đa âm hoá không đem đến cái lợi nào đáng kể hết, và nếu không bị ảnh hưởng Trung Hoa chận đứng cái đà đa âm của ta, ta vẫn không hơn gì ngày nay đâu, bằng chứng là Nam Dương, mặc dầu đa âm hoá, vẫn kém hơn ta về sự phong phú của ngôn ngữ.

Khi mà ta sáng tác được chữ TÙ rồi thì nó đẻ ra một bầy con: TÙ TÚNG, TÙ HÃM, TÙ BINH, VÀO TÙ, Ở TÙ, NGỒI TÙ, TÙ MỌT GÔNG, TÙ RŨ XƯƠNG, TÙ TỘI, CƠM TÙ, CAI TÙ, RŨ TÙ, MÃN TÙ, BỎ TÙ, NHÀ TÙ, CHẾ ĐỘ LAO TÙ, VƯỢT TÙ, NƯỚC TÙ, TÙ TREO, TÙ Ở, TÙ ĐÀY, TÙ BIỆT XỨ, vân vân và vân vân.

Các người ham bắt ta làm nô lệ Trung Hoa, chắc cho rằng ĐÈN là do ĐĂNG của Tàu. Nhưng Tàu đọc ĐĂNG là TẨN, mà TẨN thì quá xa ĐÈN, không như ĐIAN của Nam Dương. Và tiền sử học đã nói rõ là Lạc bộ Mã, khi di cư không có chịu ảnh hưởng của Tàu.

Chúng tôi có hai chứng tích cho rằng ta không học của Tàu:

I - Tất cả đều dùng âm đầu Đ trong khi Tàu dùng T.

II - Nhưng chứng tích đó rất yếu. Các nhà khảo cổ đã tìm được một cây đèn La Mã tại Cao Miên, vì năm 17 OS.K La Mã có gởi sang Trung Hoa một đoàn trò xiếc, bọn ấy có đi ngang qua Cao Miên. Họ lại tìm được đèn đời Hán tại Trung Hoa. Đèn Trung Hoa và đèn La Mã xấu hơn đèn Đông Sơn nhiều lắm. Không lẽ thầy lại kém hơn trò?

Chính Nhật là đã học của Tàu vì họ nói là Tô. Tô do Tẩn mà ra chớ không do Đian được.

Con khen mẹ bấy nhiêu đó là vừa, mặc dầu còn hàng ngàn biến dạng tài tình và nhứt là có mục đích rõ rệt nữa. Khen nhiều quá người khác sẽ khó chịu, nhứt là những quốc gia có 30 chục danh từ đồng âm dị nghĩa, trong hàng trăm trường hợp, hàng trăm danh từ.

VI – Vua Hùng lãnh đạo bao nhiêu bộ lạc

Xin nói rõ lại về danh xưng. Chủng Mã Lai ở Viễn Đông chia thành hai chi. Chi Âu tức người Thái. Chi lạc là chi thứ nhì.

Chi lạc lại chia thành hai tiểu chi:

A) Austroasiatiques, chủ đất Hoa Bắc trước khi người Tàu xuất hiện. bọn nầy đã di cư đi Đại Hàn, Nhựt và Việt Nam cách đây năm ngàn năm, được Tàu gọi là Lạc bộ Trãi, chúng tôi gọi là Mã Lai đợt I trong quyển sử của chúng tôi. Nhưng ở đây chúng tôi gọi tắt họ là Trãi.

B) Austronésiens, chủ đất Hoa Nam trước khi người Tàu xuất hiện. Bọn nầy đã di cư đi Chàm, Phù Nam, Nam Dương, và lộn ngược lên Nhựt, được Tàu gọi là Lạc bộ Mã và chúng tôi gọi là Mã Lai đợt II. Nhưng ở đây chúng tôi gọi tắt họ là Mã.

Hai thứ Mã Lai ấy chỉ có những danh từ của con người cổ sơ là giống nhau thôi, như Tay, chơn, mặt, mắt, núi non, bông lá. Những sáng tác về sau, khác nhau hết.

Nhưng đặc biệt trong danh từ cổ sơ, đáng lý gì phải giống nhau hết, họ lại khác nhau ở CHƠN và CẲNG. Bọn Trãi nói CHƠN, bọn mã nói CẲNG.

Trong lãnh thổ Việt Nam hai nhóm ấy còn tồn tại:

Trãi Việt Nam + thiểu số Mã Lai ở trọ Đa số Thượng Việt
Mường Mường là Mã, khi xưa nói y hệt như Nam Dương, nhưng nay đã bị Trãi hoá và nói gần giống ta. Chàm, Phù Nam, Rađê, Giarai.

Có ba thứ người mà số phận giống hệt Mường đó là người Yêh, người Roglai và người Churu, họ là Trãi nhưng lại bị Mã hoá. Thuở xưa họ nói y hệt như Việt Nam, nhưng nay họ nói gần giống người Chàm vì nỗ lực đồng hoá của Chàm.

Ở Nhựt Bổn cũng có hai tiểu chi Lạc y hệt như ở Việt Nam, nhưng số lượng khác. Trãi Việt Nam do nhóm AĐÔUK của vua Hùng Vương lãnh đạo, còn Trãi Nhựt Bổn có lẽ do nhóm KHẢ TU lãnh đạo. Nhóm này hiện ở ngang Đà Nẵng phía trong Trường Sơn, nói khá giống người Nhựt về các danh từ Trãi. Còn danh từ Mã ở Nhựt thì dĩ nhiên là giống Nam Dương, y hệt như ở Việt Nam.

Để chứng minh sự kiện đồng chủng, khoa học chê ngôn ngữ tỷ hiệu.

Nhưng nhờ khoa đó mà chúng tôi biết chắc vua Hùng Vương lãnh đạo tất cả bao nhiêu bộ lạc vào khoảng năm 500 trước Tây lịch, biết chắc 100% và biết tên cả các bộ lạc ấy nữa.

Trước hết chúng tôi đã dùng luật đối chiếu của M. Swadesh, ông ấy có lập ra nhiều cái luật, mà một rất quan trọng: Luật về số lượng danh từ cần phải đối chiếu.

Chúng tôi đã kiểm soát chặt chẽ luật đó và chúng tôi thấy nó đúng 100%. Theo M. Swadesh thì chỉ cần đối chiếu 200 danh từ mà thôi là đủ rồi.

Không phải là hai dân tộc phải giống nhau tất cả ở số lượng 200, mà đa số danh từ trong hai trăm mà giống nhau, là đồng chủng.

Một kết quả ngộ nghĩnh và hay ho, lòi ra sau cuộc kiểm soát của chúng tôi. M. Swadesh cho phép đối chiếu CON MẮT mà không cho phép đối chiếu CÁI MẶT. Nhà ngữ học lỗi lạc đó đã nghiên cứu và thí nhiệm rồi, chớ không phải nói liều.

Hiện có lối một trăm dân tộc gốc Mã Lai, tất cả đều còn giữ được danh từ CON MẮT giống nhau, còn CÁI MẶT thì có ba dân tộc đánh mất: Nhựt Bổn, Cao Miên, Nam Dương.

Nam Dương mượn MUKA của Phạn ngữ, Cao Miên và Nhựt cũng thế (vì Nhựt, bọn Mã đã từ Nam Dương đi ngược lên để nhập bọn và lãnh đạo bọn Trãi tại Phù Tang). Nhưng Nam Dương lấy nguyên vẹn MUKA còn Cao Miên chỉ lấy âm đầu là MUK, nhật chỉ lấy âm sau là KA rồi biến thành KAO.

Thế là luật Swadesh chặt chẽ đến bất ngờ. Họ cấm đối chiếu Cái Mặt, chúng tôi không nghe, cứ đối chiếu, mới lòi ra sự kiện không ăn rơ.

Vậy chúng tôi đã đối chiếu 200 từ Việt ngữ căn bản của Swadesh với ngôn ngữ của khắp Đông Nam Á, và chúng tôi tìm được trên 300 nhóm bộ Lạc Trãi. Những danh từ Việt mà nhóm này không có, thì nhóm khác có.

Thí dụ hai tĩnh từ THẤP và NGẮN thì chỉ có một nhóm độc nhất là có, đó là nhóm KUY. Thí dụ động từ TÊM (trầu) chỉ có một nhóm độc nhất là có đó là nhóm PACOH. Danh từ LỒI ỐI chỉ có một nhóm độc nhất là có, đó là nhóm Sơđăng.

Đây là tên của các nhóm đó ngày nay, ngày xưa chắc họ mang tên khác, vì có nhóm bị ngoại nhân đặt tên, chớ thực ra họ tự xưng khác, thí dụ nhóm Khả lá vàng là do người Lào đặt ra chớ họ tự xưng là ALAK.

Chúng tôi bắt đầu từ trên xuống, tức từ Hà Tịnh Quảng Bình đổ xuống, còn ở trên nữa thì không có Lạc bộ Trãi. Và chúng tôi bỏ các nhóm lai căng ra thí dụ nhóm Hơroy!

1. Khả lá vàng 19. Mnong
2. Bru 20. Gar
3. Pacóh 21. Xi Tiêng
4. Phương 22. Mạ
5. Tà ui 23. Lào
6. Khả Tu 24. Núp
7. Tà Kụa 25. Kâyông
8. Cụa 26. Srê
9. Jêh 27. Churu
10. Duan 28. Kôhô
11. Kayơng 29. Rôglai
12. HRÊ 30. Biat
13. Sơ Đăng 31. Tu Nong
14. Bà na 32. Kơ lua
15. Tơ dra 33. Mung Buk
16. Mơ nơm 34. Hrê
17. Ha lang 35. Cuti
18. Rơ lơm

Chúng tôi bỏ Rađê và Giarai ra vì họ, Chàm và Mường chỉ mới đến xứ ta 500 trước Tây lịch. Tiếng Việt có vay mượn của họ, nhưng những danh từ vay mựơn ấy không phải là căn bản.

Vậy vua Hùng Vương và khoảng năm 500 trước Tây lịch đã lãnh đạo 35 bộ lạc trên đây, và khi thống nhứt được rồi thì ta có Ngắn, có Thấp, có Têm trầu, có Lồi ối, mà bộ lạc nào không có đều phải học hết và tiếng Việt thành hình.

Không rõ Hùng Vương thuộc bộ lạc nào, nhưng ông vẫn phải thuộc 1 trong 35 bộ lạc đó. Chỉ có hai bộ lạc là có danh từ NẮNG nghen bà con, còn TÊM (trầu) thì chỉ độc một bộ lạc có mà thôi, đó là dân Pacóh, như đã nói.

Những điều chúng tôi nói ra trên đây không phải là suy luận như bạn Nguyễn Mạnh Côn đã nói mà có chứng tích hẳn hoi. Thí dụ nhóm Khả Tu chỉ có tĩnh từ ĐAU, tuyệt đối không biết các tĩnh từ khác của Việt Nam, còn nhóm Mạ thì chỉ có tĩnh từ xóc (Đau xóc hông), tuyệt đối không có tĩnh từ ĐAU.

Vua Hùng Vương thứ I thống nhứt các bộ lạc được rồi thì lấy của mỗi bộ lạc một tĩnh từ, nhờ vậy mà ta có Nhức, Đau, Tức, Rát, Xóc, Lói,… phong phú hơn bất kỳ nhóm Trãi nào khác, và tất cả các nhóm Trãi ở lưu vực Hồng Hà đều phải học với nhau, Việt ngữ thành hình và thống nhứt ngay từ thời Hùng Vương.

Chỉ có độc một nhóm Khả mới có động từ RAAN có nghĩa là RÁN SỨC, những bộ lạc khác nói GẮN vân vân… Về chữ Raan thì tự điển K.T.T.Đ viết đúng gốc tổ là RÁN (không G) còn dân chúng miền Bắc phát âm RÁNG có G là sai gốc tổ rồi vậy.

Sự lựa chọn danh từ để vay mượn thật là khó hiểu lý do. Người Khả Tu có đến 9 động từ ĐẺ khác nhau, nhưng ta không có lấy động từ nào của họ hết, mà lấy động từ đẻ của Mạ là dân chỉ có một động từ đẻ độc nhứt. Nhưng không nên hiểu rằng Mạ chính là bộ lạc của vua Hùng Vương, vì những danh từ khác ta không có lấy của Mạ, tức Mạ và ta chỉ giống nhau có mà thôi. Mỗi bộ lạc ấy chỉ giống ta có (không kể các danh từ chung như Mắt, Chim, Cây, Lá).

Thí dụ Thượng Việt có những danh từ sau đây để chỉ con cọp:

Klơa
Klá
Yau
Agôôt
Kan bơơi
Pahua
Kooq

Chắc chắn là ta lấy Kooq để biến thành CỌP. KOOQ là danh từ của người Khả Tu. Mà nó là danh từ trùng hợp với danh từ của bộ lạc của vua Hùng Vương chớ không phải Khả Tu là bộ lạc lãnh đạo.

Những danh từ nào mà ta chê không lấy, đều bị Nhựt Bổn lượm hết. Thí dụ người Khả Tu gọi con CHÓ là ANÚK là trùng với INÚ của Nhựt Bổn, người Khả lá vàng gọi CÂY là KI cũng trùng với Nhựt Bổn, không khác một nét.

Danh từ MANG là ĐÊM, được khắp Cao Nguyên dùng, nhưng ta chê, cũng được Trãi ở Nhựt trọng dụng và biến thành BAN.

Sự chọn lựa giữa ta và Nhựt không ăn khớp với nhau ở mỗi danh từ, thành thử Nhựt vừa giống ta, lại vừa giống đồng bào Thượng. Có thể nói hễ danh từ nào của Thượng Việt mà Nhựt dùng thì ta không, ta dùng thì Nhựt không, chỉ trừ 1 số nhỏ.

Theo tiết lộ của giáo sư đại học Nghiêm Thẩm thì Nhựt cũng đã biết sự kiện đó rồi và họ có thử đi Cao Nguyên, ghé thăm Giáo sư, nhưng chẳng hiểu họ có thành công trong việc đi tìm gốc tổ hay chăng?

Tỷ lệ 10/35 trên đây thoạt trông thì mâu thuẫn với lối trình bày của chúng tôi khi nãy là theo luật Swadesh, không bắt buộc phải giống nhau 100% mà đa số danh từ giống nhau, tức 55% là đủ rồi. Nhưng 10/35 thì thấp hơn 55%.

Ở đây lại cần giải thích rõ ràng minh bạch: 10/35 là số lượng danh từ đặc biệt mà bộ lạc lãnh đạo cần mượn thêm, như TÊM (trầu) chẳng hạn, còn 55% là số lượng danh từ thường mà tất cả đều phải giống nhau như Mắt, Nước, Lá. v.v

Về sự chọn lựa, ta chỉ có thể lấy lý trí mà suy ra chớ không thể biết chắc đựơc: khi nào một ý niệm cần được diễn ra bằng nhiều hình thức, như bị đau đớn, có nhiều lối đau khác nhau, thì vua Hùng Vương mới phải vay mượn lung tung nơi các bộ lạc mà ông lãnh đạo, còn khi nào một ý niệm chỉ cần diễn ra bằng một hình thức độc nhứt như Đẻ chẳng hạn thì không có vay. Như vậy thì Đẻ của Mạ chỉ ngẫu nhiên trùng với Đẻ của bộ lạc lãnh đạo, chớ không phải là bộ lạc ấy vay mượn Đẻ của Mạ.

Về sự kiện thứ nhì, ta cũng chỉ biết được qua một cuộc suy luận mà thôi. Vua Hùng Vương dĩ nhiên là có khuynh hướng bắt các bộ lạc khác dùng danh từ của bộ lạc ông. Nhưng ở trường hợp nầy thì ông không thể thành công, bởi nếu trong 36 bộ lạc, mà chỉ có 3, 4 bộ lạc trùng hợp với ông thì ông bị thiểu số, danh từ của đại đa số sẽ thắng. Thành thử những danh từ mà Văn Lang chánh thức hoá về sau, không phải luôn luôn là danh từ của bộ lạc vua Hùng, mà phải là danh từ của đa số.

Tuy nhiên, khi chúng tôi đối chiếu tổng quát, chúng tôi thấy rằng bộ lạc đã thống nhứt các bộ lạc khác có ngôn ngữ tương đối giống nhứt với ngôn ngữ Khả lá vàng, mặc dầu vì trốn tránh trong rừng từ hơn hai ngàn năm nay, Khả Lá Vàng đã mất gần hết ngôn ngữ, không phong phú như Khả Tu chẳng hạn, nhưng những danh từ còn sót lại thì quá giống danh từ hiện kim của ta.

Nhưng xin cần nói rõ. Thí dụ CÁ thì chính Sơ Đăng giống ta 100% còn Khả lá vàng thì nói AKA, nhưng các danh từ khác thì Sơ Đăng lại không giống ta mà Khả Lá Vàng giống, tuy chỉ giống tương đối như CÁ và AKA, nhưng không khác hẳn như Sơ Đăng.

Sự ít giống, nhưng lại ít ở tất cả mọi danh từ là dây liên hệ mạnh hơn là giống nhiều, giống 100%, nhưng chỉ trong một số danh từ mà thôi. Ngoài Khả Lá Vàng, thì các bộ lạc khác như nhau, không bộ lạc nào hơn bộ lạc nào về sự giống ta.

Thời điểm năm 500 trước Tây lịch mà chúng tôi đưa ra không phải là thời điểm đúng hay khá đúng mà là thời điểm chắc chắn không có đệ tam nhân xen vào vì tiền sử học cho biết rằng chính năm đó là năm bọn Lạc bộ Mã đến nơi (tổ tiên của người Mường). Từ năm đó đổ lên thì cuộc thống nhứt của các bộ lạc Trãi xảy ra vào năm nào, chắc không bao giờ biết được hết vì con số 18 đời vua Hùng Vương không thể kiểm soát, mà con số về thời gian trị vì của một đời vua cũng không thể biết được, phương chi không phải thống nhứt xong rồi là có vua ngay đâu, mà có thể chỉ có tổng tù trưởng mà chưa có Hùng Vương thứ I, và tình trạng đó, có thể kéo dài 500 năm cũng được như thường.

Đôi khi có vua rồi, nhưng lại chưa thống nhứt được như trường hợp của người Giarai, họ có đến hai ông vua, Thủy Xá và Hoả Xá, thế mà họ chưa thống nhứt nổi Rađê đồng chi Mã với họ.

Nhưng thường thì thống nhứt rồi, mới có vua. Trường hợp Giarai là trường hợp đặc biệt.

Khi thống nhứt xong thì tên của các bộ lạc phải bị quên, không còn Pacóh, Bru, Khả Tu gì nữa hết ở lưu vực Hồng Hà mà chỉ còn có VRĂN NANG = Cau sọc và hằng ngàn năm sau Vrăn Nang mới bị biến thành Văn Lang. Nhưng Vrăn Nang là quốc hiệu hẳn hòi chớ không phải là tên của bộ lạc lãnh đạo. Bộ lạc ấy tên gì, ta sẽ thấy lát nữa đây.

Ta cũng không nên ngộ nhận về sự kiện sau đây là không phải chỉ có 35 dân tộc ấy là giống ta, mà ngôn ngữ Kha si của dân Naga ở Assam( Ấn Độ) cũng giống hệt ngôn ngữ thượng Việt, nhưng họ ở quá xa lưu vực Hồng Hà thì họ không thể được vua Hùng Vương thống nhứt, nên chúng tôi chỉ kể tên các dân ở Cao Nguyên, lào và Cao Miên mà thôi, vì những phần tử không được thống nhứt, có đi xa lắm cũng chỉ đi quanh đó, còn Khả Si tuy cũng là Trãi, nhưng họ định cư xa như thế tức họ Nam thiên từ Hoa Bắc do ngã hướng Tây, y như bọn lạc bộ Chuy, tức không có ghé lưu vực Hồng hà.

Con số 1960 tù trưởng mà truyền thuyết Mường nói đến không vì con số 35 trên đây mà sai, bởi mỗi bộ lạc có nhiều tù trưởng. Nhưng con số 15 bộ của truyền thuyết ta thì chắc chắn là sai. Bộ của truyền thuyết ta, cho dẫu có nghĩa là bộ lạc, hoặc tỉnh gì cũng không thấy còn dấu, mà dấu vết cổ thì phải còn, chúng tôi thấy như vậy khi kiểm soát về các việc khác.

Truyền thuyết của khách trọ lá Lạc bộ Mã đã xoá mất truyền thuyết của lạc bộ Trãi. Nhưng trên Cao nguyên hẳn là còn cái gì và chúng tôi mong đợi ở các nhà nghiên cứu khác, hiện họ đang làm việc tại Cao nguyên.

Chúng tôi nói có tất cả 35 bộ lạc, nhưng thật ra là 36, vì vua Hùng Vương thuộc một bộ lạc khác, có tên khác, và đông hơn cả, nên mới thống nhứt được các bộ lạc khác.

Vua Hùng Vương thuộc bộ lạc nào. Trong quyển sử của chúng tôi, chúng tôi đã tiết lộ rằng đa số đồng bào Thượng gọi ta là Mandi, bằng Phạn ngữ, vì chịu ảnh hưởng của Cao Miên và Chàm. Nhưng ở trên Kontum đổ lên Hà Tịnh thì họ lại gọi ta khác vì họ không có chịu ảnh hưởng của Chàm và Cao Miên và chúng tôi tin rằng họ goi theo thời Thượng cổ.

Từ người Khả Tu đến người Pacóh đến người Bru, ở trên địa bàn Sơ Đăng, đều gọi ta là dân AĐUỐK. chắc chắn là vua Hùng thuộc bộ lạc AĐUỐK, là bộ lạc đa số ở lưu vực Hồng Hà.

Ađuốk chẳng có nghĩa gì cả trong ngôn ngữ của bất cứ nhóm thượng nào. Có lẽ đó là danh tự xưng và phải có nghĩa trong bộ lạc Ađuốk, nhưng các bộ lạc khác không có danh từ đó nên họ không hiểu, trừ các bộ lạc bị thống nhứt thì hiểu, nhưng đó là một danh từ đã mất vì luật Swadesh.

Tuy nhiên tất cả các nhóm Trãi trên Cao Nguyên đều có truyền thuyết cho rằng họ và ta đồng gốc tổ.

Và xin đừng ngộ nhận ở điểm này. Trên 30 bộ lạc đó, không phải là các bộ lạc khác ly khai vì không khứng được với vua Hùng thống nhứt. Sự kiện lịch sử khác hẳn sự tưởng tượng của ta. Khi rời Hoa Bắc di cư đi Việt Nam thì mỗi nhóm chiếm một vùng ở các nơi mà Pháp gọi là Đông Pháp, nhưng đặc biệt ở lưu vực Hồng Hà thì có đủ mặt tất cả ácc bộ lạc vì hai lẽ:

a) Tất cả đều ghé lại đó.

b) Nhưng rồi họ thấy là đất quá chật cho tất cả, nên rồi mỗi nhóm mỗi có người tái khởi hành để đi nơi khác, vì vậy mà mới có đồng bào Thượng ở nơi khác.

Và xin cũng đừng hiểu lầm về điểm thứ nhì này. Là đồng chi lạc bộ Trãi với nhau, họ phải có danh từ chung với nhau hết thẩy, chỉ có những danh từ đặc biệt mới là khác và mới được vua Hùng vay mượn, chớ Cá, Nước, Mắt, Mũi, tay, Chơn đều nhu nhau. Thí dụ: RỬA thì tất cả đều nói là RAO, RÀO, ARAU, MARAU, IRAU .v.v…

Vua Hùng Vương lại thống nhứt ngôn ngữ hơi lạ lùng là lấy cả hai trạng từ của một nhóm để nhập làm một. Thí dụ nhóm Khả Tu có trạng từ Mak có nghĩa là MẶC KỆ, và trạng từ TAKÊ đồng nghĩa. Mak bị nhập với Takê để làm mặc kệ của Việt.

Tuy người Việt miền Bắc vẫn nói Mặc gọn lỏn, còn người Việt miền Nam vẫn nói KỆ gọn lỏn (hoặc THÂY KỆ. THÂY là trạng từ Phù Nam).

Thế nghĩa là MẶC KỆ chỉ mới có về sau này, chớ không phải vua Hùng Vương nhập lại, còn hồi xưa ta vẫn nói y hệt như Khả Tu là Mak và Takê chúng tôi chủ trương rằng tất cả dấu vết cổ thời đều còn đủ và trường hợp MẶC, KỆ và MẶC KỆ đã cho thấy rõ như vậy.

Việt ngữ thành hình đúng vào năm mà cuộc thống nhứt các bộ lạc đã hoàn thành, chớ trước đó thì chỉ có các phương ngữ Mã Lai, mà không hề có ngôn ngữ của bất kì quốc gia nào, vì các quốc gia Việt ở Hoa Nam cũng chỉ được thành lập đồng thời điểm với nước Văn Lang chớ cũng chẳng lâu đời hơn được.

Như đã nói, chúng tôi không biết cái thời điểm ấy, nhưng sớm lắm cũng chỉ một ngàn năm trước Tây lịch chớ không thể sớm hơn, bởi từ chiếc đá mài lưỡi rìu có tay cầm tiến lên phong kiến giai cấp, mất hai ngàn năm là vừa, không chậm cũng không mau.

Tuy nhiên, cái Mã Lai ngữ hay các phương ngữ Mã Lai trước đó, cũng vẫn là Việt ngữ phần nào rồi, bởi các danh từ chung của chủng tộc đã nằm sẵn trong đó rồi, kể cả vài yếu tố về văn phạm nữa.

Người Jeh nói: Nó, anh là tôi = Tôi là anh của nó (hơi ngược)
Người Mạ nói: Tôi ăn cơm = Tôi ăn cơm (xuôi)
Người Khả Tu nói: Tôi nhắm mắt = Tôi nhắm mắt (xuôi)

Thống nhứt xong rồi thì xuôi ngược gì phải một chiều hết thảy.

Nhưng đó chỉ là các phương ngữ của Lạc bộ Trãi, và Việt ngữ lạc bộ trãi.

Bọn Lạc bộ Mã chưa tới nơi mà Việt ngữ đã giàu 30 lần hơn mỗi bộ lạc trong 35 bộ lạc kể trên. Bọn Mã tới Việt thì Việt ngữ lại phong phú gấp đôi vì bọn ấy llại còn có nhiều danh từ riêng hơn các bộ lạc Trãi bởi họ đã lập quốc rồi ở Hoa Nam.

Đến năm 500 trước tây lịch thì bọn Lạc bộ Mã đến nơi và vua Hùng Vương lại vay mượn của bọn khách trọ ấy (tổ tiên của người Mường. Bấy giờ thì vua Hùng giống hệt như Nhựt Bổn ngày nay, là mỗi ý niệm có hai danh từ. Thí dụ như Nhựt lấy MASÉ của Nam Dương, (Mã) biến thành Mađa có nghĩa là NỮA, và lấy một trạng từ của một nhóm Trãi ở Nhựt để làm trạng từ NỮA thứ nhì của họ dưới hình thức NAO.

Chỉ phiền là không thể biết NAO và NỮA, tiếng nào chắc chắn đúng gốc tổ hơn, vì không thể theo dõi tất cả những danh từ thượng cổ được như chúng tôi đã theo dõi CÁ và TÔI.

Nhưng chúng tôi có cảm giác rằng NỮA đúng gốc tổ hơn vì đồng bào Thượng nói gần gần như thế, thí dụ người Sơ Đăng nói NẾÔ, giống Nữa của ta hơn là giống NAO của Nhựt. Tuy nhiên đó chỉ là một cảm giác, vì luật đa số không bao giờ được chúng tôi dùng để chứng minh cái gì hết.

Bọn Trãi ở Nhựt chắc không đồng số với bọn Trãi ở Việt Nam, và sự lựa chọn danh từ để thống nhứt cũng không giống nhau giữa dân Việt và dân Nhựt, nên Việt ngữ và Nhựt ngữ tuy có giống nhau, nhưng không phải là giống 100% được. Họ lại bị Trung Hoa tràn ngập nên họ mất danh từ nhiều hơn ta.

Một ngàn năm trăm năm sau đó, ta bắt đầu Nam tiến và gặp lại (dĩ nhiên là người Chàm, tổ tiên của người Mường), nhưng ta cũng gặp lại các nhóm Trãi mà 5000 năm về trước, không định cư ở lưu vực Hồng Hà, mà ở Trung Việt và Cao Nguyên. Ở Trung Việt họ đã bị người Chàm di cư đến, đánh đuổi họ lên Cao Nguyên để họ nhập bọn với Trãi nằm sẵn trên đó.

Hễ người Chàm lùi tới đâu thì ta lại gặp bọn Trãi xưa ở đó. Tới Quảng Trị, ta mới gặp lại người Bru, tới Huế mới gặp lại người Pacóh ở Asau, Alưới, tới Quảng Nam ta mới gặp lại người Khả Tu, và mãi cho đến năm 1623 ta mới gặp lại người Mạ đang làm chủ đất Đông Bắc Nam Kỳ, Cao Miên chỉ là chủ trên giấy tờ. Người Mạ là dân mà theo sử thì ta gặp lại sau cùng. Nhưng thật ra, dân mà ta gặp trễ nhứt là người Sơ Đăng và người Jêh. Ở Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bắc Bình Định, ta bị các thứ dân khác ngăn không cho ta liên lạc với Jêh và Sơ Đăng. Đó là dân Takua, Katua, CUA, vân vân… Những người Việt lái quế ở vùng đó, tiếng là nói mua quế Ngọc Lĩnh của người Sơ Đăng, nhưng thật ra thì họ chỉ được tới Trà Mi là đất của người Katua, Sơ Đăng bị vây tứ phía.

Vài năm trước khi Pháp xâm lăng ta, có một số người Việt bị bắt đạo, mạo hiểm chạy lên nơi này mà ngày nay là thị trấn Kontum. Nhưng nơi đó là đất của người Bà Na, và ta cứ bị các thứ dân khác ngăn ta với dân Sơ Đăng, vào năm 1840 ấy. đó là dân Rơngao, một thứ dân lai căng.

Ta (tức các cố đạo, chớ không phải thường dân) chỉ thật sự tiếp xúc được với người Sơ Đăng từ năm 1920 đến nay mà thôi.

Trong cuộc tái hợp này, đôi bên vẫn có học thêm với nhau, nhưng rất ít, vì ta đã văn minh lắm rồi, còn họ thì cũng đã đủ danh từ để dùng, còn có dư nữa là khác. Thí dụ ta học tên của một loại danh mộc Yêng Yêng của người Khả Tu ở Quảng Nam, tên của một loại danh mộc Cẩm Lai của người Mạ ở Biên Hòa.

Mỗi nhóm thượng học của ta được bao nhiêu danh từ trong lần tái hợp này, ta đều đếm được cả, nếu ta bỏ công ra học hỏi, không có vấn đề lẫn lộn thượng cổ, cổ và hiện kim được.

Nhiều danh từ, truy nguyên rất khó nhưng rồi cũng truy được. Thí dụ hiện nay người Mạ ở Lâm Đồng gọi chiếc xe môtô là Mayô. Chúng tôi tìm mãi mới hay rằng họ học với nông dân Biên Hoà thuở họ còn có mặt ở Biên Hòa. Nông dân Biên Hoà gọi xe đó là xe Máy Dầu. Máy Dầu biến thành Mayô được còn Môtô thì không.

Mạ là nhóm thượng mà ta có trao đổi ngôn ngữ nhiều nhất vì họ là nhóm thượng độc nhất ở đồng bằng, ít lắm cũng từ Mỹ Tho lên đến Biên Hoà và đã sống chung với ta ít nhất cũng 200 năm, họ chỉ rời khỏi Biên Hoà trên nửa thế kỉ nay thôi.

(Những nhóm Trãi khác như bà Na, Sơ Đăng, Khả Tu xưa cũng ở đồng bằng Trung Việt, nhưng bị Chàm đánh đuổi lên Cao Nguyên, còn Mạ thì không hề bị Phù Nam đánh đuổi vì Phù Nam quá kém và quá ít người. sử tàu chép rằng dân Phù Nam hỗn tạp về dòng giống là vì lẽ đó. Mạ được chấp nhận ở lại Nam Kì để làm công dân Phù Nam.

Chợt bọn lưỡng Hà đến nơi (chớ không phải Ấn Độ như sử Tây đã chép), lãnh đạo Phù Nam, lập ra một đế quốc lớn, nhưng Lưỡng Hà rất văn minh, cũng không đánh đuổi ai cả, mà để vậy hầu đồng hoá và thống nhứt Mạ.

Nhưng cấp lãnh đạo đó chưa hoàn thành sứ mạng thì đến thế kỉ thứ 6, bị Cao Miên diệt đi, người Mạ chỉ mới bị Phù Nam hoá nửa chừng thì lại bị Cao Miên hoá, nhưng cứ còn giữ đất. Mãi đến năm 1623, ta di cư vào Nam mà tổ chức tế nhị của ta làm bực mình họ, họ mới bỏ đất lần hồi cho ta, rút lần từ phái dưới lên Biên Hòa, và ngày nay thì họ chỉ còn có mặt lưa thưa ở Long Khánh, nhưng trung tâm thì ở Lâm Đồng.)

Họ là chủ đất nam Kì trước khi Phù Nam đến nơi (đồng lúc với Chàm tức 500 trước Tay lịch). Họ kém nên bị Phù Nam lãnh đạo. Phù Nam bị Cao Miên diệt quốc rồi thì họ bị Cao Miên lãnh đạo. Nhưng ta tổ chức quá chặt chẽ, không để lỏng lẻo như Cao Miên, nên họ khó chịu, rút lần lên Lâm Đồng hết và đến nay họ vẫn còn làm rẫy.

Một vài phụ chi quanh họ, định canh, nhưng chánh chi cử luân canh.

Danh từ của họ có len vào cả văn chương của miền Nam nữa, nhứt là trong ca dao, tục ngữ và họ dùng đến ba ngôn ngữ: Phù Nam, (Lạc bộ Mã) Cao Miên (Lạc bộ Chuy) và Lạc bộ Trãi của chính họ. Nhưng tất cả các danh từ của con người cổ sơ nơi họ đều là danh từ của Lạc bộ Trãi.

Ta phải thú nhận rằng ta kém người Chàm trong việc khai hoá đồng bào Thượng. Chàm là Lạc bộ Mã, thế mà họ làm thế nào mà ba nhóm Trãi và Churu, Rôglai và Jêh dùng đến 80 % danh từ của Lạc bộ Mã và định canh hẳn.

Người Mỹ tới đây rất trễ và khi họ nghiên cứu người Jêh họ kinh ngạc vô cùng vì người Jêh ở ngang Quảng Ngãi mà lại ăn nói hệt như người Nam Dương nên vài nhà ngữ học người Mỹ kết luận rằng Nam Dương đã di cư đến đó.

Người Mỹ không biết rằng hồi cổ thời, nơi đó khít vách với Chiêm Động là trung tâm văn hoá của Lâm Ấp rồi của Chiêm Thành. Họ cũng không biết rằng hồi đời xưa, người Chàm nói y hệt như Nam Dương. Họ lại cũng không biết rằng người Chàm không thể chối nhận có mandi ở cạnh kinh đô Indrapura được, thành thử họ chỉ còn một con đường độc nhứt là đồng hoá triệt để người quanh đó. Nhưng họ thất bại với người khít vách là người Takua và người Cua, nhưng lại thành công lớn với người Jêh ở trong xa, giáp ranh với Ai Lao. Họ nhờ đất của người Jêh để liên lạc với Chân Lạp vốn lập quốc ở Ai Lao hồi cổ thời, và chính vì thế mà Chàm ngữ lại mang hơi nhiều danh từ Cao Miên, khiến các ông Tây đời xưa đặt Chàm ngữ và Cao Miên ngữ vào một gia đình. Đó là một sai lầm to tát.

Bọn Lạc bộ Chuy Nam thiên cùng lúc với bọn Trãi, cách đây 5000 năm. Nhưng riêng Cao Miên thì không, mặc dù họ cũng là Lạc bộ Chuy. Bọn Nam thiên thượng cổ chỉ là người Munda rồi người Miến điện, tuy đồng gốc với Cao Miên, nhưng khác.

Ta biết được điều ấy nhờ quốc hiệu Cao Miên xưa là CHANH RA mà họ còn nhớ nghĩa là được Tàu phiên âm là Chơn Lạp. Chanh là người Tàu, trong ngôn ngữ Cao Miên. Còn ra thì người Pháp cho rằng là THẮNG. Chanh Ra là thắng Tàu.

Một sự kiện đáng ngạc nhiên ở Nhựt, bọn Mã lãnh đạo bọn Trãi. Thế mà danh từ Mã trong Nhựt ngữ lại bị biến nát hết, đến không nhìn nhau được nữa khi các nhà bác học Nhựt đối chiếu Mã ngữ và Nhựt ngữ.

NHỰT
Kaki bị biến thành Ashi = Cẳng
Masé Mađa = Nữa
Siang Asa = Buổi sáng
Muka Kao = Mặt
Bôcốc Boku = (cây) cối
Kiri Hiđari = Bên trái

Nhưng danh từ của bọn thua trận, bị lãnh đạo là bọn Trãi thì lại được giữ gần gần như nguyên vẹn:

TRÃI HỰT
Múa Mau
May Mai
Nữa Nao
Irau, Rửa rarr; Arau
Anuk Inú (chó)
Rui Taruki
Cây Ki
Tay

Vẫn là có biến, nhưng còn nhận diện với nhau được, như CÂY biến ra KI, chí như CỐI là BÔCỐC mà biến thành BÔKU thì khó lòng mà nhận bà con.

(Theo luật Swadesh, thì danh từ Ashi của Nhựt, chỉ mới có lối hai trăm năm thôi, vì danh từ KAKI còn nguyên vẹn trong Nhựt ngữ, và ở độc một trường hợp: Mizukaki = Cẳng nước = Cẳng có bẹ như cẳng vịt, cẳng ếch.

Kaki rụng đầu K vào năm 500 trước Tây lịch chẳng hạn, tức còn lại AKI, mãi cho tới năm 500 sau Tây lịch, đúng một ngàn năm, theo luật Swadesh, thì mọc khúc giữa S, hoá ra là ASKI.

Aski thọ suốt ngàn năm, tức cho tới năm 1500 sau Tây lịch ngang với Mạt Lê của ta thì lại mọc thêm khúc giữa H, sau khi rụng khúc giữa K. Sự mọc và rụng nầy đi song đôi với nhau trong vòng ba trăm năm, cho đến năm 1800, thì Ashi thành hình: ASKI → ASHI.

Mong các nhà bác học Nhựt tìm cổ văn của họ để kiểm soát xem lịch trình biến dạng Kaki → Ashi ra thế nào, có đúng như những bài toán mà chúng tôi đã vẽ phác ra theo luật Swadesh hay chăng.)

Lạc bộ Trãi (Bắc Việt) nói NA NÁ thì Lạc bộ Trãi Nhựt cứ còn được phép nói ANNA. Nhưng Lạc bộ Mã (Nam Dương) nói NANA = TRÁI DỨA, TRÁI THƠM, TRÁi KHÓM, thì tức thì Lạc bộ Mã (Nhựt) biến thành PAINAPPURU.

Nếu đó là vay mượn của Anh PINE- APPLE thì lại còn tệ hơn nữa vì cả hai nhóm Trãi và Mã ở Nhựt đều mất hết ngôn ngữ đợi tiếp xúc với người Anh mới gọi tên được loại trái đó.

Họ mượn danh từ Châu Âu một trăm lần nhiều hơn ta, cả trái chanh cũng bị gọi là RIMON tức LIMON, nhưng riêng về NANA của Nam Dương thì không chắc Nhựt mượn Pine-Apple vì chính Châu Âu đã mượn NANA để biến thành ANANAS thì không lẽ kẻ cho vay lại đi vay lại của con nợ, nên chúng tôi nghĩ rằng Painappuru là do gốc tổ NANA bị biến dạng bậy bạ. Khi họ dám biến KAKI → ASHI thì họ dám biến tất cả. KAMI là MÌNH, tiếng của thần tự xưng với loài người thế mà lại bị biến thành ÔNG THẦN thì họ dám biến tất cả ra tất cả, chỉ trừ danh từ của bọn thua trận thì được để yên, chẳng những thế, mọi ngành hoạt động văn hoá nghệ thuật đều dùng danh từ của bọn thua trận, đồ sứ là Sêtômônô = Món Lại Hộ, kịch phong tục thì SEWA- MONÊ tức MÓN XIƯƯA, mà XƯA của bọn Trãi có nghĩa là PHONG TỤC; truyện cổ tích là SETSEWA tức TÍCH XIƯƯA.

Ta có thể tưởng tượng rằng bọn Trãi ở Nhựt tuy thua trận các Thiên Hoàng, nhưng chỉ thua ở đường tơ kẽ tóc mà thôi, và kẻ lãnh đạo phải kính nể kẻ bị lãnh đạo đến mức không dám đụng tới danh từ của họ.

Hiện ngôn ngữ đó giải thích được sự kiện ở Nhựt hồi trung cổ, nội chiến xảy ra nhiều hơn ở nước ta bội phần.

Sử Nhựt hoàn toànk biết gì hết về nguyên nhơn dân tộc mà chỉ đưa ra các nguyên nhơn khác, bởi họ không biết rằng Nhựt vẫn có hai thứ Mã Lai y hệt như ở Việt Nam, và có hai thứ danh từ khác nhau, trừ những danh từ danh của con người Mã Lai nguyên thủy thì mới giống nhau được như HẠ, SAKANA, TÊ, KI.

Cũng nên biết rằng khi bọn Mã từ Nam Dương lên xâm lăng bọn Trãi, thì bọn Trãi đã văn minh cao rồi nhờ di dân Trung Hoa do hậu duệ Phù Tô đưa sang Nhựt trên hai trăm năm trước khi bọn Mã tới.

Có lẽ bọn Mã chỉ thắng nhờ lực lượng quân sự, và cũng chỉ lãnh đạo nhở lực lượng quân sự, còn văn hoá thì cứ do bọn Trãi nắm giữ.

Và bọn Trãi học tiếng Tàu không có thầy vì bọn Phù Tô gòm toàn nông dân và thợ, thế nên người Nhựt dùng tiếng Tàu quá kì cục. Thay vì vay mựơn danh từ CANH (ăn cơm của Tàu, như ta đã làm, họ lại sáng tác bằng cách nhập một tiếng Tàu là HẤP với một danh từ Trãi là MÓN. Nhưng họ lại đọc HẤP là SUI. Hoá ra CANH của Nhựt Bổn là SUIMÔNÔ.

Bọn Mã tới nơi, thắng trận, nhưng chẳng biết Ất Giáp gì hết cũng nói SUIMÔNÔ y hệt như bọn Trãi đã học nhảy dù, như vậy từ hai ngàn năm rồi.

Dưới đây là một nhận xét để giúp người Nhựt đi tìm bà con thật cật ruột. Về động từ Rửa thì hiện trong lãnh thổ Việt Nam, nó có mặt dưới các hình thức sau đây:

Việt Nam: Rửa
Mạ: Irau
Sơ Đăng: Jíu
Sơ Đăng:
Khả Tu: Arau

Nhựt nói là ARAU, không khác Khả Tu một nét. Khả Tu ở ngang Đà Nẵng về mặt vĩ tuyến nghen các Anata. Người Nhựt gọi con CHÓ là INÚ, người Khả Tu gọi là ANUK, người Nhựt gọi CHỊ là ANE, người Khả Tu gọi là Anô. Nhựt gọi màu vàng là KI, người Khả Tu gọi là RI. Chắc chắn là Khả Tu ở Nhựt đã lãnh đạo phe Trãi ở Nhựt vì nếu dân nào ở V.N cũng có Rửa, có Arau, thì chỉ có dân Khả Tu là có ANUK, ANÔ và RI.

Các nhà ngữ học Pháp làm việc cho Việt ngữ tiền chiến, đã có một chủ trương sai lầm như sau: “Vào thế kỷ X… thì Việt ngữ và Mường ngữ tách rời ra, Việt ngữ biến dạng, thay đổi nhiều, còn Mường ngữ thì không.”

Chủ trương trên đây có đúng hay không? Ta chưa vội đáp, chỉ biết là nó hàm một yếu tố sai, không được nói ra.

Chủ trương đó, làm cho ai cũng hiểu rằng Việt ngữ và Mường ngữ trước đó là một. Đó là một sai lầm. Sở dĩ có chủ trương ấy vì vào những năm mà các ông Tây nghiên cứu Việt ngữ, chưa ai biết người Mường là dân nào cả, và giới học giả chia làm hai phái, một phái cho rằng người Mường là ai không biết, phái khác cho rằng họ là người Việt 100%. Chính những nhà ngữ học nói trên thuộc vào nhóm sau, mà đại diện là ông H. Maspéro.

Nay chúng tôi dựa vào ngôn ngữ tỷ hiệu thì biết chắc rằng người Mường là Austronésien, tức Mã Lai đợt II, tức Lạc bộ Mã, thì Việt ngữ và Mường ngữ là hai chớ không phải một, về mặt dân tộc. Về chủng tộc, dĩ nhiên họ và ta là một.

Hai thứ Mã Lai đó chỉ giống nhau 40% về danh từ mà thôi. Đó là những danh từ căn bản của con người Mã Lai nguyên thỉ. Về sau, họ tách rời ra, sống ở hai địa bàn khác nhau là Hoa Bắc và Hoa Nam, nên họ sáng tác 60% còn lại, khác nhau hết.

Nhưng người Mường lại đặc biệt là đã tái hợp với ta vào năm 500 T.K theo tiền sử học cho biết, và họ định cư ở Bắc Việt với tư cách dân bổ sung, làm khách trọ, nên rồi họ phải học theo ta, vì thế mà rồi 60% của họ, sau đó, họ phải bỏ đi, và nói như ta, nhưng lại đọc không giống được hệt như ta.

Học tiếng Mường, ta thấy rằng họ dùng danh từ như ta, nhưng cứ còn sót lại lối ba bốn trăm danh từ của Nam Dương, tức của Lạc bộ Mã mà không ai chú ý, vì những nhà nghiên cứu Mường ngữ không biết tiếng Nam Dương. Thế rồi họ xem mấy trăm danh từ ấy là của cổ Việt, mà Việt Nam không dùng nữa.

Mường: No ti = Ở đâu
Nam Dương: Đi mana = Ở đâu

Họ đã nuốt MA vì chịu ảnh hưởng độc âm của ta, còn Di-Na bị bảo lộn thành Noti: Vậy Noti là sự đảo lộn và biến dạng của Đina của Nam Dương chớ không bao giờ là hình thức cổ của Ở Đâu của Việt Nam.

Mường = La no pò = Làm sao vậy.
Nam Dương = Apa = Làm sao.

LA NO PÒ cũng chẳng dính dáng gì tới tiếng Việt cổ hết.

Trong quyển sử, chúng tôi có trình ra hai danh từ Mường giống hệt danh từ Nam Dương:

Mường : Tô = Cây dâu tằm
Nam Dương : Pơ tô = Cây dâu tằm
Mường : Pơ Đuông = Lúa gạo
Nam Dương : Pađi
Chàm cổ : Pơđa
Chàm kim : Pađai
Rađê : Pơđai
Giarai : Pơđai

Thế thì không có sự tách rời nói trên bao giờ, và trước sau gì họ cứ khác. Ta có thể phân chia như sau:

40% giống nhau từ thượng cổ: cứ còn
60% khác nhau.

Như đã nói, bia trên đền Hùng đã nói đến HÙNG. Đó là các cụ nhà Nho đã Hoa hoá một danh xưng Việt, chắc chắn là như vậy, chớ Việt ngữ thuần túy không có tiếng Hùng. Các cụ Hoa hoá nhưng vẫn Hoa hoá cái gì chớ không phải sáng tác, mà cái gì đó thì hiện nay không ai còn nhớ nữa, chỉ thấy đồng bào ở Bắc Cao Nguyên gọi ta là Ađuôk.

Thế thì rất có thể họ gọi theo cổ thời, chớ Chàm, Cao Miên, Ấn Độ đều không có danh từ AĐUÔK còn người gọi ta là AĐUÔK lại cũng chẳng biết AĐUÔK là gì. Ta cứ tạm kết luận rằng AĐUÔK có nghĩa là HÙNG, rồi tìm học thêm vì có vài nhóm Thượng hiện chưa bao giờ được ai biết ngôn ngữ ra sao như một nhóm định cư giữa người Sơ Đăng, người Khả Tu và người Jêh, nhóm ĐI.

Chương VII - Mình với ta tuy hai mà vẫn cứ là hai hay là Trò chơi xí cột của các đại danh từ Mã Lai

Chúng tôi không biết ở Trung và Bắc có trò chơi xí cột hay không nên phải giải thích sơ qua vài dòng. Trò chơi thường xảy ra ở một ngôi nhà lớn mà trống trải, một vựa lúa to, vào lúc mãn mùa chẳng hạn, trong đó phải có nhiều cây cột không bị chướng ngại vật ngăn trở, ít lắm là mười cây.

Nếu có mười cây cột thì trẻ con phải đông 11 đứa. Mười đứa làm chủ mười cây cột, còn một đứa thì dư, không có đất cắm dùi. Thế là nó thua. Nhưng nó chưa thua vì các đứa “xí”, tức “cướp” được cột, phải thay đổi với nhau, chớ không được phép giữ chỗ một cách cố định, không giây phút nào sự đổi chỗ được phép ngưng hết. Và đứa thất nghiệp sẽ mau chơn cướp một trong hai, ba, bốn cây bị bỏ trống trong vài giây ấy thế là nó lại được và một đứa khác phải thua.

Các đại danh từ của chủng Mã Lai cũng thế. Nhưng chúng tôi chỉ nghiên cứu có chi Âu tức Thái và chi Lạc với ba phụ chi là Lạc bộ Trãi, Lạc bộ Mã, và Lạc bộ Chuy mà thôi, còn chi Nam Ấn, Trung Mỹ và Đại Hàn chúng tôi còn đang tìm học, thì xin chừa họ ra.

Ta có dân ca (hay thơ?):

Mình với ta tuy hai mà một
Ta với mình tuy một mà hai.

Nhưng trong ngôn ngữ Việt Nam thì MÌNH với TA, tuy hai mà vẫn cứ là hai.

Chúng tôi bắt đầu xét ngôn ngữ của chủng Mã Lai từ thời thái cổ đến nay, và chúng tôi chia các thời kỳ lịch sử của chủng Mã Lai như sau:

Thái cổ: Haute antiquité: 8 ngàn năm
Thượng cổ: Antiquité: 5 ngàn năm
Cổ: Epoque archaique: 3500 năm
Trung cổ: Moyen âge: 2500 năm

Đến năm 40 sau Tây lịch thì một biến cố lớn xảy ra, làm xáo trộn ngôn ngữ của ta quá nhiều. Đó là cuộc xâm lăng của Mã Viện. Và từ lối năm đó, thì Việt ngữ vốn là Mã Lai ngữ đa âm, bị độc âm hóa và nhiều biến chuyển nữa xảy ra.

Chúng tôi đi theo sát lịch sử của chủng tộc là chủng Mã Lai nó chia rõ rệt ra thành các thời kỳ sau đây:

I - THÁI CỔ: sống chung nhau quanh núi Himalaya

II - THƯỢNG CỔ: tách rời để di cư đi Ấn Độ và Hoa Nam, Hoa Bắc

III - CỔ: tái hợp tình cờ vì cuộc săn đuổi của Tàu. Trước thời tái hợp có một biến cố lớn là các chi nhóm đã lập quốc rồi ở bên Tàu, và ở Đại Hàn, Nhựt Bổn, Việt Nam, v.v. Vậy khi tái hợp là văn hóa đã hơi khác nhau đôi chút vì sự định cư lâu đời ở các quốc gia đó, và các nhóm đều phong phú thêm về ngôn ngữ, nên lại học qua học lại với nhau, y như học của ngoại quốc.

IV - TRUNG CỔ: lại tách rời, rồi các chi nhóm bị ảnh hưởng ngoại lai của Tàu và Lưỡng Hà, Á Rập, Ấn Độ.

Trong thời Trung cổ nầy thì Việt ngữ thành hình hẳn với những vay mượn của thời tái hợp và của Tàu.

Họ đã lập quốc ở bên Tàu, đã sáng tác thêm, nhưng cái MẶT cứ là MATA, con MẮT cứ là MATA, LÁ cứ là HALA, cứ là ĐOAN, CÂY cứ là KÂY, kaỹu.

Nhưng những thứ tế nhị hơn thì đã khác.

Chúng tôi đi từ cái ta đến gia đình, đến thiên nhiên, đến dụng cụ, đến đời sống tinh thần, và mặc dầu nghiên cứu ngôn ngữ ta lại biết được những sự kiện lịch sử mà tiền sử học không cho biết.

Quả thật tiền sử học không có phép mầu. Nhưng ngôn ngữ học và các khoa học khác có cái gậy thần ấy và cùng lúc với nghiên cứu ngôn ngữ, ta thử tìm biết đời sống tinh thần và tâm linh của dân ta xem sao.

Đây là một phần trong một ngàn trang (chớ không phải 500 trang) sách của quyển NGUỒN GỐC MÃ LAI CỦA DÂN TỘC V.N bị lọc ra, vì quyển đó quá dầy sẽ bán không được. Và chúng tôi làm được vài quyển nho nhỏ với cái phần bị lọc đó.

Đại danh từ TÔI của chủng tộc, thuở ban đầu dĩ nhiên không phải là TÔI đâu. Nó đã tan nát rồi, vào thời tái hợp, nhưng ta khôi phục lại được cái đại danh từ tối quan trọng đó.

Nó chỉ còn tồn tại trong chi Lạc bộ Trãi và Lạc bộ Mã, còn chi Âu đã nói là CHUN, chi Lạc bộ Chuy đã nói là KHNHUM từ hơn 2000 năm nay.

Cái TÔI cổ lối 6 ngàn năm đã tìm lại được ở chương I. Đó là ANY với một bầy con đông vô số kể.
Vua Hùng Vương nói AI. Nhưng bọn Lạc bộ Mã bị Tàu săn đuổi, đến ở trọ với Vua Hùng lại nói AKU. Ta không bỏ AI, không cóp AKU, nhưng ta sử dụng nó cũng khá linh động.

Từ nhiều trăm năm nay, dân ta đã quên tiếng Việt, ngỡ Quan Lang là ông quan có tước là Lang. Nhưng không phải vậy đâu. Đó là KUANG T’LANG.

KUANG là danh từ của ta, tức của Lạc bộ Trãi, có nghĩa là tù trưởng. Còn T’LANG là danh từ của khách trọ mà ta vay mượn có nghĩa là thái ấp nhỏ.

Kuang T’lang = Tù trưởng thủ lãnh 1 thái ấp nhỏ.

Hôm nay một sự lầm lẫn y hệt như thế đang xảy ra tại Ninh Thuận. Người Chàm là Lạc bộ Mã, lại vay mượn danh từ KUANG của Thượng Việt là Trãi và dùng để gọi ông Quận Việt Nam. Kuang đã biến thành Quan, lại đang biến thành Quận.

Bọn khách trọ văn minh, đã đóng góp để kiện toàn văn hóa ta, mà vua Hùng ban thái ấp cho họ, ban các T’lang mà hiện nay họ còn giữ với tước KUANG bị hiểu lầm là QUAN.

Nhưng ta đã hiểu lầm một cách tai hại hơn. Đối với Lạc bộ Mã thì Kuang T’lang = Thằng tù trưởng.

Thế thì khi ta gọi người Mường là Quan Lang thì họ bị mích lòng ghê lắm, nếu họ còn nhớ tiếng Việt cổ thời của bọn Lạc bộ Mã.

Phải gọi họ là Kuang T’lang Aku, nói tắt là KUANG T’LANG KU mới là có lễ độ, vì từ ngữ ấy có nghĩa là: Bẩm tù trưởng CỦA TÔI.

Lối nói đó, giống Tây, nhưng hữu lý hơn Tây. Tây nói VOTRE MAJESTÉ = Bệ hạ của các anh, thì còn nghĩa gì nữa!

Ta đã quên hết tiếng Việt rồi, từ ngày mà ta dời KU để đứng trước các nhân vật, chứ không phải sau: Cụ Tuần, cụ Phán, v.v.

Đây là vay mượn chớ không còn là danh từ chung nữa nên ta biến và dùng sai, vì ta không thạo nghĩa. Danh từ nào vay mượn là biết ngay, vì nếu có biến dạng, biến nghĩa, nó vẫn còn có lý. KU biến thành CỤ và dời chỗ thì còn có lý, nhưng nó tự lật tẩy nó rằng nó là con vay mượn ở trường hợp sau đây, mà ta hiểu bậy bạ quá sức tưởng tượng.

Khi Lạc bộ Mã (và hiện Nam Dương còn dùng y hệt như hồi cổ thời) giới thiệu con trai nhỏ của họ với ai, họ cũng dùng AKU, không phải với ý nghĩa tôn kính quan to nữa, mà với ý nghĩa quý báu đứa con đó.

Anak Aku = Con nít của tôi.

Rồi họ cũng co rút Aku thành Ku. Nhưng lần nầy thì Việt Nam không đảo ngữ nữa, mà cứ để vậy, thay Anak bằng danh từ THẰNG và cho KU một ý nghĩa kì dị: cơ quan sinh dục của con trai: ”Thằng cu Tí, thằng cu Tèo”.

Khi giới thiệu con gái bé, Nam Dương nói: “ Anak gađi”.

Gađi = Con gái bé trinh trắng.

Cả hai tiếng tốt đẹp là KU và GAĐI đều bị dân tộc Việt Nam cho một cái nghĩa xấu nhất thế giới.

Anak Gađi = Cái đĩ.

Ở đây Anak bị thay bằng CÁI và Gađi bằng ĐĨ.

Nhưng ĐĨ thuở ấy (thời Hùng Vương) vẫn còn nghĩa là gái bé trinh trắng. Nó chỉ xấu về sau này, khi ta có danh từ đồng âm là CON ĐĨ mà thôi.

Danh từ CON ĐĨ do tiếng Tamoul (Dravidien Nam Ấn) mà ra, không biết nó len vào Việt ngữ từ hồi nào, và bằng cách nào. Đó là danh từ CHAN ĐI. Nhưng không phải là danh từ chung thượng cổ đâu vì hồi thượng cổ không hề có nghề mãi dâm.

Tóm lại KU và ĐĨ thuở xưa rất tốt đẹp. Tiếng thứ nhứt bị ta quên nghĩa rồi hiểu sai, rồi tiếng thứ nhì thì rủi ro đồng âm với CON ĐĨ do Chanđi tạo ra, khiến ta ngộ nhận về sau.

Ngôn ngữ phiêu lưu kinh khủng và viết về lịch sử ngôn ngữ còn khó hơn là về lịch sử dân tộc nhiều lắm. Nào ai dè trong Việt ngữ lại có danh từ Mông Cổ, danh từ Tamoal, mà lại là những danh từ tối quan trọng vì KẺ và HỌ là hai ý niệm có tầm vóc lớn, còn CON ĐĨ tuy là chuyện xấu xa nhưng vẫn đánh dấu một biến cố lớn trong xã hội Việt Nam: sự xuất hiện của nghề mãi dâm.

Rồi ta sẽ thấy còn nhiều danh từ lạ nữa, mà Phạn ngữ là một.

Danh từ Kuang T’lang cho ta biết thật đích xác chế độ xã hội Việt Nam vào năm 500 T.K, năm mà tiền sử học cho biết rằng Lạc bộ Mã (tổ tiên người Mường) đến ở trọ với vua Hùng Vương.

Nước nhà đã thống nhứt theo chế độ phong kiến vì còn thái ấp, và không khác ngày nay ở xứ Mường chút nào cả. Nhưng vua Hùng Vương lại không có một danh từ để ban cho thái ấp trưởng, mà tạm dùng danh từ Kuang là tù trưởng.

Tù trưởng chỉ là trưởng của bộ lạc thôi chớ.

Điều thứ nhì mà ta được biết là bọn khách trọ ấy vẫn được trọng đãi, vì được phong kiến ở những thái ấp nhỏ, chớ không phải chỉ được làm thường dân mà thôi. Sở dĩ được vậy là nhờ họ đã văn minh lắm và giúp vua Hùng kiện toàn văn hóa.

Bọn Mã rất văn minh. Chính họ là tác giả trống đồng. Vua Hùng Vương kết nạp họ vì tình đồng chủng (40% danh từ giống ta) mà cũng để kiện toàn văn hóa của Văn Lang. Chính họ là kẻ đã đưa đôi đũa ăn cơm tới với danh từ ĐŨA.

Đừng tưởng đó là chuyện chơi. Cho tới năm nay người Ấn Độ văn minh là thế, vẫn còn ăn cơm bằng ngón tay. ĐUA vốn là chỉ số từ có nghĩa là hai, họ và ta biến thành ĐÔI và ĐŨA.

Nhưng vua Hùng Vương cũng không vừa gì, bằng không, ông đã mất ngôi, y như bọn Trãi ở Nhựt Bổn. Thiên Hoàng mà bọn Mã đến cướp ngôi của bọn Trãi đã lập quốc rồi. Vua Hùng Vương cũng đã tiến lên thời đại đồng pha (cổ vật núi Voi) và hơn bọn Mã về nông cụ. Họ có lưỡi HÁI. Đó là danh từ mà trước đó ta không có. Nhưng vua Hùng Vương có lưỡi A, mà:

Một lưỡi A, bằng ba lưỡi hái.

Tuy nhiên phải nhìn nhận rằng bọn ấy văn minh lắm, vì họ lập quốc lâu đời hơn vua Hùng Vương, quanh hồ Động Đình.

Chính bài dân ca ông Nỉnh ông Nang là của họ chớ không phải của ta:

Ông Nỉnh ông Ninh
Ông ra đầu đình
Ông gặp ông Nảng ông Nang
Ông Nảng ông Nang
Ông ra đầu làng
Ông gặp ông Nỉnh ông Ninh.

Có thuyết cho rằng ông Ninh là nói ngọng hoặc hình thức cổ của ông Linh (thiêng). Còn ông Nang là hình thức cổ của ông Lang.

Nhưng chúng tôi cũng có bằng chứng rằng hồi đầu Tây lịch dân ta gọi ông Lang là T’BOT. Lang là tiếng Tàu thì ta không làm sao mà có được vào tới Hùng Vương.

Vả lại nếu Ninh là Linh Thiêng thì linh thiêng chỉ có thể hiện ở đầu đình, nhưng mà ông Ninh cũng hiện diện ở đầu làng như loài người thì không ổn. Vả lại ta cũng chưa vay mượn tĩnh từ Linh của Tàu.

Hiện nay người Nam Dương (Lạc bộ Mã) vẫn có một tục ngữ tương tự, nhưng ý nghĩa thì khác hẳn.

Lang là Lanang = đàn ông lực lưỡng.
Nin là Lilin = cây nến

Dân ta biến L thành N và I thành Ế.

Nhưng ĐÀN ÔNG với CÂY NẾN là cái quái gì? Đó là hai danh từ trong câu tục ngữ mà chúng tôi ám chỉ đến. Cây nến là tục danh dùng để gọi đùa những người đàn ông ẻo lả và vừa gầy lại vừa cao. Tục ngữ ấy đối chiếu hai loại nông dân có hình thù khác nhau, để đùa chơi vậy thôi.

Tục ngữ của MIỀN DƯỚI là như thế này: PUTƠRI LILIN, LANANG LAKI. Định nghĩa đen là: Công chúa cây nến gặp NÔNG DÂN ĐỰC LỰC LƯỠNG.

Ta biến Lanang thành Nang, Nảng.

Ta biến Linin đến hai ba lần:

Linin → Ninin
Ninin → Nin, Ninh
Nin → Nến

Lần biến sau cùng là vào thời Mã Viện mà ta bắt đầu bị độc âm hóa. Nhưng bài ca dao thì đã có trước đó vào giai đoạn nến còn là Ninh.

Ngày nay NANG hình như còn có mặt trong Việt ngữ với nhưng hình thức sau đây:

(Nây) NẤN – (Bắp thịt) U NẦN.

Dân ca họ đi vào xã hội ta, cho thấy rằng thuở ấy họ và ta sống lẫn lộn với nhau chớ họ không sống biệt lập như ngày nay, vì thế mà chúng tôi chấp nhận truyền thuyết Mường, bởi không còn ai biết ai là con cháu của Trãi hay Mã nữa.

Vua Hùng Vương có Ừ mà không có DẠ, chính bọn ấy đã đưa YA tới mà hiện Miền Dưới còn dùng.

Tóm lại, đó là thứ dân bổ sung có đời sống tinh thần và tâm linh tế nhị rồi. Hơn thế vì đã lập quốc từ trước cả đời Tây Chu nữa, nên họ đã có những danh từ quí phái. Hơn thế, quanh họ có lu bù nước Việt văn minh bằng nhau (Sở, Ngô, Việt, Mân Việt) nên họ càng dễ văn minh hơn là vua Hùng Vương trơ trọi một mình ở Văn Lang.

Giàu danh từ quí phái, họ có đến ba đại danh từ ngôi thứ nhứt:

AKU: để người xưng hô với người
KITA: để xưng hô với dân
KAMI: để thần xưng hô với người.

Thần ở đây là thánh trong tôn giáo đồng bóng mà vua Hùng Vương cũng có, nhưng lại không có đại danh từ.

Vậy vua Hùng Vương đã vay mượng KITA của họ để phân biệt quí với tiện.

Y như Tần Thủy Hoàng lên ngôi rồi tự xưng là Trẫm, bắt dân tự xưng là Ngã là Ngô.

Dĩ nhiên là thánh thần của bọn Lạc bộ Trãi vốn nhà quê trước đó, tự xưng Ai, Any, bấy giờ cũng bước lên một bước trên đài danh vọng và cũng tự xưng là KAMI. Câu chuyện xảy ra cách đây 2500 năm.

Sống chung với nhau vài trăm năm thì Lạc bộ Mã (người Mường) và Lạc bộ Trãi đều biến KAMI thành ra MIN. Và MIN tồn tại cho tới năm các cố đạo Tây Phương đến xứ ta.

Hiện nay thì thánh thần ở Nam Dương cứ tự xưng là KAMI chớ không có biến.

Kẻ biến bậy có lẽ là Lạc bộ Trãi. Còn tổ tiên của người Mường, vì cái thân ở trọ, đành phải biến theo, chớ Chàm và Nam Dương có chủ quyền thì không biến!

Quí vị thấy AKU biến ra thiên hình vạn trạng, bây giờ ta theo dõi nhưng biến dạng của đại danh từ KITA.

Vua Hùng Vương chỉ tiếp tục tự xưng là KITA cho đến khi trào đại bị Thục Phán diệt. Nhưng dân thì chưa trèo đèo tự xưng là KITA. Ngày nay ở Miền Dưới (trừ Phi Luật Tân) đã mất vua rồi, thế mà chỉ có leo heo vài tỉnh, dân mới dám trèo đèo tự xưng là Kita mà thôi.

Dân ta trèo đèo có thể vào thời Đinh Bộ Lĩnh vì ông vua ấy bắt chước Tàu, tự xưng là TRẪM, Kita bị bỏ ngỏ. Nhưng khi trèo đèo ta bỏ mất âm KI. Người Chàm trèo đèo vào thời nào không rõ, nhưng âm ki chỉ được họ giữ lại có chữ K mà thôi.

Nam Dương: Kita (Dân chưa dám dùng)
Phi Luật Tân: Kita (Dân đã dám dùng)
Mã Lai Á (Kơlantan): Kita (toàn quốc không dám dùng nhưng tỉnh Kơlantan thì dám)
Đại Hàn: Đại Hàn là Lạc bộ Trãi thuần túy nên không có đại danh từ này.
Việt Nam: Ta (Thả cửa)
Chàm: Kta (Thả cửa)
Giarai: Ta (Thả cửa)
Mường: Ta (Thả cửa)

Cái TA thứ ba là TA của thánh thần cũng bị biến lung tung.

Khi các cố đạo Tây Phương đến xứ ta để giảng đạo thì họ mượn KAMI (đã biến thành MIN rồi) để đặt vào miệng đức Giê Su. Khi thánh của nước ngoài dùng đại danh từ đó thì tự nhiên dân tộc ấy nó mất cả nghĩa thiêng liêng, thành thử họ cũng tự xưng là MIN một cách trèo đèo.

Khi ta đọc sách truyền đạo của các cố đạo Kitô giáo, viết bằng quốc ngữ hồi thế kỉ 17, là rất ngạc nhiên, tự hỏi sao đức Chúa Trời, đức Chúa Giê Su không tự xưng với loài người là TÔI ĐÂY, TAO ĐÂY, mà tự xưng là MIN đây, chữ MIN đó không có H cuối.

Các ông thuộc sách giảng đạo làu làu cũng trả lời được khi ta hỏi họ nguồn gốc của đại danh từ MIN ấy trong Việt ngữ, họ chỉ nói đó là tiếng cổ.

Nay ta đã biết rằng ta là Mã Lai rồi thì mọi việc đều rõ. Hơn thế ta lại biết ở cổ Việt, Lạc bộ Trãi vững ngôi với các ông vua Hùng Vương, khi bọn Lạc bộ Mã tới bổ sung cho dân số của vua Hùng.

Còn dân chúng trèo đèo tự xưng là Min vào thời nào? Chắc là không ai dám phá nổi bí mật của thời gian đó, mặc dầu nó chỉ mới xảy ra không lâu, nhưng theo thư tịch thì ta biết, ta biết cả tên của kẻ trèo đèo. Đó là Nguyễn Du trong câu thơ:

Thôi đà cướp sống chồng min đi rồi.

Một khi mà Min bị thần ngoại quốc dùng thì dân ta thấy rằng nó hết thiêng liêng, nên họ mới dám có sự trèo đèo ấy.

Ông Nhựt Bổn biến kì dị vô cùng. Thánh thần của ông không biết tự xưng là gì, nhưng ông thì biến đại danh từ KAMI đó thành danh từ với cái nghĩa ÔNG THẦN.

Thế nên khi đi tìm chủng tộc, họ mới phải điên đầu, vì so với ai, họ cũng khác hết.

Bọn Lạc bộ Mã văn minh lắm, như ta đã thấy với ba cái TÔI rắc rối của họ.

Cái Mầy của chung, nhưng cả hai, Mã và Trãi lại cũng có cái Mầy riêng.

Miền Dưới: Mika = Mầy
Bà Na: Mi = Mầy
Việt Nam: Mi = Mầy
Mạ: Mi, Mai = Mầy
Nhựt Bổn: Kimi = Mầy

Nhưng đã yên đâu nào. Họ còn có một cái Mầy lễ độ nữa, rắc rối lắm là nó giống hệt cái ta của họ.

Miền Dưới: Kita = Mầy ( lễ độ)
Cao Miên: Eng = Mầy (lễ độ)
Việt Nam: Anh = Mầy (lễ độ)
Mạ: yiêng = Mầy ( lễ độ )
Chàm: Ai = Mầy ( lễ độ)
XiTiêng: Ay = Mầy ( lễ độ)
Ra Đê: = Mầy ( lễ độ)
Sơ Đăng: = Mầy ( lễ độ)

Ông Nhựt lấy Anh + Kita = Anata = Mầy ( lễ độ).

Thì cũng như ông Nhựt lộn xộn nên không còn nhận ra bà con nữa.

Đại danh từ KITA = Mầy (lễ độ) chỉ có dân Mã Lai Kedah là dùng mà thôi, nhưng anh Nhựt, có lẽ vốn đồng gốc với Kedah, nên anh ấy biết và mới nhập hỗn loạn như thế đó.

Ở Nhựt Bổn thủ phạm là Lạc bộ Mã, vì Lạc bộ Trãi đã mất ngôi, chịu phận đàn em, ngôn ngữ chánh thức là ngôn ngữ Đông Kinh (Tokyo) mà đó là ngôn ngữ của bọn Lạc bộ Mã, bọn đã cướp ngôi của Lạc bộ Trãi và tự xưng là Thiên Hoàng từ 2000 năm nay.

KAMI với MIKA lộn lẹo điên đầu, nhứt là hai tiếng lại giữ hai ngôi: KAMI ngôi thứ nhứt, MIKA ngôi thứ nhì. Không phải chỉ là sự tình cờ mà có chuyện lộn lẹo như vậy đâu. Ta thấy có sự liên hệ tư tưởng giữa Kita, Kami và Mika. Kita và Kami đều là tôi, chữ thứ nhứt, vua chúa dùng, chữ thứ nhì thánh thần dùng. Nhưng cái âm quan trọng trong đó là âm KI biến thành âm KA chớ không phải là âm MI.

KI nghĩa là Ta đây, thấy rõ trong KITA.

KA nghĩa là ta đây, thấy rõ trong KAMI.

KAMI, ngôi thứ nhứt, thì KA phải đứng đầu.

MIKA, ngôi thứ nhì thì MI phải đứng đầu, vì kẻ quan trọng không còn là Ka nữa mà là Mi, kẻ được gọi đến.

Ta cứ nói lên một câu mà một vị thần của ta xưa nói với con công và đệ tử, ta sẽ buồn cười lắm: ”Mika phải cúng cho Kami một đĩa xôi đấy nhé!”

Còn vua Hùng Vương thì nói với một thần dân như thế nầy: Kami chém kal mika. KAL tức là CÁI, tức LICÁY, mà Lạc bộ Trãi trên Cao Nguyên dùng để chỉ cái đầu.

Dân thì nói: ”Chắc con kớt puôn rợ: kal, chắc, tay, jơn” (Thân thể người có bốn phần, đầu, mình, tay, chơn). Lạc bộ Trãi Cao Nguyên không đọc là chơn mà đọc là jơn. Xưa kia ta cũng phải đọc là jơn, không thể khác hơn được.

Ta lật một quyển tự điển Nhựt Bổn hay Nam Dương ta sẽ ngạc nhiên mà thấy TA với MI được định nghĩa dài một gang tay, còn NÓ thì chỉ có nửa dòng. Đó là dấu hiệu của hai xã hội phân biệt giai cấp triệt để, nên việc xưng hô giữa hai kẻ đối thoại là TAO với MẦY phải phức tạp không thể tưởng tượng được, Tao với Mầy là thần với người, là vua với dân, là nhà giàu với nhà nghèo, là chủ với tớ, là bạn với nhau, là nam với nữ, là quan với dân, là tướng với lính, là một vạn thứ, không sao kể cho xiết được.

Khi dân chúng Việt Nam trèo đèo tự xưng là MIN thì họ lại cho nó mọc cái đuôi H, mới đây thôi, tức sau Nguyễn Du.

Thế thì MÌNH với TA tuy hai mà vẫn là một vì đồng nghĩa. Nhưng MÌNH với TA tuy một mà là hai vì khác ngữ nguyên.

Và đấy là trường hợp Mình với Ta tuy hai mà triệt để hai, hoàn toàn hai, đó là CÁI MÌNH (thân thể), hiện chỉ có bốn quốc gia còn giữ được:

Nhựt Bổn: Mi
Đại Hàn: Mon
Việt Nam: Mình
Thái Lan Hmơan

HMƠAN, đọc chữ H và thật nhanh ở âm ƠA.

Hiện nay nhóm Khả Lá Vàng vẫn cứ gọi cái mình là cái CHẮC, còn người Việt miền Nam thì gọi kẻ lùn là Chăn chắc. Xin nhớ rằng Bắc Việt mất ngôn ngữ rất nhiều và quên mất CHĂN CHẮC. Người Khả Lá Vàng ở đèo Mụ Già chỉ có thể liên lạc được với miền Bắc chớ không với miền Nam để dạy miền Nam tiếng CHẮC. Vả lại thuở Khả Lá Vàng mất nước Đạo Minh trong tay Chơn Lạp thì miền Nam chưa có mặt trên quả địa cầu.

Vậy miền Bắc vẫn phải có Chăn Chắc có nghĩa là kẻ lùn. Chăn chỉ là tĩnh từ của Lạc bộ Mã là Chin, tổ tiên của người Mường, có nghĩa là nhỏ bé.

Vậy danh từ CHẮC có ít lắm cũng từ 5 ngàn năm, nhưng thật ra nó phải xuất hiện ít nhất cũng từ 8 ngàn năm, từ khi Lạc bộ Trãi phát tích. Năm ngàn năm là thời mà họ di cư tới cổ Việt. Nhưng danh từ kép Chăn Chắc thì chỉ mới có cách đây có 2500 năm, năm mà Lạc bộ Mã, tổ tiên của người Mường, tới ở trọ với vua Hùng Vương và cho ta mượn CHIN.

Hiện nay ở nông thôn Bình Trị Thiên, người ta nói ĐẬP CHẮC thay vì nói ĐÁNH NHAU. Đập chắc là đập cái chắc của nhau, thế nên chúng tôi mới quả quyết rằng vua Hùng Vương nói hệt như Khả Lá Vàng vì CHẮC là danh từ được thịnh dụng của Khả Lá Vàng, để chỉ cái Mình.

Khả Lá Vàng: Chak
Khả Tu: Chak
Sơ Đăng: Cha
Hê Lang: Cha
Mạ: Sak
Lào: Sak
Koho: Sak
Nông thôn Bình Trị Thiên: Chắc
Nam Việt: Chắc

(Nam Việt mỗi ngày mỗi nói đến Chăn Chắc nhưng đã quên mất nghĩa, khác với Bình Trị Thiên còn nhớ rằng đó là Cái Mình. Nhưng Bắc Việt thì quên tuốt cả danh từ nữa.)

Nhưng Lạc bộ Trãi lưu vực Hồng Hà rắc rối hơn tất cả các nhóm Mã Lai khác. Họ còn biến Mình một lần nữa, để dùng làm tiếng xưng hô giữa vợ chồng, tiếng Mình nầy thì còn non choẹt nhưng không biết do Mình là THÂN THỂ hay mình là TA mà ra, bởi vì do cái nào cũng hữu lý cả, bởi em yêu mình, em xem mình như Ta (như em) cũng có lý, mà em xem mình như chính thân mình của em cũng có lý.

Cái tiếng MÌNH trẻ tuổi nầy sống đâu được chừng một vài trăm năm thì đã chết vì ngày nay vợ chồng không xưng hô với nhau như vậy nữa.

Nay thì Em ơi! Anh ơi! Thế thì thề non hẹn biển làm gì, bởi BẬU chết, QUA chết, MÌNH cũng chết và vài năm nữa lối xưng hô Em ơi, Anh ơi, cũng sẽ biến mất.

Ngôn ngữ là một thứ khó điển chế nhứt, y hệt như bắt trạch, bắt lươn, bắt cóc bỏ dĩa.

Năm 1954 đồng bào miền Bắc di cư vào đây, nghe người Nam nói BỰ thay vì TO, họ rất chối tai, nhưng họ không hề dè rằng TO chỉ là tiếng Mông Cổ và ta vay mượn cách đây 5000 năm, và thuở thiên hạ mới dùng TO, thay cho LỚN thì những ông trung thành với ngôn ngữ gốc, chắc cũng đã tức mình y hệt như những ông nghe BỰ lấn át TO.

Đã bảo chính đại chúng tạo ngôn ngữ chớ không phải trí thức, thì xin trí thức đành chịu vậy, tức mình cho lắm chỉ tổn thọ.

Danh từ Mình là Thân thể là một hiện tượng mà chúng tôi suy gẫm từ hơn mười năm rồi mà không giải thích được. Tại sao khi tái hợp thì chủng Mã Lai còn giữ được hàng ngàn danh từ chung của thời thái cổ như Núi, Sông, Nước, Cây, Trăng, Lá, thế mà cái thân thể là cái gần gũi với họ nhứt, họ lại không giữ được.

MÌNH vốn là danh từ chung của đại khối Mã Lai, như MẮT. Nhưng MẮT thì giống nhau hết, mà MÌNH lại khác nhau hết, vì họ đã đánh mất hết. Nhưng chúng tôi tin là bọn Trãi còn vì Khả Lá Vàng cổ nhứt. Vậy kẻ đánh mất là Chuy, Mã và Âu.

Nếu họ đánh mất, vì phải học của Tàu hay của Ấn, thì ta hiểu được, đằng nầy họ còn, nhưng lại khác nhau là thế nào? Chúng tôi phải kết luận rằng Mã, Chuy và Âu đánh mất chớ không phải còn, và họ học của một dân tộc kém hơn. Rất có thể họ học của một dân tộc kém hơn vì chế độ mẫu hệ của bọn Mã và bọn Chuy kéo dài rất lâu đời. Thuở ta tới cổ Việt thì ta bắt đầu tiến lên phụ hệ, còn Mã thì không, ở các địa bàn của họ. Chuy cũng thế. Ngày nay, ta vào một gia đình Cao Miên, ta hỏi bất kì cái gì họ cũng bảo ta hỏi thẳng vợ họ. Điểm đó chứng tỏ rằng Lạc bộ Chuy ra khỏi mẫu hệ chưa lâu.

Ông G. Coedès đã cho biết rằng khi bọn Lạc bộ Chuy đến địa bàn mới thì thổ dân, thuộc chủng Mêlanê đã tiến lên cao bằng họ, tức tiến tới thời đại đá mài. Thế nên cuộc hợp chủng rất lớn lao. Và vì phía mẫu hệ đã giỏi nên bộ Chuy phải học với Mêlanê. Hẳn là như thế. Chắc Lạc bộ Mã cũng vậy, vì Nam Dương là trung tâm lâu đời nhứt của nhơn loại với con người Java thì hẳn thổ dân phải giỏi.

Ở các địa bàn Thái và Lạc bộ Trãi thì Mêlanê rất kém vì thế mà Thái và Việt ít hợp chủng, lại còn lấn lướt phía bên nữ, nên sớm tiến lên phụ hệ, và mới còn giữ được Hmơan và Mình. Tiếng Thái đọc theo lời chỉ dẫn của chúng tôi thì rất giống mình.

Như thế, nếu vài bộ phận thân thể, có khác thì không còn phải ngạc nhiên nữa. Tuy nhiên, còn giống nhau rất nhiều: Mặt, Miệng, Lưỡi, Mắt, Xương, Lưng, Chơn, Cẳng, mà toàn khối đều nói giống nhau, ít lắm cũng trong chi Lạc, còn chi Âu có khác là chuyện dĩ nhiên vì họ khác chi. Nhưng cũng không khác bao nhiêu như danh từ mắt đã cho thấy:

Bộ Trãi: mắt
Bộ Mã: Mata
Chi Âu: tả

Đó là lấy một âm trong hai âm, theo thói quen của chủng tộc.

Nhưng đã có chứng tích rằng Lạc bộ Trãi cũng mất vì ta nói là cái chắc vào cổ thời chớ không nói Cái mình, và Cái mình chỉ là danh từ mà ta học của người Thái dưới trào An Dương Vương.

Nhưng CHẮC của Trãi và Mình của Thái, cái nào là gốc tổ? Chỉ có trời mà biết. Truy lên tới đó là cụt đường vì nguồn bị nghẽn rồi.

Chi Âu tức Thái và Lạc bộ Chuy rất bê bối về đại danh từ. Lạc bộ Chuy chỉ giống đại khối Mã Lai có tiếng Eng = Anh. Chi Âu tức Thái chỉ giống có tiếng TAU mà họ đọc là RAOU, nhưng lại có nghĩa là CHÚNG TAU, còn thì khác cả.

Mầy họ nói là ĐÀN. Nhưng ĐÀN NÀO mới được chớ?

Ngôi thứ ba bị toàn khối khinh thường, mỗi dân tộc chỉ có một tiếng mà thôi. HẮN, xem ra là tiếng Mông Cổ mà cả Đại Hàn lẫn Nhựt đều có, với hình thức khác, cố nhiên. Nhiều nhóm đồng bào Thượng cũng có.

Nhưng NÓ, chỉ là vay mượn của Lạc bộ Mã, nhưng vay mượn sai. Trong ngôn ngữ của Lạc bộ Mã, NYA chỉ là CỦA NÓ, chớ không là NÓ bao giờ. Nó là IA, mà Nam Kỳ có vay mượn biến thành DA (đọc là YA).

Ta, Lạc bộ Trãi, ta vay mượn sai thì còn cho qua, nhưng người Chàm là Lạc bộ Mã cũng đã dùng sai NYA. Nơi người Chàm, NYA biến thành NHU và cũng có nghĩa sai là NÓ.

Tuy nhiên các cụ Trung Việt và Nam Việt đã vay mượn đúng NYA của Chàm đời xưa. Chàm đời xưa, nói đúng y như Mã Lai Nam Dương và NYA của Chàm đời xưa mang cái nghĩa là NGỮ ẤY. Các cụ miền Trung và miền Nam biến thành NỐ = Ngữ ấy. Nhưng NỐ đang hấp hối.

Chương VIII - Con gái, đàn bà, mái đực trống, chồng vợ

Buổi sơ khai, danh từ chỉ đàn bà con gái đều giống nhau hết thảy, và còn tồn tại đến ngày nay:

Miền Dưới: Wahinê = Đàn bà
Đa Đảo: Hina (Đảo Marquises) = Đàn bà
Đa Đảo: Véhini (Đảo Alor) = Đàn bà
Nhựt Bổn: Himê = Con gái
Việt Nam: HĨM = Con gái
Thái: Hi-in = Phụ nữ
Lào: Mê-nhin = Phụ nữ

(Tự điển Nhựt định nghĩa HIMÊ là công chúa, nhưng sách Tây lại bảo rằng HIMÊ là con gái. Chúng tôi để danh từ HIMÊ trong biểu đối chiếu với sự dè dặt.)

Việt Nam đã bỏ mất nghĩa của HĨM và cho nó một nghĩa thô tục là cơ quan sinh dục của phụ nữ. Thế thì có lẽ Nhựt cũng đã biến nghĩa danh từ HIMÊ của họ. Sách Tây mà chúng tôi nói đến, nghiên cứu các tác phẩm cũ của Nhựt, còn tự điển là sách mới in. Trong vòng mấy trăm năm nay, Nhựt ngữ đã bị thay đổi hết, tiến từ sự bất biến đến có đủ các thứ biến y như Âu châu.

Trường hợp Việt Nam đánh mất danh từ HĨM có lý do đạo đức và luân lý, chớ không phải là quên nghĩa cũ như trường hợp Thằng Cu, Cái Đĩ. Cái lý do luân lý ấy rất là ngộ nghĩnh…

Ta cứ hình dung ra một bà mẹ hồi cổ thời, bà ấy dạy con: “Mầy nên che cái con gái của mầy lại”. Bà mẹ đó ăn nói rất tốt vì bà tránh phải thốt ra một tiếng thô tục. Dĩ nhiên là trong câu của bà, hai tiếng CON GÁI là HĨM, bởi danh từ con gái chưa xuất hiện.

Nhưng ăn nói như vậy chừng hai trăm năm là danh từ HĨM bị hoen ố rồi nên lại phải tạo ra danh từ mới để diễn ý niệm con gái. Nhưng con gái vẫn chưa xuất hiện, nhưng chúng tôi không đủ tài liệu để kể ra hàng chục danh từ có nghĩa là con gái trải qua 8 ngàn năm lịch sử của dân ta, nhưng đại khái là cứ vài trăm năm thì một danh từ con gái bị hoen ố chính vì cái câu đó, thế nên ta cứ phải thay đổi mãi, mà vua Hùng Vương, bà Trưng bà Triệu ăn nói khác ta ngày nay, chớ không phải y hệt như ta được đâu.

Luật Swadesh về thời hạn một ngàn năm cho 20% danh từ, không thể đúng với loại danh từ này, chúng chỉ thọ 200 năm là cùng. Cách đây một trăm năm, người Pháp nói LE PETIT COIN. Nhưng rồi họ phải bỏ, nói W.C. W.C là tiếng Anh, lại viết tắt thì tưởng nó thọ lâu lắm! Nhưng bây giờ thì họ không dám dùng W.C nữa mà nói TOILETTE.

Tuy nhiên, thật ra thì không phải thay đổi danh từ thuở ta chưa có luân lý. Có lẽ chỉ phải thay đổi từ các đời Hùng Vương đến nay thôi.

Ta thử tìm biết danh từ CON GÁI của thời Hùng Vương 16, 17, 18 xem nó ra sao.

Người Khả Lá Vàng là người của thời đó và hiện còn sống sót họ nói: SALU GUÔI = Con trâu gái.

GUÔI không phải là hình thức đầu của GÁI. Nó chỉ có nghĩa là CÁI hồi cổ thời.

Thế nghĩa là vào thời đó, ta dùng Gái để chỉ GIỐNG CÁI của loài thú chớ chưa chỉ loài người.

Nhưng GÁI mà ta dùng ngày nay thì rõ ràng là của một nhóm Lạc bộ Mã kia là người Mường. Nhưng các nhóm Lạc bộ Mã khác như Chàm và Nam Dương thì nói khác.

Mường: On Kai = Con gái
Bình Trị Thiên: Con cấy = Con gái

Mãi cho đến ngày nay mà Bình Trị Thiên vẫn còn câu ca dao:

Con trai họ Võ thì lấy
Con cấy họ Võ thì đừng

Trong khi Lạc bộ Trãi chỉ có 36 phương ngữ ở khắp nơi, từ Đại Hàn đến Nhựt, Việt, nhưng đã thống nhứt rồi, ít lắm cũng ở ngoài đồng bằng, thì Lạc bộ Mã có quá nhiều phương ngữ. Ở Nam Dương có 350, ở Phi Luật Tân có 400. Điên được chớ chẳng chơi!

Người Mường chỉ là một nhóm nhỏ trong Lạc bộ Mã thế mà ông H. Maspéro đã tìm thấy 17 phương ngữ Mường khác nhau! Vậy Mường đã cho ta vay KAI mà ta đọc là CẤY để chỉ CON GÁI, còn thấy được trong ngôn ngữ Mường ngày nay và trong ca dao Bình Trị Thiên ngày nay. Lúc Chúa Nguyễn ly khai, hẳn dân ta nói con CẤY ở toàn quốc, tức từ Bình Định tới Lạng Sơn, chớ không phải riêng chúa Nguyễn ở Bình Trị Thiên mới nói như vậy.

Câu ca dao nầy ít có người biết. Nhưng một người bạn ở miền Trung đã cho chúng tôi cái câu đó.

Và ở đây có sự lộn lẹo thật buồn cười:

Cấy, Kai = Gái (Đáng lý phải = Cái)
Guôi = Cái ( đáng lý phải = Gái)

Nhưng sau đó có sự điều chỉnh. Người ta bỏ KAI của Mường là khách trọ, dùng GUÔI của Khả Lá Vàng.

Ta trở về với Lạc bộ Trãi là Khả Lá Vàng, nhưng có biến nghĩa. GUÔI là Cái của họ, được ta hiểu là GÁI, còn KAI là GÁI của Mường bị hiểu là Giống Cái.

Ảnh hưởng của bọn Mã, to lắm chớ không phải vừa vì tĩnh từ của họ lấn át cả tĩnh từ của ta, mặc dầu ta đã phản công, nhưng dấu vết còn sót lại mãi cho đến nay ở Bình Trị Thiên.

(Nhưng đất Bình Trị Thiên tuy đã bị Mã hóa ở tĩnh từ CẤY, nhưng lại oanh liệt ở tĩnh từ ĐAM.

Buổi mai, em xách cái oi
Em xuống dưới ao
Em bắt con đam
Đem về bỏ trong cái thỏng
Hắn kêu cái rỏng
Hắn kêu cái rảng
Hắn kêu một tiếng: chàng ơi!
Chàng nay an phận tốt đôi,
Bỏ em lẻ bạn, mồ côi một mình.

ĐAM là CUA, được khắp Cao Nguyên dùng, nhưng ở đồng bằng thì chỉ có Bình Trị Thiên là còn bảo vệ nó, còn toàn quốc đã bị danh từ của bọn Lạc bộ Mã là danh từ KOJOR, mà ta biến thành CUA, tràn ngập hết.

Ta bị tràn ngập cho đến đỗi đa số người Việt không còn biết con đam là gì nữa cả, khi nghe đọc bài ca dao cổ trên đây mà chúng tôi chép lại của một nhà sưu tầm ca dao Trung Việt.)

Nhưng sự điều chỉnh xảy ra vào thời nào thì không thể biết. Chỉ biết rằng điều chỉnh xong rất lâu mà Kai và Cấy cứ tồn tại ở xứ Mường và ở Bình Trị Thiên.

Ta hạ bệ KAI của khách trọ là tổ tiên người Mường, từ địa vị NGƯỜI GÁI xuống địa vị CON CÁI. Đó là ngữ nguyên thật đúng của GÁI và CÁI.

Gái = chỉ thú vật của Khả Lá Vàng → chỉ người của ta.
Kái = chỉ người của Mường → chỉ thú của ta.

Còn MÁI là tĩnh từ của đại khối mà dân tộc nào cũng có, nhưng Việt Nam hỗn xược cho nó cái nghĩa là giống cái của loài cầm, các nhóm Mã Lai khác, dùng để chỉ người.

Nhưng NÁI thì ta không hỗn xược mà chính Thái đã tự hạ mình:

Miền Dưới: Pơnita = giống cái của người và thú, cầm thú.
Việt Nam: Nái = giống cái của heo
Churu: Ana = _”
Rôglai: Ana = _”
Thái: Nai = Đàn bà có chồng

Nhưng không chắc lắm là Thái tự hạ. Không có ai vô cớ mà tự hạ. Có lẽ các dân tộc khác tự tôn mà thôi, và xưa kia NÁI chỉ đàn bà có chồng, bằng chứng còn thấy được trong từ ngữ Việt Nam: NÁI XỀ. Thái giữ được, các dân khác biến bậy về nghĩa. Ta cũng giữ được, nhưng chỉ để nói đùa. NÁI XỀ là phụ nữ có con quá đông, nhan sắc bị tàn phá, trông bắt ớn.

ĐỰC thì hơi rắc rối. Ta sẽ thấy rằng ÔNG, BÀ là tiếng Mông Cổ mà cả Tàu lẫn Ta đã vay mượn thì ĐÀN ÔNG, ĐÀN BÀ không thành vấn đề nữa. Chỉ còn ĐỰC và TRỐNG mà thôi.

Lạc bộ Mã và Lạc bộ Chuy nói khác hết.

Có người cho rằng ĐỰC do TƯA của Thái mà ra. Nhưng chúng tôi chỉ thấy Thái học danh từ của Lạc bộ Mã, còn Lạc bộ Mã thì chưa hề học danh từ của Thái. Trong Thái ngữ có:

Tưa phu = Đực người
Phu chai = Người đực

Đực người hay người đực gì cũng đồng nghĩa.

Nhưng Mường là Lạc bộ Mã thì có Đưa = Trai. Mà Mường là một nhóm Lạc bộ Mã (độc nhứt có ĐƯA). Các nhóm Lạc bộ Mã khác như Nhựt Bổn, Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Anh Đô Nê Xia, không thấy có).

Xin lặp lại là Lạc bộ Mã dưới thời Chiến Quốc, văn minh đã cao lắm rồi, còn Thái thì cho đến ngày nay vẫn còn thiếu danh từ để diễn ý.

Ngôn ngữ Thái và Cao Miên đầy dẫy danh từ của Lạc bộ Mã vì khi con dân của Sở, Ngô, Việt di cư thì dĩ nhiên lá họ tạt vào rất đông đảo ở nước Tây Âu hùng cường. Còn Cao Miên thì lại học với Phù Nam, sau khi đã diệt quốc Phù Nam. Vì thế mà Thái mới vay mượn Tưa của Lạc bộ Mã.

Ta, ta vay mượn ĐƯA của Lạc bộ Mã, y như Thái, nhưng ta không biến ĐƯA thành TƯA mà biến ĐƯA thành ĐỰC.

Thế rồi cũng lại có sự điều chỉnh y hệt như ở trường hợp Cái, Gái, vì người Khả Lá Vàng nói:

Kuan Salu trùi = Con trâu đực.

Vì Khả Lá vàng là Lạc bộ Trãi nên rồi họ được ưu tiên và Mường phải lép vế vì Mường không thẳng dòng. Thế là Đưa, có nghĩa là Trai, bị hạ bệ xuống làm ĐỰC còn TRÙI có nghĩa là ĐỰC, được tôn lên làm trai.

Không nên ngộ nhận rằng ta đã biến CHAI của Thái làn TRAI, vì CHAI của Thái là biến thể của Licay và có nghĩa y hệt như Licay: đực, lực lưỡng, thủ lãnh, đàn ông.

Mỗi lần người Thái Lan sang Sài Gòn chơi túc cầu hoặc võ Ănglê, ta thường nghe họ khuyến khích bồ nhà: Chai yô! Chai yô! Chai của họ không phải chỉ là Đực mà còn có nghĩa là mạnh. Chai yô! Có nghĩa như là: Tiến mạnh lên!

Nhưng không vì họ cho nó nhiều nghĩa mà tĩnh từ trai là của họ. Chính ta đã lấy của Khả Lá Vàng rồi biến nghĩa, cũng như ta đã lấy Đok là con khỉ của đồng bào Thượng để biến thành KHỈ ĐỘT, vì thường thì sự vay mượn nội bộ xảy ra dễ dàng hơn.

Chúng tôi cũng e là có sự ngộ nhận trong danh từ PHU của Việt Nam, có mặt trong từ ngữ MỘ PHU. Người ta nói đó là tiếng Tàu.

Còn ngờ! Sao cái gì cũng của Tàu hết vậy?

PHU của Tàu chỉ có nghĩa độc nhứt là đàn ông, còn ta thì ta mộ cả phụ nữ để làm phu nữa. PHU của Thái thì mang cả hai nghĩa: nam và nữ.

Bà con Nam: Yạt ti phu chai
Bà con nữ: Yạt ti phu hiin

Thế là PHU của ta do PHU của Thái mà ra.

TRỐNG, ở nông thôn Bắc Việt được phát âm là SỐNG. Nông thôn thủ cựu và SỐNG là hình thức cổ của Trống. Nhưng cái gì biến thành SỐNG? Chỉ một nhóm Thượng Việt độc nhứt là người Khả Tu mới có tĩnh từ nầy dưới hình thức GÔNG để chỉ giống đực của gà. SỐNG thành hình sau khi vua Hùng Vương thống nhứt các bộ lạc. Và cũng xin cứ nói đi nói lại mãi rằng không phải là Hùng Vương đã vay mượn GÔNG của Khả Tu mà bộ lạc Khả Tu và bộ lạc Ađuôk của Hùng Vương có chung tĩnh từ GÔNG. Các bộ lạc khác, phải học theo, sau khi cuộc thống nhứt thành công.

VỢ thì nhứt định là chung vốn với Thái, họ nói là YAR, nhưng CHỒNG thì không giống ai cả và chúng tôi cũng nghi là tiếng Mông Cổ vì ÔNG thêm CH vào là hóa ra đàn ông quan trọng và thân.

(Xin nhắc đến tĩnh từ CÁI thứ nhì, trong Bố Cái Địa Vương. Đó là tĩnh từ có nghĩa là đực, là đàn ông, là lực lưỡng, là lãnh tụ, chẳng dính líu gì tới Cái là giống cái hết thì ta không xét tới nó ở đây. Chỉ biết là tất cả các dân tộc Mã và Trãi đều có tiếng Cái thứ nhì đó.)

Nhưng CHỒNG do ÔNG của Mông Cổ, mọc thêm cái đầu CH chỉ là giả thuyết. Lạc bộ Mã ở Nam Dương gọi CHỒNG bằng ba danh từ, cả ba đều có thể biến thành CHỒNG: RÔ ĐÔNG (Mã Lai Pahang) - BAGÔNG (Mã Lai Perala) - KAMGÔNG (Anh Đô nê xia).

Một chi tiết ngộ nghĩnh: trên thế giới chỉ có chủng Mã Lai gọi Chồng là NHÀ. Vậy Chồng đồng danh từ với Nhà trong các nhóm. Thí dụ Chàm và các phụ chi Chàm như Rađê, Giarai đều gọi Chồng là THAN là SANG, vì họ lại đồng hóa cái Thang với cái Nhà bởi nhà đời xưa cao cẳng, muốn leo lên loại nhà đó phải nhờ cái thang.

Vậy nơi các nhóm đó, cả ba danh từ Thang, Chồng và Nhà là một.

Chàm: Thang = Chồng, Nhà, Thang
Giarai: Sang = Chồng, Nhà , Thang
Rađê: Sang = Chồng, Nhà, Thang
Chu ru : Sang = Chồng, Nhà, Thang

Cái thang là danh từ riêng của Lạc bộ Mã :

Nam Dương: Tanga : cái Thang
Việt Nam: Thang
Việt Nam: Nhà sàn = nhà có thang.
Chàm và phụ chi: Thang, Sang = Thang, Nhà, Chồng
Nhựt Bổn: Tanna = cái kệ, tức cái món giống cái thang vì có nhiều bực.

Nhựt Bổn là Lạc bộ Mã đa số, nhưng họ lại biến THANG thành cái KỆ, rồi thì họ phải tân tạo danh từ Nhà. Nhà của họ là UCHI, vì đó là thói quen của chủng Mã Lai, gọi cái nhà bằng bất cứ danh từ nào, thì cũng gọi chồng bằng danh từ đó.

Sự kiện này có thể biến thành luật chủng tộc học được. Hễ dân nào gọi chồng là NHÀ TÔI thì nhứt định dân đó thuộc chủng Mã Lai, không có ngoại lệ bao giờ hết.

Ngôn ngữ học lại phục vụ chủng tộc học được một cách chắc chắn, đó là điều bất ngờ.

Nếu Nhựt không biến Thang thành Kệ thì nhứt định chồng của các bà Nhựt Bổn là TANA, chớ không là UCHI.

Chương IX - Về loại từ Cái và Con

Khi học ngôn ngữ của các dân tộc gốc Mã Lai, chúng tôi có nhận thấy một điều kì dị này là trừ ngôn ngữ Việt Nam ra, còn thì không có nhóm Mã Lai nào có loại từ CÁI hết, và có nhiều dân tộc không hề có bất cứ loại từ nào.

Theo nghiên cứu của giáo sư Trần Ngọc Ninh (Bách khoa số 349, ngày 15/07/1971) thì cái cây chẳng hạn, là một từ, tức là một đơn vị bất khả phân, và như thế cái không còn là loại từ nữa, như chúng tôi đã nói. Nhưng chúng tôi hơi nghi ngờ vì Việt ngữ, qua cuộc kiểm soát của chúng tôi, chỉ là Mã Lai ngữ một trăm phần trăm, mà không có nhóm Mã Lai nào có những từ có CÁI đứng trước hết.

Thí dụ ta nói Cái thang thì Mã Lai Nam Dương nói Tanga, Chàm nói Thang; Nhựt Bổn nói Tana chớ không hề nghe họ nói Cái Tanga, cái Thang, cái Tana bao giờ. Lại thí dụ ta nói Cái cửa sông thì Mã Lai nói Kưala sôngai, tức cũng không có Cái đứng trước.

Mà không riêng gì Mã Lai Nam Dương, mà Cao Miên, Thái, Chàm, hay Nhựt Bổn gì cũng thế cả, không ai có Cái hết.

Đồng bào Thượng Bru giàu loại từ nhứt, nhưng vẫn không có loại từ CÁI.

Như vậy ta phải hiểu rằng CÁI của Việt Nam là loại từ mới sáng tác về sau, do một ảnh hưởng ngoại lai, chớ gốc tổ không có, mà các nhóm khác, tuy có chịu ảnh hưởng ngoại lai, cũng không có, vì CÁI sở dĩ nảy sanh ra trong Việt ngữ chỉ vì một ngộ nhận của dân chúng Việt Nam, mà khi nói đến ngộ nhận thì phải hiểu rằng các dân tộc khác không cùng chung ngộ nhận với ta, nên họ không hề có CÁI.

Chúng tôi tìm học, mà thấy rằng CÁI chỉ mới xuất hiện sau Mã Viện thôi, chớ không có lâu đời lắm, mà, như đã nói, chỉ do một sự ngộ nhận của dân chúng Việt Nam.

Nên biết rằng trong đạo quân viễn chinh của Mã Viện, tuy có quân Dạ Lang, quân Quảng Đông, Phúc Kiến, nhưng chủ lực quân vẫn là người Hoa Bắc, vì các tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến chỉ mới bị nhà Tần chinh phục trước đó không lâu, và họ chưa biến thành Tàu, và nếu có mặt họ, họ cũng nói một thứ tiếng Tàu ba trợn. Quân Dạ Lang cũng không phải là người Tàu.

Vậy ngôn ngữ được nói quanh các trại quân, phải là Quan Thoại. Mà Quan Thoại thì có danh từ CÁ (họ cũng đọc là Cá, các nhà nho ta cũng đọc như thế), nhưng danh từ ấy không phải là loại từ, nó là danh từ, và có nghĩa là Đơn vị.

Ta cứ nhìn vào một gia đình Quảng Đông ở Sài Gòn thì rõ. Dân Quảng Đông cũng nói tiếng Tàu, nhưng đọc bậy bạ cả, y hệt như các nhà nho ta, chớ không bao giờ có ngôn ngữ Quảng Đông như ai cũng tưởng.

Một ông gia trưởng Quảng Đông chia bánh cho con ông ta, và ông ta nói: Dzách cô, lượng cô, xám cô, v.v.

CÔ là CÁ đọc sai chớ không có gì, và ý ông ta muốn nói: “Một đơn vị, hai đơn vị, ba đơn vị” đấy.

Dân Lạc Việt đã nghe lính Hoa Bắc nói: Ýi cá, lèng cá bằng Quan Thoại, và ngộ nhận rằng trước tên các món vật, phải có từ CÁ (đọc sai là CÁI) mới là hay. Thế rồi ta chấp nhận từ ấy, nó biến thành loại từ của ta, và đồng thời biến hẳn văn phạm ta, vốn không có loại từ CÁI bao giờ cả, trước Mã Viện.

Nếu không hiểu như chúng tôi, thì không sao cắt nghĩa nổi tại sao không có nhóm Mã Lai nào có CÁI hết, trừ Mã Lai Việt Nam.

Trước đây, ta không biết ta thuộc chủng nào, và tin theo ông H. Maspéro rằng là ta là một chủng riêng biệt, không dính với ai cả, thì nếu chỉ có ta là loại từ CÁI, không làm ai thắc mắc hết. Nhưng nay biết chắc một trăm phần trăm rằng ta là Mã Lai, và ba bốn mươi dân tộc khác nữa cũng là Mã Lai, thì sự kiện chỉ có một mình ta có loại từ đó, phải được đặt thành vấn đề nghiên cứu và được giải đáp thỏa đáng.

Chủ trương rằng CÁI và CON không thể giao hoán với nhau cũng không ổn. Rõ ràng ca dao ta hát:

Cái cò, cái vạc, cái nông

Chẳng những CÁI đã giao hoán với Con vật, mà giao hoán cả với Con người nữa. Đó là dấu hiệu lạm dụng của buổi đầu ngộ nhận, ta dùng CÁI loạn xà ngầu, sau rồi ta mới hạn chế nó để dùng làm loại từ chỉ đồ vật bất động mà thôi.

Chúng tôi lại có bằng chứng rằng dân Lạc bộ Trãi, hồi thời Trung cổ nói Con nhà, Con đá, Con trời, thay vì nói Cái nhà, Ông trời, Cục đá như ngày nay.

Vậy Cái là loại từ khả phân. Tánh cách khả phân lộ rõ trong hai câu đối thoại sau đây:

“Bác làm gì đó?”
“Tôi đốn cây”.

Không thể nói tôi đốn Cái cây. Còn tánh cách có thể giao hoán, thì câu ca dao trên kia đã cho thấy, mà không phải tại ca dao cổ nên mới còn giữ tánh cách đó, mà cả tục ngữ hiện kim cũng còn mang tánh cách giao hoán vì ta thường nói: “Phận con ong, cái kiến” và loại từ Cái chỉ mới có mặt sau Mã Viện mà thôi.

Còn CON? Loại từ CON thì dân Lạc bộ Chuy và Lạc bộ Trãi có. Nhưng đó cũng là loại từ mới xuất hiện về sau, tuy xuất hiện trước loại từ CÁI, nhưng vẫn không lâu đời lắm.

Theo một chương tới, quý vị sẽ thấy rằng CON, KO, O chỉ có nghĩa là NGƯỜI hồi cổ thời. Nhưng danh từ NGƯỜI lại ra đời, thay cho CON, O. CON hóa ra dư dùng và người ta cho nó một cái nghĩa khác. Ta dùng nó để làm loại từ (Mot générique) đặt trước các vận động (con chim, con vụ) hoặc các vật nhỏ bị động (con dao).

Sự thay bực đổi ngôi xảy ra vào thời nào? Ở một chương tới chúng tôi cho rằng vào khoảng 500 năm trước Tây lịch, tức vào thời mà một ông Hùng Vương vay mượn KITA của Lạc bộ Mã. Thời đó, NGƯỜI đã xuất hiện, nhưng chưa mang dấu huyền và chỉ mới mang nghĩa là MẦY.

Đối với tai của người Cổ Việt còn sống sót ở đèo Mụ Già là người Khả Lá Vàng thì CON CHÓ có nghĩa là NGƯỜI CHÓ vì họ biết CON mà không biết NGƯỜI, lại không biết CON với tư cách loại từ.

Ta may mắn còn ca dao, tục ngữ xưa, nên ta mới dựng lại được xâu chuỗi biến dạng của các danh từ và nhờ thế ta mới thấy mọi thay đổi, NGƯỜI nguyên thỉ, NGƯỜI cổ, NGƯỜI trung cổ ra sao.

Chúng tôi bắt gặp sự vay mượn và biến nghĩa của Con trong ngôn ngữ của người Mạ. Người Mạ là đồng bào Thượng trên Cao Nguyên Lâm Đồng, họ cũng thuộc chi Lạc bộ Trãi như ta (nhưng các ông Tây đã nói liều rằng họ là Cao Miên).

Trong ngôn ngữ Mạ, Con được dùng như danh từ và có nghĩa là Người y như nơi người Thái, nhưng nó cũng được dùng như loại từ, giống hệt như Việt Nam. Đó là chứng tích biến nghĩa nhưng chưa xong, và chứng tích đó đánh dấu thời mới biến nghĩa Con, được dùng như thế đó, tức vừa là danh từ có nghĩa là Người, vừa là loại từ.

Dấu vết thời gian còn nguyên vẹn trong ngôn ngữ Mạ. Họ lạm dụng Con y hệt ta lạm dụng Cái để gọi Cái Cò, Cái Vạc, Cái Nông, vì họ nói Con Trời, Con Đá, Con Cây .

Có lẽ xưa kia, thuở ta còn ở vào trình độ của người Mạ ngày nay, ta cũng nói con trời, con đá, con cây, y hệt như người Mạ. Đó là sự lạm dụng của buổi đầu.

Người Mạ có những bài dân ca như sau:

Kúp kon sim, any tơm ta any
Kúp kon Mạ any tơm ta đuốt

Dịch nghĩa:

Bắt con chim, tôi chỉ sanh sự với tôi.
Bắt người Mạ, tôi phải đánh nhau với họ.

Chỉ trong hai câu, ta đã thấy rằng Con được dùng với cả hai nghĩa: danh từ (có nghĩa là người ) ở câu dưới, và loại từ ở câu trên.

(“bắt người Mạ” là bắt các tù binh trong những cuộc chiến tranh bộ lạc, tục đó nguyên vẹn nơi người MẠ của thế kỷ 20)

Nhưng chẳng những có Con Mạ, mà lại có Con Trời nữa:

Ring tua con trô, tua tiở
Cóp tua mi, tua any

Dịch nghĩa:

Trời đồng ý với đất (con tro = con Trời)
Anh với em đồng ý với nhau

Ta lại còn một danh từ Cái rắc rối nữa, tưởng cũng nên nói rõ ra, mặc dầu danh từ này không gây ngộ nhận bao nhiêu.

Khi người Tàu nói họ đi Cái xị, tức đi Thị, đi Chợ, thì Cái ở trong trường hợp nầy, hoàn toàn không liên hệ đến những Cái khác. Cái ở đây là danh từ Tàu mà ta đọc sai là Nhai và có nghĩa là Đường phố. (Rue)

Thị của Tàu, không phải chỉ có nghĩa là chợ, mà còn có nghĩa là thành phố. Vậy đi Cái xị là đi Nhai thị, tức đi qua các phố của thành phố, y hệt như Việt Nam nói Đi phốĐi Cái Xị của Tàu, không hề chỉ có nghĩa là Đi Cái Chợ đâu, mặc dầu khi nói như vậy, họ cũng có thể đi chợ, nhưng không phải luôn luôn đi chợ, miễn có đi qua các Cái, tức các Nhai là đủ rồi.

Hiện ở Chợ lớn, ngoài các bảng tên phố của nhà nước, người Tàu thường đặt một bảng nhỏ đề chữ Tàu, để đồng bào họ biết đâu là đâu. Đại khái có một ngõ hẻm mang tên là Ô-Y-Hạng, còn đường Lý Nam Đế nguyên vào thời Pháp thuộc tên là Rue de Canton, thì nay nó mang tên chánh thức của nhà nước là đường Lý Nam Đế, nhưng có bảng nhỏ chữ Tàu để là Quảng Đông Nhai, mà họ đọc là Quảng Tống Cái.

Danh từ Cái này ta không có dùng trong Việt ngữ, mà chỉ biến thành Nhai trong Hán Việt mà thôi, nhưng đôi khi cũng gây ngộ nhận vì nghe người Tàu nói rằng họ đi Cái Xị, ta ngỡ họ nhứt định phải đi Cái thị, tức Cái chợ.

Luôn tiện, chúng tôi cũng xin nói rõ về tĩnh từ Cái của Việt ngữ. Cái không hề có nghĩa là giống Cái, mà oái oăm thay, lại có nghĩa là giống đực.

Trong Mã Lai ngữ, tĩnh từ Laki, bị Chàm biến thành Licáy và Việt biến thành Cái, có nghĩa là đàn ông, là giống đực, là lãnh tụ. Ngón tay Cái không phải là ngón tay của cô nào hết, mà là ngón tay to nhứt. Đường Cái không phải là đường để cho người đẹp đi dạo mà là đường rộng rãi, thợ Cái là thợ “xếp” đấy.

Con dại cái mang, không phải là Mẹ chịu trách nhiệm, mà là cha lãnh đủ, và Bố Cái Đại Vương, không phải là ông Phùng Hưng và bà Phùng Hưng, mà chỉ có ông Phùng Hưng thôi.

Hiện người Mã Lai có thành ngữ Ibu LáKi.

Ibu = Bu= Mẹ
Láki = Thủ lãnh

Và thành ngữ đó có nghĩa Mẹ là nhà lãnh đạo.

Ở chỗ này, có hơi nhiêu khê cần phải nói thật rõ. Thành ngữ Ibu Láki của Nam Dương (Lạc bộ Mã) là thành ngữ đã sẵn có của họ vào thời mà họ còn theo mẫu hệ. Nay họ đã theo phụ hệ rồi thì đáng lý gì họ phải sửa lại thành Babu Láki vì:

Babu = Bố
Láki = Lãnh tụ

Nhưng họ lại không buồn sửa. Ta người Việt Nam, ta đã sửa Ibu Láki vào thời Phùng Hưng thành Babu Licáy, vì ta đã theo phụ hệ vào thời đó. Sau ta biến mãi thì Babu Licáy trở thành Bố Cái.

Nhưng Ibu hay Babu gì cũng không quan trọng. Điều chính yếu là Licáy = Cái = Lãnh tụ, và Cái của ta là Đàn ông, là Lãnh tụ chớ không là giống Cái.

Đại Cồ Việt, cũng thế. Cồ chỉ là Láki, là Cái mà thôi. Hiện trên Cao Nguyên đồng bào Thượng dùng tiếng Cái với các nghĩa sau đây: Cái đầu, Quan trọng, Thủ lãnh.

Còn Cái có nghĩa là giống Cái là do ngữ nguyên khác tạo ra, đã nói rõ ở đầu Chương.

Miền Nam có thành ngữ “Đàn bà lại cái” để trỏ người bán nam bán nữ. Đó là tiếng Mã Lai rõ ràng.

Lại = Lagi = Mà lại còn
Cái = Đàn ông

Đàn bà lại cái có nghĩa là đàn bà mà lại còn là đàn ông.

Lagi còn để dấu ở tỉnh Bình Tuy ở đó có một làng tên Lagi. Có lẽ người Chàm hay người Việt đã nuốt mất tiếng chớ Lagi không, chẳng có nghĩa trong địa danh. Tỉnh Bình Tuy là đất Cực Nam của Chiêm Thành, thuở Chúa Nguyễn diệt Panduranga, nên ở đó còn lắm địa danh Chàm tức địa danh Mã Lai, vì người Chàm rõ ràng là Mã Lai, Lạc bộ Mã.

Ngôn ngữ có sức sống mãnh liệt. Cách đây vài mươi năm, người Việt miền Nam có sáng tác thành ngữ ”Đàn bà lại đực”. Cũng với cái nghĩa bán nam bán nữ, vì họ quên nghĩa cũ nên lấy thành ngữ “lại cái” vô nghĩa. Họ hiểu Cái là giống cái, còn Lại là trở thành. Đàn bà lại cái = Đàn bà trở thành giống cái, thì quá vô lý.

Thế nên họ mới sửa lại, để cho nó hữu lý ra. Nhưng toàn thể người Việt miền Nam đều nhứt định dùng thành ngữ có vẻ vô lý, không ai dùng thành ngữ mới cả, mặc dầu nó có vẻ hữu lý hơn.

Tại sao cái có vẻ hữu lý lại bị tẩy chay? Vì tiềm thức và tâm để của dân tộc còn mơ màng nhớ mang máng cái nghĩa cũ, tuy ngày nay có vẻ vô lý, như ngày xưa thì đúng.

Cái đúng đó đã bắt rễ thật sâu, thâm căn cố đế nơi tâm não họ, nên cái mới, có vẻ hữu lý bao nhiêu, họ cũng gạt bỏ ra ngoài.

Đáy lòng của họ còn giữ Lagi Licáy.

Có một cuộc tranh luận rất vui vẻ về nghĩa đúng của câu đầu của bài hát Bắt cái hồ khoan. Đây là dịp mà chúng tôi trình ra sự thật để dứt khoát cuộc tranh luận sôi nổi đó, bằng vào phương pháp truy nguyên các danh từ cổ mà chúng tôi tìm lại được tất cả. Những danh từ của Lạc biến mất tại Việt Nam có hai loại, một loại còn nằm đó, nhưng thiên hạ không còn ai biết nghĩa nữa. Một loại nằm ở các quốc gia Mã Lai khác, từ Đại Hàn đến Nam Ấn, đến Trung Mỹ.

Vụ nầy chúng tôi có ám chỉ trong quyển sử của chúng tôi, nhưng không dám nói dài dòng, vì quyển sử quá dài, nhà xuất bản hết tiền in, bắt phải thu ngắn lại còn 900 trang, thành thử phải nói tắt về quá nhiều việc.

Nguyên ông M. Durand có giải thích Bắt cái hồ khoan nhưng không ổn gì hết, chỉ cắt nghĩa được có tiếng Hồ mà ông dịch là “Ohé!” một loại tiếng để cùng gọi nhau làm việc, của Pháp.

Ông Ngô Quý Sơ (Hanoi 1943) giải thích rằng: "Trước khi kéo nhau đi thành hàng thì trẻ con bắt thăm bằng cách ai rút được cái rơm nào ngắn nhứt thì làm trưởng đoàn. Như vậy, trẻ con gọi là Bắt Cái. Rồi thành ra bắt cái hồ khoan”.

Ông Lê Khánh Vân giải thích rằng Bắt Cái = bắt cá.

Còn nhiều người tầm nguyên câu nầy, nhưng chúng tôi chỉ trích những ông có tìm được chút đỉnh sự thật, hoặc có nói cái gì độc đáo mà có sai, vẫn được trích.

Ông Tân Việt Điểu ở nguyệt san Văn Hóa số 56 (1960) thấy là chưa ổn nên cho rằng Bắt cái = Bát cạy, và đó là từ ngữ Chàm mà ta mượn ở miền Trung, và Bát là Cây chèo còn Cạy là bơi chèo.

Sự thật ra sao thì ta cần biết thật rõ. Đó là hai động từ Trung cổ, mà ta mượn của người Mường tại Hồng Hà, chớ không phải là mới vay mượn về sau nầy của Chàm, mà Bát và Cạy cũng không giản dị như ông Tân Việt Điểu đã giải thích, mà nghĩa của Bắt Cái cũng không phải do Bát Cạy mà ra.

Bằng chứng là ta mượn Bát Cạy của người Mường lộ rõ ra trong tự điển K.T.T.Đ, họ có định nghĩa, mà định nghĩa rất rành rẽ hơn Huỳnh Tịnh Của rất nhiều lại có đưa thí dụ là một câu thơ Việt miền Bắc: "Một con thuyền cạy bát bên giang”.

Bắc Việt vẫn có tiếp xúc với người Chàm, nhưng chúng tôi cho rằng bắc Việt không có mượn của người Chàm, vì họ có văn thơ dùng hai tiếng đó, họ lại định nghĩa đúng hơn Đàng Trong mà đại diện là Huỳnh Tịnh Của.

Nếu chỉ là vay mượn nơi người Chàm, tại Đàng Trong thì luôn luôn tự điển K.T.T.Đ có viết: “Theo Huỳnh Tịnh Của” hoặc: "Tiếng của Đàng Trong” hay là: "Tiếng của Nam Kỳ”. Về Bát Cạy thì tự điển đó, chẳng những không có ghi như thế, lại đưa thơ miền Bắc ra làm thí dụ, thì là miền Bắc cũng có Bát Cạy, và cạnh họ đã có người Mường để họ vay mượn, không cần phải mượn xa đến thế vì Mường và Chàm là một, hồi đời xưa.

Một lần nữa, chúng tôi thấy rằng cần phải nhắc rằng ở cả ba nơi đều có Lạc bộ Mã, vì có chứng tích. Ở Bắc Hà có tổ tiên của người Mường, chưa bị Trãi hóa (chúng tôi nói Trãi hóa mà không nói Việt hóa vì Mường hay Chàm, hay Phù Nam gì cũng đều là Việt cả). Ở miền Trung, có người Chàm. Ở miền Nam có người Phù Nam mà chúng tôi sẽ chứng minh rằng họ còn tồn tại hồi đầu thế kỷ 17, thuở dân ta di cư vào Nam.

Vậy danh từ nào, vay mượn của ai, và tại đâu, đều có thể biết được cả. Không phải hễ cứ là tiếng Chàm thì nhứt định phải vay mượn ở miền Trung vì bốn dân tộc sau đây, ăn nói y hệt nhau: Mường Trung Cổ, Chàm hiện kim, Phù Nam trung cổ và Nam Dương hiện kim (có chứng tích).

Ta đã biết rằng Mường, Chàm, Phù Nam, Nam Dương, đều là Mã Lai, thứ Mã Lai mà chúng tôi gọi là Mã Lai đợt II, Tây gọi là Austronésien còn Tàu cổ thì gọi là Lạc bộ Mã. Vậy tất cả các dân tộc đó đều có Bát, Cạy, nhưng dưới hình thức khác và nghĩa hơi khác một tí.

Và khi một danh từ khá cổ của ta mà gốc Lạc bộ Mã thì là ta vay mượn của người Mường tại Hồng Hà, chớ không phải là của Chàm, sau đới nhà Lý. Và nên nhớ rằng người Mường thuở xưa sống lẫn lộn với ta chớ không có biệt lập như ngày nay, và họ cũng chưa bị quá nhiều ảnh hưởng của Lạc bộ Trãi là ta, như ngày nay, mà vẫn nói tiếng Mã Lai Nam Dương, y hệt như Chàm.

Nhũng danh từ mới vay mượn của Chàm sau đời nhà Lý đều vì những tiếng đó không có dấu vết Trung cổ.

CẠY là KUẮK và nó chỉ có nghĩa là tránh né nhau trên sông, trên biển, không cứ phải bên nào.

BÁT là PỐT có nghĩa là Kéo cây chèo khó khăn. Không có tiếng nào có nghĩa là BƠI CHÈO và CÂY CHÈO cả.

Ta, người Việt Nam, Mã Lai đợt I, tức Lạc bộ Trãi, ta đã biến nghĩa, nhưng biến rất tài tình, không biến liều lĩnh mà dựa theo những ý nghĩ sâu kín của lòng dân tộc của ta là dân Mã Lai, mặc dầu ta chỉ là Mã Lai đợt I, bộ Trãi, nhưng hai thứ Mã Lai, đều đồng dân tộc tính với nhau, đồng tâm hồn với nhau.

Chúng tôi nói PỐT của Lạc bộ Mã là kéo cây chèo khó khăn. Tại sao lại khó khăn? Ta nên nhớ rằng cổ sử Trung Hoa tả dân Việt lấy bên Trái làm bên thuận. Vậy khi trạo phu phải lái từ tả qua hữu, tức đi nghịch với thói quen của họ là họ nghe khó khăn lắm.

Thế nên dân Việt mới cho PỐT cái nghĩa là lái từ tả sang hữu (trên sông) hơi khác với nghĩa thật, nhưng vẫn hữu lý, vì chính nghĩa thật cũng chỉ là một cách nói bóng bẩy rằng là lái từ tả sang hữu.

Tự điển K.T.T.Đ đã định nghĩa đúng rằng BÁT là lái từ tả qua hữu, còn Huỳnh Tịnh Của thì nói là cả hai tiếng đều có nghĩa là từ tả qua hữu, hoặc ngược lại, tức sai hơn miền Bắc tức sự vay mượn không xảy xa ở Đàng Trong mà ở Đàng Ngoài, vay của người Mường, tức thuộc vào thời Trung cổ của Việt sử, 500 T.K vậy, chớ không phải từ thời nhà Lý mà ta đánh Chàm đâu.

Còn CẠY? Chúng tôi đã giải thích rằng KUẮK chỉ có nghĩa là tránh né nhau trên mặt sông. Nhưng dân ta đã trót cho PỐT cái nghĩa là tránh từ tả sang hữu, thì tổ tiên ta phải gán cho Kuắk cái nghĩa là từ hữu sang tả, như thế mới có chủ động từ chính xác để dùng trong việc hành thuyền.

Đó là căn cội và nghĩa thật đúng của CẠY và BÁT.

Nhưng nó không liên hệ gì tới BẮT CÁI hết.

Ông Durand đã vô tình đúng, khi dịch HỒ ra OHÉ, vô tình vì ông không biết lấy một tiếng Mã Lai nào cả. Còn ông Ngô Quý Sơn thì tri tình đấy, nhưng chỉ đúng phần nào thôi, vì ông không biết ngữ nguyên của BẮT CÁI. Ông đúng vì hiện nay dân ta vẫn còn nói BẮT CÁI để diễn tả cái ý bắt thăm để làm cái, trong những cuộc đỏ đen.

Ngày nay, ở Nam Kỳ, người mình, trong giới cờ bạc, cũng thường nói “LÀM CÁI” và “BẮT CÁI”. Làm cái là gì thì ai cũng biết cả rồi. Còn bắt cái được dùng trong trò đánh cắc tê mỗi người lật một lá bài, hễ ai lớn nút thì được làm cái, tức vẫn cứ bắt thăm để làm Licáy.

Ông Tân Việt Điểu giải thích về BẮT CÁI khác với chúng tôi vì ông nghĩ rằng Bắt Cái do bài hát HẢI HỒ KHOAN của Đào Duy Từ mà ra. Đó là bài hát mà họ Đào làm ra cho thủy thủ hát, và trẻ con bỏ mất HẢI, chỉ còn chữ Hồ Khoan.

Theo ông, hễ chèo thuyền là có nói BÁT CẠY, và thủy thủ vừa hô Bát Cạy, và thủy thủ vừa hô Bát Cạy vừa hát Hải Hồ Khoan, trẻ con bắt chước, nhưng bỏ sót tiếng Hải.

Trẻ con bỏ sót một tiếng thì cũng có thể có được nhưng xem ra khó có thể lắm, ví BÁT CẠY là tiếng chuyên môn mà trẻ con cứ nhớ được thì HẢI không là tiếng khó, sao chúng lại quên?

Nhưng suy luận của chúng tôi chưa bác nổi kiến giải của ông Tân Việt Điểu đâu, vì đó chỉ là suy luận, thường thiên lệch, chớ không phải chứng tích vững. Chứng tích vững là đây:

Theo chỗ chúng tôi nhớ, thì bài hát ấy không có tên là HẢI HỒ KHOAN, mà là Quan hải hồ khoan. Vì thế mà nhà xuất bản của Đào Duy Anh ở Huế mới lấy tên là nhà xuất bản Quan Hải.

Quan = Nhìn
Hải = Biển

Đó là hai tiếng có nghĩa. Dưới đây là ba tiếng vô nghĩa:

Hải = Biển
Hồ = Hồ
Khoan = Rộng

Hải hồ khoan vô nghĩa vì nó sai văn phạm chữ nho. Văn phạm đó phải là Khoan hồ hải, và chuyển sang tiếng Việt là Biển hồ rộng. Cái tên mà ông Tân Việt Điểu đưa ra, nếu chuyển sang tiếng Việt thì là Rộng biển hồ, tức sai văn phạm.

Chúng tôi không tin rằng một bực danh nho như Đào Duy Từ lại lầm về văn phạm Tàu, khi ông đặt tên bài hát của ông là Hải hồ khoan.

Nhưng vấn đề, không phải là thảo luận về văn phạm Tàu, vì nó chẳng liên quan gì tới bài này hết, nhưng cần nói ra sự thật, vì sự thật đó, cho biết một sự thật lớn hơn, có liên hệ đến vấn đề.

Nếu Đào Duy Từ không sai văn phạm Tàu thì bài hát không thể nào là Hải hồ khoan được, mà phải là Quan hải hồ khoan, và Hồ khoan nhứt định KHÔNG PHẢI là chữ nho, bởi chữ nho phải là Khoan Hồ.

Không phải là chữ nho thì là tiếng Việt chớ không còn tiếng nào khác mà nằm ở đó được, hay đúng ra là tiếng Lạc, nhưng Lạc bộ Mã chớ không phải Lạc bộ Trãi.

Đào Duy Từ là nhà nho không cách mạng, ít lắm cũng về văn chương, văn phạm. Vậy khi ông ghép chữ Nho Quan hải vào với chữ Nôm Hồ khoan thì đích thị là Hồ khoan là một tên riêng (Nom propre), tên của một bài hát cổ hơn, vì là tên riêng nên ông không có dịch ra chữ Nho, phải để nguyên như vậy để ghép vào chữ Nho.

Thí dụ muốn viết: Tôi đọc truyện Les Misérables thì một nhà nho cẩn thận phải viết: Ngô độc Les misérables chớ không thể viết Ngô độc Bần cùng nhân truyện, vì không dịch, người đọc sẽ biết ngay sách ám chỉ là sách nào, còn dịch thì quá nguy, bởi Nhựt Bổn cũng có một tác phẩm Bần cùng truyện, mà KHÔNG LÀ bản dịch Les misérables của V. Hugo.

Ấy, Đào Duy Từ ghép chữ Nho và chữ Nôm chính vì ông là nhà nho thông minh, nhất định không dịch tên riêng sợ người đọc không hiểu ông định ám chỉ đến cái gì. Ông không dịch thì người ta biết ngay rằng:

Quan hải = Nhìn biển
Hồ khoan = để ca bài Hồ khoan của dân tộc .

Thế thì ngay trong tên của bài hát của họ Đào, nhà nho ấy đã tiết lộ rằng có một bài hát cổ hơn mà ông đã ám chỉ đến trong cái tên của bài hát của ông. Bài hát cổ hơn là bài Bắt cái hồ khoan. Vậy Bắt cái hồ khoan không phải xuất hiện do bài hát của Đào Duy Từ, như ông Tân Việt Điểu đã viết, mà ngược lại bài hát của Đào Duy Từ bắt nguồn từ bài Bắt cái hồ khoan.

Nhưng tại sao họ Đào lại không đặt tên bài hát của ông là Quan hải bắt cái hồ khoan, mà lại bỏ bớt hai tiếng Bắt Cái? Vì ông quên nghĩa BẮT CÁI, nhưng còn nhớ nghĩa của HỒ KHOAN.

Ai biết được HỒ KHOAN là gì thì hiểu được bài hát cổ và hiểu được thâm ý của Đào Duy Từ, và biết được thêm rất nhiều truyện bí mật của thời Trung cổ nước ta, tức những gì xảy ra 500 năm trước Tây lịch mà bọn Lạc bộ Mã đến ở trọ với vua Hùng Vương.

Quyển sử của chúng tôi bị xén hết 1000 trang, tức xén tất cả những gì mà Chương ngôn ngữ tỉ hiệu đã cho biết về đời sống tinh thần, đã cho ta biết cái mà giáo sư Trần Ngọc Ninh chê là tiền sử học dở, không cho biết được. Quả tiền sử học không biết nhiều chi tiết, nhưng cổ ngữ học thì vạch rõ từng ly từng tí mọi việc nhỏ nhặt nhứt.

Ông Durand đã tình cờ đúng, khi ông dịch Hồ = Ohé. Chúng tôi nói ông vô tình vì ông không biết tiếng Mã Lai.

Mã Lai Lạc bộ Mã, tổ tiên của người Mường, tại Bắc Việt có hai tiếng là AIHO và HAI, đồng nghĩa với nhau, và Chàm biến thành HỜI, HỚI, và ta biến thành HÈ, HỠI, HÔ, HỐ, ƠI và ƠI ỚI. Đó là tiếng dùng để gọi nhau.

Hồ là do aihô, còn khoan là do kuang. Bắt cái hồ khoan là :

PƠR LICÁY AHÔ KUANG!
Pơr= bắt
Licáy = Cái = lãnh tụ, thủ lãnh (Bố Cái Đại Vương)
Ahô = Ới, hè!
Kuang = Thủ lãnh, tù trưởng, chủ soái

Câu đó dịch thoát là: "Thủ lãnh ơi ta nỗ lực để bắt tướng thủy quân (của địch) hè!”

KUANG to hơn LICÁY nên ta gọi thủ lãnh của ta là Kuang còn gọi thủ lãnh địch là Licáy.

Chúng tôi đã chứng minh trong quyển sử rằng vào thời Đào Duy Từ ta còn biết tiếng của Lạc bộ Mã, chưa biến dạng. Bằng chứng là tên xưa của cửa là được Ngô Thì Sĩ phiên âm là Cô la, tức phiên âm địa danh Kưala của Lạc bộ Mã. Các sử gia xưa ta luôn luôn dịch, khi nào họ dịch được. Nếu là Cửa Lò thì họ Ngô đã gọi là Lô Môn hoặc Lô Khẩu, nhưng họ Ngô lại phiên âm tức nơi đó, vào thế kỉ 17, còn mang tên là kưala y hệt như vào thời Gia Long mà cửa Thuận An cứ còn được gọi là Eo, một danh từ của Lạc bộ Mã.

Tên của bài hát cổ gồm 4 tiếng, nhưng chỉ có 2 tiếng là danh từ chung của hai chi Lạc, đó là LICÁY và AHÔ, còn Pơr tuy hơi giống bắt, nhưng không phải là ngữ nguyên của bắt. Kuang thì không bao giờ thành Việt ngữ về sau hết, vì bị lẫn lộn với Quan.

Chủng Mã Lai vô địch về thủy vận, nhưng Lạc bộ Mã nổi danh hơn Lạc bộ Trãi, và có lẽ đó là bài hát của bọn Lạc bộ Mã xin quyền sống chung với vua Hùng Vương, phục vụ nhà vua trong thủy quân của nhà nước Văn Lang.

Xin nói rõ về AHÔ. Lạc bộ Mã có hai tiếng dùng để kêu gọi là AHÔ! Và HAI!

Chàm biến thành HỜI và HỚI. ĐỒNG HỚI là cánh đồng của người Chàm. Còn ta thì biến rất nhiều. Chỉ có hai tiếng đó mà nó đẻ ra HỞI, ƠI, ỜI ỜI, ÔI Ớ, Ê (Coi chừng: ÔHÔ là tiếng Tàu, còn Ô HAY là tiếng của Lạc bộ Chuy tức Miến Điện, Tây Tạng, Cao Miên).

Đã bảo Chàm biến hai thành HỚI và HỜI, nhưng sao ta lại dùng Hời và Hới của họ để chỉ họ, hai tiếng đó, đâu phải là tiếng của ta? Một nhà trí thức Chàm rỉ tai cho tôi biết rằng không nên gọi họ là HỜI, là Hới, họ sẽ tức giận ghê lắm, vì đó là tiếng mà ta gọi kẻ không trọng.

Nguyên khi xưa, tại biên giới, họ không thấy ta họ cứ gọi mãi: “Hời, Hới” hoặc “ Hời! Hời”. Ta chẳng hiểu gì hết, bèn dùng hai tiếng đó để trỏ họ, một cách châm biếm, ý muốn nói rằng đó là dân ưa nói “ Hới, Hời”.

Chương X – Vùng núi An Tai hay là yếu tố Mông Cổ trong Việt ngữ

Khi sách nầy chưa in xong, chúng tôi có dùng Chương I để làm một cuộc thuyết trình, sau buổi nói chuyện thân mật, có chừa thì giờ cho quý vị thính giả nêu thắc mắc.

Một vị giáo sư có khuyên chúng tôi, khi ám chỉ đến quyển Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam (chớ không phải đến buổi thuyết trình) rằng nên cẩn thận khi chủ trương rằng Nhựt ngữ chứa đựng 65% tiếng Tàu và 35% tiếng Mã Lai.

Theo vị giáo sư thì Nhựt ngữ có chứa đựng dân tộc Mã Lai là khám phá của chính một nhà ngữ học Nhựt. Nhưng các nhà ngữ học Âu Mỹ kiểm soát lại thì thấy rằng dân tộc Mã Lai trong Nhựt ngữ rất ít và thuyết của nhà ngữ học Nhựt bị bỏ quên luôn.

Tưởng đây là một vấn đề hay, chúng tôi trình bày lại thật rõ chủ trương của chúng tôi để tự bào chữa và để tự cho thấy rằng các ông Nhựt ông Tây đều không đúng.

Khi thuyết của nhà bác học Nhựt ra đời thì chúng tôi cũng hay biết, nhưng có một điều mà nhà bác học đó không hay biết, mà cho tới nay các ông Tây cũng chưa biết là có hai thứ Mã Lai: Austroasiatiques và Anstronésiens, mà Tàu gọi là Lạc bộ Mã và Lạc bộ Trãi, hai thứ đó chỉ giống nhau về ngôn ngữ có 40% mà thôi, vì khi dời Himalaya, định cư ở các địa bàn khác thì họ sáng tác khác hết.

Phân biệt họ là các nhà tiền sử học mà công trình không được các nhà ngữ học biết. Và các nhà ngữ học chỉ tiếp tục biết có một thứ Mã Lai độc nhứt là Mã Lai Nam Dương vì dân đó đang tự xưng là Mã Lai.

Trong quyển sử, chúng tôi trình bày rõ là Nhựt Bổn là Mã Lai hỗn hợp y hệt như Việt Nam. Nhưng các nhà ngữ học cứ chỉ biết độc có một thứ Mã Lai thì họ bác nhà bác học Nhựt hơi oan. Với lại chính nhà bác học Nhựt đó cũng chỉ biết có một thứ Mã Lai độc nhứt.

Thế thì trong số vốn Mã Lai mà Nhựt còn giữ được là 35%, chính nhà bác học Nhựt và các nhà ngữ học thế giới cũng chỉ thấy có 7% danh từ Mã Lai, còn văn phạm thì không có Mã Lai gì hết.

Tại sao là Mã Lai hỗn hợp, thì đáng lý phải có 2/3 = 17,5% danh từ Nam Dương, thế mà lại chỉ có 7%? Vì người Nhựt biến nát danh từ Nam Dương hết, không chuyên môn không thể nhận ra.

Chúng tôi xin trình ra một thí dụ: ”Hiện nay và BÂY GIỜ” người Nam Dương nói là MASA INI.

INI là trạng từ chung của chủng tộc mà ta còn giữ được dưới hình thức NI, NẦY, v.v. Nhựt cũng giữ được hồi cổ thời. Nhưng họ bị hậu duệ của Phù Tô tràn ngập hồi cuối nhà Tần, thành thử họ bị truyền nhiễm cú pháp HIỆN ĐẠI. Thế nên họ dời INI, để trước MASA, nó hóa ra là INI MASA = HIỆN ĐẠI. Ini masa được dùng mãi cho đến thời canh tân thì họ lại viết dính các danh từ của họ lại, vì bắt chước Tây (tức cách đây không lâu).

Trong cuộc viết dính đó, NI bị nuốt và SA bị nuốt, nên nay chỉ còn IMA. Khi so MASA INI với IMA, không còn nhà bác học nào mà biết hai tiếng đó cùng gốc mà ra hết.

Thế nên sự thật có 17% tiếng Nam Dương, nhưng các ông chỉ biết có 7%, rồi các ông chê rằng thuyết đó sai. Nhà bác học Nhựt cãi không được cũng đành chịu thua. Vả lại vào năm mà nhà bác học Nhựt đó khám phá ra sự kiện nói trên thì khoa tiền sử học làm việc chưa xong. Khoa học chưa thấy dấu vết di cư của chủng Mã Lai từ Đại Hàn xuống Đông Nam Á. Như thế, ngôn ngữ của hai đàng phải giống nhau 100% họ mới nhìn nhận, phương chi lại giống nhau có 7% nhưng cũng đã nát hết như MASÉ biến thành MAĐÁ, MATI biến thành NAKI.

17% danh từ Lạc bộ Trãi thì không bao giờ được ai biết cả. Nhà bác học Nhựt đó đã khám phá một sự kiện lớn lao, cũng không biết có bọn Trãi trên đời nầy. Các ông Tây lại càng không biết hơn, vì các nhà bác học Âu Mỹ làm việc ở Đông Bắc Á không có làm việc ở Đông Nam Á và ngược lại. Không có ai ở Đông Bắc Á mà biết tiếng Việt Nam và tiếng Thượng Việt cả.

Danh từ của bọn Lạc bộ Trãi là bọn thua trận bị phe Thiên Hoàng là Lạc bộ Mã lãnh đạo, tuy ít bị biến sai như danh từ Nam Dương, nhưng không ai biết tiếng Việt Nam và tiếng Thượng Hải thì làm sao đây?

Thí dụ, con sán (xơ mít) của ta thì Nhựt gọi là SANA. Sana đâu phải là tiếng Nam Dương, nhưng các ông chỉ biết có tiếng Nam Dương, thế mới chết. Cái SỪNG của ta, Nhựt gọi là TSUNO, cũng đâu phải là tiếng Nam Dương, thế nhưng các ông chỉ biết tiếng Nam Dương thì làm thế nào?

Vậy các ông bèn kết luận rằng Hàn ngữ và Nhựt ngữ thuộc dòng An Tai ngữ.

Văn phạm của Nhựt như thế nầy:

Ở đây chi có con chó là có hay không?

Ta nói:

Ở đây có con chó hay không?

CHI, người Nhựt nói là NÔ, nhưng đó cũng là sự truyền nhiễm của 127 huyện của Phủ Tô, chớ Mã Lai không bao giờ có cú pháp đó. Tuy nhiên họ vẫn khác Mã Lai ở điểm động từ CÓ bị dời ra đàng cuối câu.

Nhưng không vì thế mà phủ nhận họ là Mã Lai được. Về vấn đề văn phạm bị biến, chúng tôi đã nói nhiều trong quyển sử. Chính danh từ mới trường tồn, còn văn phạm thì rất dễ bị mất, ngược hẳn với tin tưởng của mọi người.

Vậy ông Nhựt và ông Tây không nhận diện được 8% tiếng Nam Dương trong Nhựt ngữ và tuyệt đối không biết 17% danh từ của Lạc bộ Trãi tức của Đại Hàn, Việt Nam và Thượng Việt. Đại Hàn gọi con chó là con KAI (con cầy) khiến các ông Tây điếc tai, cho đó là tiếng Mông Cổ! Họ gọi TRĂNG là TAL, các ông Nhựt cũng điếc tai luôn, vì Nhựt đã quên danh từ Trăng của chủng tộc vay mượn của Tàu hàng trăm năm rồi: Nguyệt ( yụyt ( Tsuk (i).

Đó là danh từ của Lạc bộ Trãi mà Đại Hàn là Lạc bộ Trãi thuần túy 100%, không dùng lấy một danh từ Nam Dương nào hết như Nhựt và ta đã dùng.

Chúng tôi cảm tạ vị giáo sư tử tế đó, đã lưu ý chúng tôi đến một điểm có thể sai lầm to mà uổng công học hỏi. Nhưng chúng tôi sẵn sàng đối thoại với các nhà bác học Âu Mỹ, nếu họ thèm đếm xỉa đến chúng tôi.

Và chúng tôi đã có bồ rồi. Theo tiết lộ của giáo sư Nghiêm Thẩm thì Nhựt cũng đã chợt biết trên đời nầy có bọn Trãi mà chính ta và Thượng Việt là Trãi. Họ có đến Sài Gòn để nghiên cứu có ghé thăm giáo sư để tâm sự, nhưng không biết họ đã hay biết rằng:

Sana = Sán (xơ mít) (Việt Nam)
Tsuno = Sừng (Việt Nam)
Mau = Múa (Việt Nam)
Mai = May (Việt Nam)
Arau = Rửa (Khả Tu)
Inú = Anuk (Khả Tu)

Hay chưa? Đó là danh từ của Trãi mà Nhựt và ta với Thượng Việt đều giống hệt nhau, người Nam Dương không có trừ Kơmarau = Rửa

Kamu = Cắn
Kamiau = Cắn nhau

Rõ như ban ngày.

Ấy đó, cái 35% tiếng Mã Lai trong Nhựt ngữ, thành phần nó như thế đó, nhưng lại có 17% danh từ Trãi mà không nhà bác học nào biết hết, còn lại 17,5% danh từ Nam Dương thì các ông chỉ nhận diện được có 7% hóa ra không đáng kể và khám phá của nhà bác học trên bị bỏ trôi là vì thế và buồn lắm là chính người khám phá cũng đánh chịu Forfait khi mà người ta cho thấy rõ là chỉ có 7,5% thì không thể nói rằng là chỉ có 7,5% thì không thể nói rằng tiếng người có gốc Mã Lai được.

Khi mà KIRI của Chàm và của Nam Dương có nghĩa là Bên trái, bị nông dân miền Trung Việt biến thành RÌ để điều khiển trâu cày, thì thiên hạ nhận diện còn được, chớ Nhựt biến thành HAĐIRI thì chỉ có trời mà biết rằng KIRI và HAĐIRI đồng gốc Mã Lai.

Bây giờ chúng tôi xét qua chủ trương Âu Mỹ cho rằng Hán ngữ và Nhựt ngữ thuộc gia đình An Tai ngữ, xem nó có đúng hay không, chúng tôi đã bác bỏ chủ trương ấy trong cuốn sổ của chúng tôi.

Trong quyển Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, chúng tôi đã cực lực bác bỏ chủ trương của sách Âu Mỹ cho rằng Hàn ngữ và Nhựt ngữ gốc là ngôn ngữ của vùng núi Altai (tây bắc nước Tàu) và cho rằng hai ngôn ngữ đó chỉ là đó chỉ là Mã Lai ngữ.

Các ông Tây đã học rồi nên mới dám viết như vậy, nhưng chúng tôi lại cả gan bài xích các ông, không phải là cãi bướng mà vì các ông ăn nói không minh bạch, khiến cả thế giới đều hiểu lầm.

Cho hay, khoa học không thể nói mù mờ như người thường mà phải chính xác, nên chúng tôi phải bác bỏ, vì mặc dầu các ông nói đúng, nhưng thiên hạ lại hiểu sai.

Vùng núi Altai hồi cổ thời chia thành hai khu vực rõ rệt. Ở tây nam, người dân là Nhục Chi, nói tiếng Ấn Âu, tức tiếng Tây. Đó là xứ Thổ Lỗ Phồn. Khu tây bắc là địa bàn Mông Cổ, mà về sau Mông Cổ đặt Kinh đô Quaraqo- roum của họ ở đó.

Khi vùng đại danh vùng núi Altai thì ai muốn hiểu sao cũng đúng cả, nhưng thiên hạ lại hiểu là vùng Tây Nam, tức vùng Nhục Chi và Hàn ngữ và Nhựt ngữ là tiếng Tây.

Chúng tôi cũng đã dịch Altai là Tây Vức trong quyển sử của chúng tôi, không phải vì chúng tôi không biết rằng các ông Tây nói đúng, họ chỉ nói không minh bạch mà thôi nhưng chúng tôi có mục đích bác bỏ ngay vì giấy sắp lên giá khi in quyển đó, chúng tôi phải lọc bớt trang thì không thể nói dài dòng được mà hễ nói tắt là phải bác bỏ.

Vậy đại danh mơ hồ vùng núi Altai của sách Âu Mỹ chỉ có nghĩa là Mông Cổ. Nhưng nếu chúng tôi dịch đúng thì phải giải thích dài dòng, mà các ông Tây cũng không nói đúng hơn gơ-ram nào cả.

Ba dân tộc : Đại Hàn, 2/3 Nhựt Bổn và 2/3 Việt Nam đều là Mã Lai Hoa Bắc nước Tàu, chớ không làm sao mà họ lại nói tiếng Mông Cổ như các ông Tây đã lầm.

Nhưng các ông Tây đã lầm vì quả trong Hàn ngữ và Nhựt ngữ có yếu tố Mông Cổ. Việt ngữ cũng mang chút ít yếu tố Mông Cổ nhưng các ông Tây không biết nên không nói đến Việt Nam.

Tại sao ba ngôn ngữ đó lại mang yếu tố Mông Cổ? Vì Lạc bộ Mã có lai giống với Mông Cổ trên một tỉ lệ 1/15 như sọ ở hang làng Cườm đã cho thấy. Riêng Đại Hàn và Nhựt, vì ở quá gần đó nên yếu tố Mông Cổ về sau, tức sau cuộc hợp chủng lần đầu, lại tăng thêm, nhiều nhứt là Đại Hàn. Nhưng các yếu tố Lạc bộ Trãi thì các ông Tây mù tịt, nên không bao giờ nói đến, mặc dầu đó là yếu tố căn bản, ít lắm cũng trong Việt ngữ và Nhựt ngữ, còn trong Hàn ngữ thì quá ít, nhưng vẫn có. Đại Hàn mất gần hết danh từ của Lạc bộ Trãi, nhưng cứ còn.

Các ông không biết hai điều:

I - Không biết có Mã Lai đợt I tức Lạc bộ Trãi,

II - Không biết là Lạc bộ Trãi có lai giống với Mông Cổ tại Hoa Bắc.

Nhưng cái sọ ở hang làng Cườm đã gạt gẫm các ông Tây ở Hà nội và các ông cho là lai Tàu, mà lai tại cổ Việt, tức Tàu đã tới xứ ta từ 5000 năm rồi.

Nhựt có tĩnh từ XIUUA, mà các ông kí hiệu theo Anh là SEWA, mà riêng Nhựt đã dùng để chỉ tới hai văn thể của họ là SETSEWA và SEWA MONO.

Các ông Tây có biết tiếng Mông Cổ, và thấy trong Hàn ngữ và Nhựt ngữ có một số danh từ Mông Cổ, nhưng không hề có SEWA và MÔNÔ chỉ có MÓN của Lạc bộ Trãi.

Ở Nhựt SETSEWA = TÍCH XƯA = LÉGENDE

Còn MONOSEWA = một thể kịch diễn tuồng Phong tục, vì xưa cũng có nghĩa Phong Tục, trong Sơ Đăng ngữ.

Vậy trong cả ba quốc gia Đại Hàn, Nhựt Bổn, Việt Nam đều có một số danh từ Mông Cổ mà không ai dè, không dè nhứt là ở Việt Nam.

Danh từ KẺ là danh từ của Mông Cổ, có nghĩa là người dưới hình thức sau đây KÉ. KẺ CHỢ có phải chăng là người ở chợ?

Mông Cổ: Ké
Cao Miên: Kê
Việt Nam: Kẻ

NGƯỜI chỉ là một danh từ do một ngữ nguyên khác tạo ra.

KẺ đẻ ra CON.

Nhưng CON và NGƯỜI ra đời rồi mà KẺ vẫn còn được thịnh dụng, qua câu ca dao tương đối mới, biết rằng nó mới vì trong đó có danh từ TIỀN và CAU. Hồi cổ thời ta đâu có nói Cau mà nói là NANG, y hệt như Chàm và Mã Lai.

Đồn rằng Kẻ Trọng lắm cau
Kẻ Cát lắm lúa, kẻ Mau lắm tiền

Nhưng KẺ không đẻ ngay ra KON đâu, mà có hai ba thế hệ giữa dòng đời của bọn ấy. Kẻ đẻ ra KO của dân Làc (ở Đà Lạt), KO đẻ ra CÂU của dân Mạ (ở Lâm Đồng) rồi KO và CÂU mới đẻ ra CÔ AI của Bru và NCỐ của Pacóh, rồi mới đến KON của Thái và CON của Việt Nam hồi cổ thời.

Đây là xâu chuỗi biến dạng.

Hệ thứ nhứt

Mông Cổ:
Cao Miên:
Việt Nam: KẺ
Làc: KO
Bru: CÔAI
Pacóh: NCÔH
Mạ: CÂU
Thái: KON
Cổ Việt Nam: CON

CON thì hiện Thái còn dùng đẩ chỉ NGƯỜI.

Nhưng có bằng chứng nào để dám khẳng định rằng trong Việt ngữ có một thời nào đó, CON có nghĩa là NGƯỜI hay không? Có. Bằng chứng rất vững và rất lâu đời, cổ ít lắm cũng bốn ngàn năm.

Ta có danh từ kép BÀ CON. Bà con phải chăng là người phía bên Bà? Không thể nào mà Bà con lại là BÀ và CON CHÁU, bởi còn anh, chị, chị em, chú, bác, cô, dì, đủ thứ hết, tại sao lại chỉ trỏ có BÀ và CON CHÁU thì quá vô lý.

Vậy CON chỉ có thể là NGƯỜI.

Nhưng tại sao lại là người phía bên bà? Tại chế độ mẫu hệ cổ thời. Con theo họ mẹ. Nhưng người bên bà, bên mẹ là người đồng tộc, còn kẻ bên ông là người ngoại tộc, không là bà con (theo chế độ mẫu hệ).

Vậy bà con là người đồng tộc nhưng mà là tộc bà.

Ta lại có từ ngữ to con hay TO người. Rõ ràng:

Con = Người

Cũng nên biết hai điều nầy:

I - TO CON chỉ được nói ở miền Nam, còn ở miền Bắc thì không, hoặc rất ít được nói. Thế thì dùng từ ngữ miền Nam để nói chuyện cổ thời là sai chăng?

II - Không sai. Chúng tôi đã chứng minh trong quyển sử rằng miền Bắc mất ngôn ngữ rất nhiều, thời vua Lê Chúa Trịnh, nhưng lưu dân đi Trung, đi Nam thì giữ được bởi nguyên nhơn mất ngôn ngữ chỉ xảy ra tại đất Bắc mà thôi. Lưu dân ăn nói theo Bắc cổ thời.

Ngay ở Chương II của sách này cũng đã có chứng tích như thế. Người miền Bắc không hiểu ca dao tục ngữ miền Bắc mà người miền Nam thì hiểu.

III) Chữ TO trong từ ngữ trên đây chứng minh được gốc gác miền Bắc của từ ngữ vì người miền Nam chỉ nói LỚN và BỰ mà không nói TO trừ trường hợp độc nhứt là từ ngữ TO CON mang từ miền Bắc vào.

Vậy thuở xưa, chính miền Bắc đã nói TO CON chớ không nói TO NGƯỜI và đó là chứng tích dở, mặc dầu miền Nam chỉ mới được khai sanh hơn ba trăm năm.

Nhưng đến hình thức KON thì có biến. Kon mọc đuôi rất dài, biến thành KONANG tức thêm ANG. Mã Lai như đã bắt đầu đa âm rồi. Tiếp vĩ ngữ ANG trong KONANG có nghĩa là MẠNH. Quả thật người Nam Dương có danh từ LANANG là Đàn ông lực lưỡng.

(KON) ANG có thể ban đầu là người mạnh. Người mạnh là người đàn ông, khác với người đàn bà là người yếu nên chủng Mã Lai mới tạo ra LANANG = Lan + ang để chỉ đàn ông và tạo PƠRTINA, WAHINA để chỉ đàn bà là kẻ yếu, và giữ KONANG để chỉ NGƯỜI tổng quát.

Mã Lai sáng tác lanang trước khi di cư đi Nam Dương và cho Kon mọc đuôi thành konang cũng trước khi đi Nam Dương. Đến nơi một thời gian họ mới biến ra konang để rồi rụng đầu, hóa ra ngày nay người của họ là ORANG.

Tại sao không để nguyên KONANG mà biến thành KORANG? Là tại ảnh hưởng Ấn Độ. Cứ nghe một ông Ấn Độ ở Sài Gòn nói tiếng V. N. là đủ hiểu cả: ”Côrơ ơirơ, tôirơ, yêurơ, côrơ, lắmrơ.”

KONANG đã có trước khi Lạc bộ Mã di cư đi Nam Dương, vì bọn ở lại bên Tàu có nhiều nhóm bị Hoa hóa sâu đậm lắm rồi thế mà về tiếng người họ không dùng tiếng Tàu, mà nói Nang, Náng, Nàng.

Nang (Phúc Kiến)
Náng (Triều Châu)
Nàng (Hải Nam)

Trong quyển sử, chúng tôi đã lầm mà nói rằng bọn ở lại, đã chịu ảnh hưởng Trung Hoa nên mất âm R, KO-RANG biến thành KONANG rồi lại chịu ảnh hưởng độc âm của Trung Hoa thêm một cú nữa thì KONANG bị co rút thành NANG.

Nhưng chúng tôi học lại thì thấy khác. KONANG đã có trước KORANG. Tại Trung Hoa nó chỉ mất đầu KO mà thôi. Tại Nam Dương thì N biến thành R vì thói lạm phát R của Ấn Độ. Ở Chàm cũng có ảnh hưởng Ấn Độ, nên nó biến thành urang (mất đầu K).

Ta cũng có một thời nói KONANG, tuy không còn dấu vết trong ca dao, nhưng đồng bào Thượng có thì ta phải có. Mãi cho đến ngày nay mà người Sơ Đăng còn nói KO- NỐU = Người.

Tóm lại dấu vết KO, KON, KONANG đều còn đủ mặt trong lãnh thổ Việt Nam, chỉ có riêng xã hội Việt Nam thì thiếu KONANG nhưng người Sơ Đăng còn giữ được.

Hình thức Ko thì còn giữ được đầy rẫy ở cao nguyên Lâm Đồng, và KO = Người trong ngôn ngữ của riêng dân Núp, Kâyông Việt. Việt… CO LÀC là NGƯỜI DÂN LÀC.

Trong ngôn ngữ Bru COÂi là NGƯỜI. CÔAI BRU là NGƯỜI DÂN BRU. Trong ngôn ngữ Mạ thì CÂU là NGƯỜI. CÂU MẠ là NGƯỜI DÂN MẠ.

Lại có đại biến, riêng tại lưu vực Hồng Hà. Đó là cuộc xâm lăng của Mã Viện và Mã Lai ngữ ở đó bị độc âm hóa. Konang bị ép như mía của các chị bán nước mía. Và hóa thành O, đã mất đuôi, lại đứt đầu.

Nhưng cấm nói vô bằng chứng. Bằng chứng là đây. Ta có hai ba câu ca dao khá cổ mà trong đó O = NGƯỜI:

O mi coi dáng nhu mì
Cứt dê bỏ bị mà đi khắp làng.

O mi là CON NGƯỜI CỦA MI rõ ràng.

Tự điển K. T. T. Đ định nghĩa O là CÔ. Đành thế, nhưng O phải có nghĩa gì nữa thì câu ca dao này mới là có nghĩa, chớ nếu O chỉ là CÔ thì là gì? Xin thay thế chữ O bằng chữ CÔ ở câu trên để xem sao.

Cô mi coi dáng nhu mì
Cứt dê bỏ bị mà đi khắp làng.

Không có nghĩa gì hết. Tại sao lại chê “cô” của một kẻ nào đó. Cô của hắn phải đã già rồi, không cần được người đời nói đến nữa. Người ta có khen chê thì chỉ khen chê em gái của kẻ đó, hoặc chị của kẻ đó thôi: Không, O trong câu nầy, không thế nào mà có nghĩa là CÔ được, mà đúng là Người: Người của mi coi dáng nhu mì.

Chữ O với nghĩa là CÔ, chỉ hữu lý trong câu ca dao sau mà thôi:

O bà cũng nọ mần chi
Hễ ông thương đặng thì dì cũng hơn

Đấy, O là Cô đấy, nhưng người chép ca dao, ông Nguyễn Văn Ngọc, cũng đã chép sai một tiếng. Đó là NỎ chớ không phải NỌ. NỎ cũng cứ là tiếng Mã Lai và có nghĩa CHẲNG. Xin chuyển ra danh từ đời nay:

Cô bà cũng chẳng làm chi
Hễ ông thương được thì dì cũng hơn

Chữ O với cái nghĩa là CÔ là danh từ Chàm (Lạc bộ Mã) mà ta vay mượn và quả câu ca dao thứ nhì là ca dao miền Trung bằng vào nhưng tiếng mà miền Bắc không có dùng, thí dụ MẦN thay cho LÀM, ĐẶNG thay cho ĐƯỢC.

Chữ O trong câu ca dao thứ nhứt là danh từ của Lạc bộ Trãi, tức đó là sự co rút tới mức triệt để của Konang.

Đó là hình thức sau Mã Viện, chớ trước Mã Viện, ta đa âm thì phải dài hơn, nhưng không biết nó ra sao, vì không tìm được dấu vết, có thể là KONANG, mà cũng có thể là KONỐU như nơi người Sơ Đăng.

Câu ca dao trên đây, chắc chắn là bắt gốc tại Đàng Trong vì có những tiếng mà chỉ có Đàng Trong mới dùng, vì vay mượn của Chàm: MẦN, ĐẶNG (thay vì ĐƯỢC) và chính người Chàm xưa gọi CÔ là O.

Thế thì O gốc Chàm trong câu sau phải khác với O Bắc Việt trong câu trước. O sau là của Lạc bộ Mã có nghĩa là CÔ, O trước của Lạc bộ Trãi có nghĩa là CON.

Đây là xâu chuỗi được hồi phục:

Thế hệ thứ nhứt

Mông Cổ:
Cao Miên:
Việt Nam: KỂ
Làc: KO
Mạ: KÂU
Bru: CÔAI
Pacóh: NGÔH
Thái: CON
Việt Nam: CON (trước Mã Viện)
Việt Nam: O (sau Mã Viện)
Sơ Đăng: KONỐU
Việt Nam: KONANG (Không có chứng tích)
Lạc bộ Mã: KONANG (Chưa di cư)
Lạc bộ Mã: NANG (Bọn ở lại thành Tàu)
Lạc bộ Mã: KORANG (Bọn di cư đi Nam Dương)
Lạc bộ Mã: ORANG (Rụng đầu K)

Dân Sơ Đăng, bằng chứng vào ngôn ngữ, là Lạc bộ Trãi, thế nên mặc dầu không tìm thấy dấu vết KONANG trong ngôn ngữ ta, trong biểu đối chiếu trên đây, chúng tôi để Việt Nam có Konang vì Sơ Đăng có thì ta phải có.

Danh từ KONỐU quan trọng hơn hết vì nó là cái khoen biến chuyển từ KON ra KONANG. Trong xâu chuỗi nầy, ta thiếu mất một dân tộc nói KONANG, nhưng KONỐU đã cứu vãn được xâu chuỗi. Quí vị sẽ biết rõ người Sơ Đăng ở những Chương sắp tới, họ gần gũi ta lắm, trong các nhóm Thượng, nhiều danh từ Việt, không nhóm nào có cả, trừ Sơ Đăng.

Thế ta vừa khám phá ra danh từ cổ Việt nó giúp cho cái xâu chuỗi danh từ thành hình rõ rệt, nhưng không phải là giả thuyết chút nào cả. Đó là hai danh từ O và CON.

XIN ĐẶC BIỆT CHÚ Ý: Chúng tôi nói rằng trong Việt ngữ cổ thời O và CON đều có nghĩa là NGƯỜI và chúng tôi đưa ra chứng tích là ca dao tục ngữ, từ ngữ.

Nhưng chúng tôi xin trình ra chứng tích mạnh hơn, thấy được trong ngôn ngữ của dân tộc khác.

Trong ngôn ngữ Sơ Đăng, BÀ CON họ nói là NHONG O.

NHONG là BÀ, O là CON, y hệt như ta, và vào thời cổ, dân ta đã nói BÀ O thay vì BÀ CON y hệt như người Sơ Đăng hiện kim.

Khi ta thấy KƠPÔ của Nam Dương biến thành TRÂU của Việt Nam qua một xâu chuỗi biến dạng thì cái gì cũng có thể biến thành cái gì cả.

Nam Dương: KƠPÔ
Xi Tiêng: KƠRPU
Sơ Đăng: KÔPOU
Chàm: KAPAO
Ra Đê: KBAO
Giarai: KBAO
Cao Miên: KÀPÂY
Rôplai: CÙVAU
Khả Tu: KAPIU
Jêh: KAPÌU
Các phụ chi Mạ: GAPU
Mạ: R PU
Duan: R PU
Khả Lá Vàng: SALU
Việt Nam trung cổ: T LU
Bắc Việt nông thôn: TRU
Việt Nam: TRÂU

Úm ba la Kơpô = Trâu

Nếu chúng tôi nói TƠLO của Nam Dương = TRỨNG của Việt Nam, chắc không ai tin cả. Nhưng nếu biết rằng sách của các cố đạo hồi thế kỉ 17 không viết là TRỨNG mà viết là TLỨNG thì quý vị sẽ hơi hơi tin.

Nhưng Mã Lai Nam Dương lại có một danh từ nữa để chỉ Trứng, đó là TƠRONG, biến dạng của TƠLO. Quí vị chắc đã tin rồi.

Nguyên TRÁI CÀ, Mã Lai gọi hệt như Ăng Lê là TRỨNG CÂY (Egg plant). Và TRỨNG CÂY không còn là TƠLO nữa mà tiến đến TƠRONG.

Tơlo = Tlứng
Tơrong = Trứng

(Nghĩa Sơ Đăng còn tiến xa hơn Nam Dương nữa, vì họ nói là TRÓNG, cái dấu sắc đó, đưa họ xít lại gần ta hơn)

(Cũng nên biết rằng có một loại cà tên là CÀ TRỨNG mà người Bắc hình như gọi là CÀ PHÁO vì nó giống cái trứng chim. Việt Nam đã đánh mất TRỨNG CÂY trong thời bị đô hộ và CÀ chỉ là tiếng Tàu, đọc theo Quan Thoại, nhưng người Thượng thì còn, như danh từ Sơ Đăng cho thấy).

Thế hệ thứ nhì

Hệ người thứ nhì, theo linh cảm của chúng tôi, có thể là thế hệ thứ I, danh từ thật sự của chủng Mã Lai hồi thuở còn ở Himalaya, chớ không phải là của người Mông Cổ.

Vì đó là danh từ quá cổ, cổ đến tám ngàn năm là ít, nên dấu vết chỉ còn thấy được trong hai dân tộc: Việt Nam và Sơ Đăng:

Việt Nam: Gã
Sơ Đăng: Gá

GÃ và GÁ đều mang hai nghĩa: HẮN và NGƯỜI trong Việt ngữ và Sơ Đăng ngữ. Hệ này biến dạng như sau:

Việt Nam: Gã
Sơ Đăng: Gá
Sơ Đăng: N’gê (Mọc đầu N)

Tới hình thức N’GÊ thì Sơ Đăng cho nó cái nghĩa hẳn là NGƯỜI, không còn mang hai nghĩa như GÁ nữa. Và xâu chuỗi cứ tiếp tục:

Sơ Đăng:
V.N:
Sơ Đăng: N’GÊ
Giarai: NGAAI (đổi đuôi)
Bà Na: BNGAAI
Jêh: MANGAAY
Mường: M’WAI
Phi Luật Tân: M’NUI (đổi đuôi)
Cao Miên: M’NƯ
Khả Bolonens: P’NUI
Khả Lá Vàng: R’NUI
Khả Tu: MANƯIH
Việt Nam: NGƯƠI

Nhưng NGƯƠI của ta thành hình thiếu dấu huyền. Nó là NGƯƠI và được dùng với nghĩa là MẦY. Không phải là NGƯỜI của ta thành hình sau các dân tộc khác, mà đó là hình thức kế chót của riêng ta, còn xưa hơn, có lẽ ta cũng nói là NGÊ y như Sơ Đăng hay một cái gì na ná như thế. Ta đã lập quốc còn người Sơ Đăng thì không chắc đã có nước thì ngôn ngữ của ta phải tiến nhiều hơn ngôn ngữ của họ. Biết điều đó rồi, ta cần hiểu rằng NGƯỜI là hình thức sau của ta, chớ không phải là nó có sau các dân tộc khác.

Sự gạt gẫm của các xâu chuỗi biến dạng, chúng tôi đã lưu ý quý vị rồi ở biểu đối chiếu đại danh từ Tôi, là không phải gặp Chàm tại Quảng Bình, ta mới mượn CAU của họ để biến thành TAU.

Ngươi ra đời thiếu dấu huyền. Điều đó không có gì lạ. Lạ là ta chưa cho nó cái nghĩa là NGƯỜI. Nhưng không. Dĩ nhiên là con đẻ của NGÊ, nó phải có nghĩa là NGƯỜI. Nhưng ta đã có KON nên ta gán cho NGƯƠI một nghĩa khác là MẦY.

Thời nầy cũng còn để dấu vết, trong câu ca dao sau đây:

Còn đời ngươi ấy ngươi ơi,
Nào ngươi đã bảy tám mươi mà già

Sơ Đăng đi thẳng từ KÊ đến NGÊ, còn ta thì lại ngừng lại ở Ngươi và cho nó nghĩa khác. Tại sao? Chương trước đã cho quý vị thấy rằng là vua Hùng Vương đã vay mượn TA của Lạc bộ Mã, và hồi cổ thời thì chỉ có Mầy với Ta mới đáng kể, vì gia đình nguyên thỉ chỉ có hai nhân vật đó. Thói quen ấy kéo dài đến thời vua Hùng Vương.

Ngươi thành hình nhưng bị gán cho cái nghĩa là MẦY, tức cũng cứ là NGƯỜI, nhưng NGƯỜI KHÁC, không phải là TA, tức TA KHÁC.

Trong giai đoạn nầy, ta lại dùng ngươi để chỉ một bộ phận của con mắt.

Việt Nam: Con ngươi
Sơ Đăng: Kongê

Tại sao lại có cái nghĩa đó? Là vì CON NGƯƠI là nơi mà MẦY thấy bóng hình của mầy trong đó.

Rồi thì NGƯƠI đội dấu huyền và thành CON tức các MẦY bởi vì CÁC MẦY khác cũng thấy bóng hình của họ trong đó. Vậy CON NGƯƠI của ta là tất cả mọi người, tức là CON vậy. NGƯỜI TA là kẻ có hình bóng trong CON NGƯƠI của TA, tức là CON vậy.

NGƯỜI TA ra đời, cạnh tranh với CON và cả thắng vì nó có ngữ nguyên gốc tổ là GÁ, GÃ, còn CON do ngữ nguyên ngoại chủng là KÉ của Mông Cổ.

Một cái luật trong Việt ngữ mà chúng tôi đã xướng ra trong quyển sử, được xác nhận lại ở đây một lần nữa “Khi một danh từ của ta, gốc ngoài, thì luôn luôn nó bị ta cho nó một nghĩa kém cỏi. KẺ là NGƯỜI mà ta không trọng.

HAY là trạng từ của Lạc bộ Chuy. Vậy khi một cậu con trai tán gái không khéo, cô ấy kêu lên “Ô hay, cái ông nầy!” Cô ấy chê đấy, chớ không phải là khen đâu!

Vương Quan nói với Thúy Kiều:

Vương rằng chị nói HAY sao?

Cậu em đó cũng đã chê chị chớ không phải khen bằng trạng từ HAY đâu. Trạng từ của Lạc Bộ Trãi là giỏi.

Việt Nam: Giỏi
Thượng Việt: Rơgởi
Nhựt Bổn: Zyoozu

Thượng Việt và Nhựt tuyệt đối, không biết HAY.

Thế thì hồi thái cổ ai cũng nói giống nhau hết, trong đại khối Mã Lai nhưng lai giống với Mông Cổ rồi, mới có KẺ và KẺ mới đẻ ra đủ thứ như ngày nay.

Nhưng cái danh từ GÁ thái cổ, chắc chỉ còn tồn tại quanh núi Himalaya. Người Népal ở gần núi đó nhứt. Hiện họ có di cư đến Sài Gòn, chúng tôi có tiếp xúc với họ và quả họ không nói là KÈ, KẺ gì hết bởi họ không có lai với Mông Cổ. Nhưng họ chỉ xuất hiện ở vỉa hè Lê Lợi về đêm, và bận buôn bán, nên chúng tôi không học hỏi với họ được bao nhiêu, vả lại họ cũng nói tiếng Anh ba trợn, chỉ biết: Mắt, Rẻ, Bao nhiêu, v.v. mà thôi.

Nên biết hai điều nầy:

I) Lạc bộ Mã không hề lai giống với Mông Cổ hoặc với Tàu như tiền sử học đã cho thấy. Nhưng một nhóm Lạc bộ Trãi là bọn Bộc Việt đã vượt Hoàng Hà để xuống Hoa Nam với Lạc bộ Mã, thành thử Lạc bộ Mã mới có KORANG con đẻ của KÉ Mông Cổ được.

Người Chàm (Mã) đã đánh mất hệ thống GÁ của Lạc bộ Trãi, nhưng người Giarai (Mã) lại còn giữ được với danh từ NGAAI mà Chàm không có.

HỌ cũng là tiếng Mông Cổ. Trong Mông ngữ HÔYIN là một bộ lạc trong đó tất cả mọi người, đông hàng vạn đều đồng tông. Ta đã biến HO = HỌ và YIN = DÒNG.

Về sau bộ lạc tan rã, nhưng Họ và Dòng thì còn. Nhưng dưới thời vua Hùng Vương còn bộ lạc thì các bộ lạc ấy chắc được gọi là Hoyin (nếu chưa biến dạng) hoặc Họ, Dòng nếu đã biến dạng rồi.

ÔNG cũng là tiếng Mông Cổ. Vua, họ gọi là KHAN, Tàu phiên âm là HẢN. Ông vua = Ong khan (không có dấu mũ)

Các ông ưa bắt ta làm bà con với Tàu, cứ quả quyết rằng ta học Ông với Tàu mà không dè rằng các dân tộc đều cùng học một thầy, thầy Mông Cổ.

ÔNG bị Lạc bộ Trãi ở Cao Nguyên biến thành:

Kong (người Sơ Đăng)
Un (các phụ chi của dân Mạ)

Nhưng UN của Mạ lại là BÀ chớ không là Ông như Kong của Sơ Đăng, vì trải qua năm tháng, có sự thay đổi chế độ mẫu hệ, phụ hệ, chế độ thì biến, nhưng danh từ thì còn.

Nhưng người Chàm có ÔNG là vì họ chịu ảnh hưởng của Việt chớ Lạc bộ Mã không hề có lai giống với Mông Cổ.

Người Sơ Đăng chưa hề thấy mặt Tàu lần nào cũng không có học của ta. Vậy khi nào mà một danh từ mà Việt, Hoa, Sơ Đăng đều có, là danh từ Mông Cổ chớ không phải của Tàu đi vào ngôn ngữ Sơ Đăng do trung gian Việt Nam, trừ danh từ ĐỒNG, và CHANH, THÙNG thì quả họ đã học của ta.

Điều trên đây, có thể biến thành một luật văn phạm mới: “Những danh từ mà ta ngỡ là Hán Việt, không là Hán Việt, nếu người Sơ Đăng có. Đó là danh từ Mông Cổ mà chính Tàu cũng đã học. Ta và Sơ Đăng học trước Tàu vì đã có bằng chứng là ta làm chủ Hoa Bắc trước Trung Hoa (trừ Đồng, Chanh và Thùng mà Sơ Đăng học của ta).

Có một điều nầy, có thể nói là kinh dị, mà không nói quá lố chút xíu nào hết. Là người Sơ Đăng, đọc những danh từ mà ai cũng ngỡ là Hán Việt đó, bằng giọng Quan Thoại. Ấy người Tàu di cư đến Việt Nam chỉ là Quảng Đông, Phúc Kiến, v.v tức Tàu Hoa Nam, không có dùng giọng Quan Thoại. Nếu rủi có một người Tàu lọt được vào cộng đồng Sơ Đăng thì cũng không vì thế mà người Sơ Đăng biết giọng Quan Thoại (Nhưng không hề có người Tàu lọt được vào đó).

Đây là bằng chứng. Cái danh từ mà ta học theo Hán Việt là danh từ HẦU (cuống họng) Quan Thoại đọc là HÓ mà người Sơ Đăng cũng đọc là HÓ.

Tại sao vậy? Vì danh từ đó không phải của Tàu mà là danh từ Mông Cổ và dân Tàu và dân Sơ Đăng đều bắt chước Mông Cổ.

Còn ta, chắc thuở xưa ta cũng đọc là HÓ y hệt như Sơ Đăng, nhưng sau vì lẽ nầy hay lẽ nọ, ta đọc sai đi, còn người Sơ Đăng thì cứ giữ được mãi cái giọng Mông Cổ đã học từ 5000 năm rồi.

Những danh từ Mông Cổ mà Tàu có, ta đều có, nhưng ta học thẳng với Mông Cổ từ Hoa Bắc chớ không học của Tàu. Thí dụ: Con SÓI, Tàu nói là SÀI, Mông Cổ nói là SHAKAL. QA của Mông Cổ là LỚN thì:

Mông Cổ: QA
Thái: TO
Việt Nam: TO
Sơ Đăng: TOX (I)
Bru: TÒA
Quan Thoại: TA (Đại)

Nhựt Bổn nói O, nhưng không chắc lắm rằng đó là biến thể của Qa Mông Cổ, nhưng rất có thể, vì họ lai với Mông Cổ mãi về sau Tây lịch nữa, chớ không phải chỉ lai cách đây 5000 năm như Thượng Việt và Việt Nam.

Quý vị đã thấy chúng tôi trình bày về xứ của người Sơ Đăng mà chúng tôi muốn tới, nhưng thất bại cả hai lần. (Chương I)

Thế mà người Sơ Đăng lại có tiếng Hán Việt, và họ lại đọc rất đúng giọng Quan Thoại, chớ không phải đọc sai như các nhà nho Việt Nam.

Chưa hề có nhà ngữ học Âu Mỹ nào thấy được điều đó cả, mặc dầu chúng tôi học ngôn ngữ của người Sơ Đăng qua sách Pháp và sách Mỹ.

Quý vị có biết tại sao người KUY gọi con cá là QAKA hay không? Nếu họ cho mọc đầu K thì cứ cho, đâu có gì lạ. Là vì người KUY là Lạc bộ Trãi vốn đã lai với Mông Cổ mà âm Q tức đọc như K nhưng chìm trong cái HÓ. QAKA không phải là KAKA mà là KAKA CHÌM, KAKA ĐIẾC. Thế nên Mông Cổ mới đặt tên kinh đô của họ là QARAKOUROUM.

Cũng nên biết rằng Quan Thoại cổ thời cũng không có âm K mà dùng toàn âm Q. Quan Thoại TÂN ÂM, tức Quan Thoại vừa được đổi mới, tức trở về Quan Thoại đúng của cổ thời, cũng dùng toàn âm Q, thay cho K và cho tôi, thí dụ TẦN (Thỉ Hoàng) được viết là QIN, CA CA là anh, được viết là QAQA khi nào họ cần La Mã hóa văn tự cho người ngoại quốc đọc.

Một động từ mà ai cũng tưởng là của Tàu, nhưng nó là của Mông Cổ. Đó là động từ Khát (nước).

Quan Thoại: KHUA
Sơ Đăng: KHÚA
Hán Việt: KHÁT
Việt Nam: KHÁT
Nhựt Bổn: KATSU

Sơ Đăng đọc đúng Quan Thoại nhứt mà cái Quan Thoại đó chỉ là Mông Cổ.

GÈER là cái lều bằng da thú của Mông Cổ, nào ai dè đã đẻ ra NHÀ của Việt Nam. Nhưng xin xem các biến dạng dưới đây:

Mông Cổ: GÈER
Sơ Đăng: (HN)GÊI
Rơngao: (HN)YÊ
Sơ Đăng Konpring: (HN)HÂY
Khả: HNJƠM
Jêh: NIƠ
Mạ: NHI
Xi Trên: NHI
Kơyong: NYIA
Lamet: NA
Trung Việt nông thôn:
Mường: NHA
Việt Nam: NHÀ

Danh từ NGƯỜI của Nhựt là HITÔ, của Đại Hàn là SA-RAM, xem ra chẳng ăn nhằm gì với các danh từ của Lạc bộ Trãi cả, và đó mới là yếu tố An Tai thật sự, nhưng một loại An Tai khác hơn vì chủng Bắc Mông gô lích gồm hàng trăm nhóm khác nhau, bọn Trãi đi Việt Nam đã hợp chủng với một nhóm khác hơn là bọn Trãi đi Đại Hàn và Nhựt, thế nên danh từ NGƯỜI của ba quốc gia này mới anh đi đường anh tôi đường tôi, Hàn và Nhựt đánh mất GÁ của Mã Lai, lại không có mượn KÉ của nhóm lai với bọn ở hang làng Cườm.

Nhưng cũng xin nhắc lại rằng yếu tố Mông Cổ rất yếu trong Nhựt ngữ, chớ không phải là căn bản như các ông Tây đã nói. Trong Hàn ngữ, nó tương đối mạnh hơn, nhưng căn bản cứ là Tàu và Lạc bộ Trãi. Trong Việt ngữ thì các ông Tây không hề biết là có, nhưng tuy có mà lại còn yếu hơn ở Nhựt ngữ nữa.

Việt = Mã Lai + Mông Cổ

Nên ta có dùng danh từ Mông Cổ là chuyện dĩ nhiên. Còn Tàu là:

Tàu = Nhục Chi + Mông Cổ

Thì họ có dùng danh từ Mông Cổ hay không? Có. Tiếng ÔNG đã cho thấy như vậy. Tuy nhiên căn bản của tiếng Tàu là tiếng Tây vì Nhục Chi là Tây. Họ chỉ chịu ảnh hưởng Mông Cổ ở điểm độc âm mà thôi, còn thì danh từ nguyên thỉ của họ phần lớn là tiếng Tây hết thảy.

Đây là một tiết lộ làm kinh ngạc cả những nhà bác học Âu Mỹ. Tiếng Tàu là tiếng Tây hồi nào hở trời. Nhưng sự thật là thế.

Cái món mà Tàu thấy trước nhất và nhiều nhứt là CÁT vì nơi họ lai giống Nhục Chi + Mông Cổ là vùng Altai. Đó là một vùng sa mạc.

Mông Cổ gọi cát là Gô (bi). Tàu không có gọi như vậy. Quan Thoại gọi là SÁ mà ngữ căn Ấn Âu là Sabulum, Pháp biến thành SABLE, Anh biến thành SAND.

Nếu chỉ giống có một vài danh từ thì chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên. Nhưng lại giống hết thảy:

Quan thoại Ngữ căn Ấn Âu
TI-I (Đất) TERA (La Tinh)
WỈ (Dạ dày) VISCERA (La Tinh)
WÍ (Nhỏ lắm) MIKROS (Hy Lạp)
PI (Mũi) RHINO (?)
ƠL (Tai) OTO (?) TAR (Nhật Nhỉ Mạn)
XẸ (Máu) SERUM (La Tinh)
PHÍ (Phổi) PTY, PTUALON (Hy Lạp)
XƠN (Thân thể) SƠLƠRA (Phạn)
PỈ (Da) PELLIS (La Tinh)
DÃ (Răng) PADA (Phạn)
YÊL (Mắt) EYE (Nhựt Nhĩ Mạn)
FỎ (Lửa) FOCUS (La Tinh)
MIL, MÉL (Lúa mì) MILIUM ( La Tinh)
SÀI (Củi) SALE, CALE (Calorie)
PHÁL (Bột) FARINA (La Tinh)

Một danh từ khá lâu đời, nhưng có sau những danh từ trên đây:

Quan Thoại Phạn
Tsơ (Tơ lụa) Satơra

Vậy Ấn hay Hoa đã phát minh ra Tơ? Truyền thuyết của hai dân tộc đó đều cho rằng họ phát minh ra Tơ. Đố ai biết ai nói láo. Chữ Tơ của cả hai đến đồng gốc Ấn Âu. Theo chúng tôi thì chính bà Tây Vương mẫu đã phát minh ra Tơ. Bà ta là nữ vương của rợ Nhục Chi đấy và đã ảnh hưởng đến cả Ấn lẫn Hoa. Đó là vua của Nhục Chi mẫu hệ và bị đồng hóa với bà Luy Tổ của Tàu trong truyền thuyết Trung Hoa, đến những đời Hán, Đường mà Tàu còn mượn nhạc Nhục Chi thì đã biết “Rợ” đó có rợ hay không.

Ta cần chú ý đến sự kiện tối quan trọng sau đây là người Sơ Đăng luôn luôn là cái khoen thứ nhì trong các xâu chuỗi. Từ X… đến GÁ cũng cứ người Sơ Đăng đứng hạng nhì, từ GÈER đến (Hn) GÊI cũng lại là người Sơ Đăng đứng đầu các nhóm Lạc bộ Trãi. Trong quyển sử, ta đã biết quốc gia Đạo Minh của người Khả Lá Vàng. Sơ Đăng phải chăng là quý tộc của quốc gia đó, cái quốc gia Lạc bộ Trãi song đôi với Văn Lang?

Dĩ nhiên Lạc bộ Mã không có lai với Mông Cổ nên nói khác về Nhà:

Miền Dưới: RUMẢ
Chàm: THANG
Rađê: SANG
Giarai: THANG
Churu: SÀNG
Việt Nam: NHÀ SÀN

Họ đồng hóa cái THANG và NHÀ vì muốn lên nhà sàn, phải leo thang.

THANG là danh từ của Lạc bộ Mã, Nam Dương nói là TANGA, Nhựt Bổn biến thành Tana và cho nó cái nghĩa là cái kệ có nhiều tầng, tức cũng cứ là cái THANG. Thang của Lạc bộ Trãi, còn thấy được:

Khả Lá Vàng: MƠN
Mạ: GƠNG
Sơ Đăng: KƠNG
Việt Nam: MÓNG

Ta có câu tục ngữ: ”Móng đàng đông, cầu vòng đàng tây.) Cái MÓNG, cũng được người ta gọi là cái Thang để lên trời.

Danh từ dưới đây, chỉ mới có vào đời Chu, thì chắc không là đồng gốc mà là vay mượn của nhau nhưng không biết ai vay của ai.

Tàu: SÁCH (sách) SASTƠRA (Phạn)

Dĩ nhiên là các món về sau, ông Tàu sáng tác khác ông Tây Nhục Chi hết thảy, nhưng những món mà ông Tàu sơ khai thấy và có, đều là danh từ của ông Tây Nhục Chi, ông ấy nói tiếng Tây vì ông ấy thuộc chủng Irano – Indo – Européen.

Ta thấy nhiều sách đời Chu phải được chú giải thì người Tàu mới hiểu, là vì có những danh từ gốc Nhục Chi trong đó mà đến cuối đời Chu, Tàu sáng tác khác, chỉ khi có những nhà bác học như Khổng Tử mới hiểu được mà thôi.

Trong một bài thơ của Kinh Thi có ba câu sau đây:

Lân chi lốc (Lốc viết là giác)
Chân chân công tộc
Hu ta lân hề

Các nhà nho ta thường giải thích rằng chữ GIÁC là cái sừng, phải đọc là LỐC cho nó hợp vận với TỘC. Nhưng ông thi nhân tác giả của bài thơ đó, vào thuở ấy, ông ta có phương tiện loan báo cho dân biết rằng chữ GIÁC phải đọc là LỐC hay không? Và nếu có, dân có bằng lòng nghe hay không.

Ngay như ngày nay mà ta dồi dào phương tiện, ta cũng không làm sao mà bắt độc giả chấp nhận một câu ca dao như sau:

Trăng rằm mười sáu trăng treo,
Chị em ta túng kéo chỉ bán bông.

Nếu là chữ TÚNG ở chỗ chữ NGHÈO rồi bắt họ đọc là NGHÈO cho nó ăn với vận TREO, họ sẽ gởi ta đi Biên Hòa mất.

Làm thơ, có đâu muốn gieo vần thế nào thì gieo rồi bắt thiên hạ đọc những vận sai ấy cho hợp với vận trên hay vận dưới. Nguyễn Đình Chiểu phải viết “Dưới đèn xem truyện Tây Minh” chớ không thể viết: “Dưới đèn xem truyện Tây Tống” rồi bắt ta phải đọc Tống là Tinh cho hợp với NHƠN TÌNH ở dưới.

Cái sừng, Phạn ngữ nói là CH, LA thì anh Tây Nhục Chi cũng nói na ná như thế là CH, LÔ, thế nên thi nhân đó làm thơ bằng một vận cổ Hoa gốc Nhục Chi là LỐC.

Về sau, ai đó (Khổng Tử hoặc ông nào khác) sửa sang lại và chợt thấy dân đã sáng tác GIÁC từ lâu mà quên LỐC nên ông chép là GIÁC, nhưng chú rằng Giác phải đọc là LỐC, LỐC có thật sự, dưới đời Hạ Thương chẳng hạn, bị các ông san định tự ý sửa lại là GIÁC rồi chua rằng phải đọc GIÁC là LỐC.

Thành thử chúng tôi rất khâm phục ông Nguyễn Văn Ngọc, vì nhiều danh từ cổ mà ông quên nghĩa, ông cứ để nguyên, không san định gì hết. Nhờ thế mà ta mới khám phá được nhiều sự thật về cổ thời.

THI SÁCH là ông Thi CƯỚI VỢ. Nhưng không phải chỉ có man di Giao Chỉ là không hiểu, ngỡ ông lấy họ Thi tên Sách mà cả các nhà bác học Trung Hoa cũng không hiểu, phải đọc chú thích mới biết rằng SÁCH là động từ cổ có nghĩa là CƯỚI VỢ, và ông ấy chỉ là ông Thi cưới con gái của Lạc tướng Mê Linh.

Nhưng nếu ai cũng đọc kỹ câu sử của THỦY KINH CHÚ đều thấy một điều kì dị nầy là câu văn đó thiếu mất một động từ “con trai của Lạc tướng Châu Diên tên là Thi Sách, con gái Lạc tướng Mê Linh tên là Trưng Trắc làm vợ” v.v Rõ ràng là thiếu động từ “CƯỚI”. Nhưng vì không ai biết tiếng Nhục Chi nữa mà chỉ biết SÁCH là danh từ mà Tàu sáng tác về sau và có nghĩa khác, nên cứ nhắm mắt cho phép câu văn đó thiếu động từ, và xem SÁCH là tên của ông ấy y hệt như ta không hiểu tại sao mo cau mà gọi là mo nang, vì thuở xưa tổ tiên ta là Mã Lai, mà trong ngôn ngữ Mã Lai, Nang là Cau. (Đã có giải thích rồi về vụ mo nang này và tên nước Văn Lang, ở đầu sách).

Danh từ Phạn BANGSA là GIỐNG NÒI, còn BÀNG HỆ của Trung Hoa là Nhánh bà con không thẳng dòng.

Mặc dầu không thẳng dòng, nhưng cũng cứ là một giống nòi. Nhưng mà tại sao lại không thẳng dòng? Vì dân lai căn tự thấy mình mới là chánh tông, và chánh tông Ấn Âu thì lại bị coi là không thẳng dòng.

Không phải BANG SA biến dạng thành BÀNG mà thôi. Hệ được thêm sau, và Hệ đồng gốc Mông Cổ với ta, gốc HOYIN, ta biến thành HỌ DÒNG, nhưng Tàu biến thành HỆ.

Thành thử trong BÀNG HỆ, vừa có danh từ Ấn Âu, vừa có danh từ Mông Cổ, đúng là danh từ lai căn của dân Tây lai Mông Cổ.

Nhưng Tàu không đổi mới hết, nên ta mới thấy được hàng trăm danh từ gốc Ấn Âu rõ ràng còn sót lại trong Hoa ngữ.

Ta cứ tưởng tượng rằng CON TẰM do TÀM của Tàu. Thật ra thì dưới thời nhà Chu, Tàu gọi con Tầm là CHƯƠNG. Nhưng họ bỏ danh từ CHƯƠNG để lấy danh từ TÀM mà đó là danh từ của Thất Mân tức của Lạc bộ Mã, tức của ta phần nào.

Tại sao họ lại bỏ CHƯƠNG? Vì đó là danh từ quá cổ và gốc Nhục Chi mà họ không thích cũng như trong vòng vài năm nay báo chí văn nghệ quyết định bỏ tiếng ĐẠI VĂN SĨ mà dùng tiếng NHÀ VĂN LỚN. CHƯƠNG là danh từ của bà Tây Vương Mẫu.

Truyền thuyết Tàu cho rằng họ phát minh tơ lụa trước nhứt. Truyền thuyết Ấn Âu cũng nói như thế và cả hai đều có danh từ y như nhau. Nhưng có hai sự kiện trên đây cần được ta suy gẫm:

1) Tơ lụa ở Cachemire có một loại may áo xong, có thể vò áo lại rồi bỏ trọn trong một cái chén uống trà nhỏ. Đó là sự thật vào thời Trung Cổ Âu châu.

2) Sự thật ngày nay là tơ lụa Nhựt tốt hơn tơ lụa Tàu và bán chạy hơn, trên thị trường quốc tế. Mà Nhựt là Trãi + Mã, kẻ có danh từ TÀM.

Trong quyển sử chúng tôi có viết rằng dân Nhục Chi đã biết lửa, dân Mông Cổ cũng thế, nhưng dân lai căn là Tàu thì lại kể truyền thuyết Phục Hy dạy họ làm lửa, trong đất Tàu.

Truyền thuyết đã lầm lẫn địa bàn. Phục Hy là một nhân vật Nhục Chi đã dạy Nhục Chi lửa, với danh từ FOCA, FOCUM, FOCUS gì đó, chớ không phải là nhân vật Tàu, dạy dân Tàu, tại đất Tàu. Thế nên lửa của Tàu mới là FỎ.

Ta lại phải trở về với ông Mông Cổ giả là ông Nhựt. Thật ra thì ông ta đâu có trá hình làm Mông Cổ, tại các ông Tây bắt ông ta phải làm Mông Cổ đó thôi.

Ông đó có nói là KẺ là CON gì hay không? Tuyệt đối không. Ông ta nói là HITÔ. Chúng tôi rất nghi rằng ông ta biến dạng tiếng HẮN của Lạc bộ Trãi, và quả thật, HITÔ cũng có nghĩa là HẮN.

Hitô = Người
Hitô = Hắn

Lạc bộ Mã chỉ nói ĐIA mà Trung và Nam Việt biến thành DÀ, DẢ, DA. Bắc Việt đã biến sai NYA của Lạc bộ Mã ra là NÓ, vì NYA có nghĩa là CỦA HẮN chớ không phải HẮN.

Trung và Nam cũng có biến NYA thành NỐ, nhưng dùng rất đúng vì NYA của Chàm đời xưa vừa có nghĩa là CỦA HẮN vừa có nghĩa là CÁI NGỮ ĐÓ. NỐ của Trung và Nam cũng có nghĩa là CÁI NGỮ ĐÓ, CÁI THỨ ĐÓ.

Vậy ông Nhựt không hề là ông Mông Cổ như ông Tây đã nói mò, mà chỉ là ông Mã Lai hỗn hợp y như Việt Nam, tức vừa dùng danh từ của Lạc bộ Trãi như XƯA, MÓN vừa dùng danh từ của Lạc bộ Mã, như KUDA của Nam Dương là con NGỰA bị họ biến thành KURIGE.

Danh từ CON là con của ta đẻ ra và Trẻ con của bọn Trãi thì Đại Hàn đã đánh mất. Họ nói A-DUL và A-I mà chúng tôi tìm không được ngữ nguyên, có lẽ đó là danh từ Mãn Châu.

Nhưng Nhựt còn giữ được dưới hình thức:

Ko = Con (đẻ)
Komodo = Trẻ con

Đó rồi thì nó đẻ ra Con, Kon, Kuan, Coan hàng trăm thứ, trong khối Trãi, khá giống Con là Người về hình dáng nhưng ngữ nguyên và nghĩa thì khác.

Danh từ Con (đẻ) và Trẻ con của Lạc bộ Mã là Anak mà dân ta biến thành Con nít, tức Con trong Con nít chẳng dính líu gì đến Trẻ con, bởi Con nít gốc Mã, Trẻ con gốc Trãi, Chàm, Giarai, Rađê, Rôglai, Churu biến ra lu bù là Inứ, Ina, Ana v.v.

Chỉ có dân tộc Việt Nam mới phân biệt Con (đẻ) và Trẻ con bằng cách thêm Trẻ vào đó, và dân tộc Nhựt Bổn bằng cách thêm Đômô vào con, các dân tộc khác thì chỉ dùng độc một danh từ để chỉ Con (đẻ) và Trẻ con.

Các nhà ngữ học Mỹ, chỉ làm việc ở Cao Nguyên có 5 năm, nhưng kết quả lại bằng 10 công trình của Pháp trong vòng một trăm năm. Nhưng xem ra các ông chưa biết Austroasiatiques là gì, bằng chứng là các ông gọi Nam Dương ngữ, Chàm Ngữ là Austroasiatiques.

Và bỏ chung Trãi và Mã với nhau. Ngôn ngữ Thượng đồng gốc với Việt ngữ, nhưng các ông cứ can đảm viết rằng đó là phụ ngữ của Miên ngữ.

Chàm ngữ là ngôn ngữ Lạc bộ Mã, tức Austronèsien, thế mà các ông cũng cứ cho đó là ngôn ngữ Autroasiatiques.

Chắc còn lâu, vấn đề ngôn ngữ ở Đông Nam Á mới được biết đúng, vì cái hội ngữ học ở Mỹ là hội lớn, có đầy đủ phương tiện, và ngoài họ ra, chắc không ai làm việc bằng họ, thế mà họ đã sai lầm về căn bản rồi thì sự sai lầm đó trở thành sự thật cổ điển, được thế giới nhìn nhận thì phải lâu lắm, khi may ra chúng tôi có chút ít tên tuổi nào về mặt quốc tế, thì chủ trương của chúng tôi mới được thiên hạ chú ý tới và chừng ấy cái thành trì sai lầm nói trên sẽ bị phá vỡ. Nhưng còn lâu.

Chương XI - Một ngàn danh từ Phù Nam trong Việt ngữ miền Nam

Miền Nam có những danh từ, từ ngữ mà Trung Bắc không có, và xem lại thì đó là danh từ của Nam Dương.

Hời hợt, có thể cho rằng đó là danh từ mà ba thứ người sau đây đã đưa vào miền Nam:

1) Bọn lính đánh thuê cho Pháp, người Phi Luật Tân, họ có đến Sài Gòn, một mớ có ở lại sau cuộc xâm lăng năm 1859.

Nhưng biến cố 1859 là biến cố quá mới, mà bọn ở lại để làm gì và được bao nhiêu người, đã đưa những danh từ nào vào Nam, người miền Nam đều biết thật rõ.

Họ ở lại non một trăm người, tất cả đều làm cảnh sát viên tại thành phố Sài Gòn, tự xưng là Mata Mata, tức cảnh sát viên, và bị người Nam gọi là ma tà (để đùa và khinh) hoặc gọi là mả tà với cái nghĩa là cảnh sát viên.

Nhưng Pháp chỉ dùng bọn này có 5 năm rồi giải nhiệm hết. Đa số hồi hương. Năm sáu anh làm nghề đánh xe ngựa đờ luýt của thành phố Sài Gòn vào thuở ấy mà ta gọi là xe Song Mã (được Tản Đà làm thơ tả cái thú đi dạo mát bằng loại xe ấy) và Pháp gọi là xe Calèche.

Bọn ấy tự xưng là dân MANÍ (Manila), và cũng được ta gọi là Chà và Maní. Danh xưng Chà Và, ban đầu phiên âm Java để trỏ người Java, sau lại thì chỉ tất cả những thứ dân đen nhiều hay ít mà ta không biết là ai (Ấn Độ, Phi Luật Tân, Phi Châu, v.v.) Danh xưng MANÍ biến thành danh từ MANIN để chỉ lối húi tóc của đa số người miền Nam nay. Người Phi Luật Tân bị da trắng trị 400 năm trước ta, nên họ húi tóc theo da trắng hết, năm họ đến Sàigòn.

Danh từ thứ ba và thứ tư mà bọn ấy để lại là danh từ XÀ ÍT ( Sãis) có nghĩa là Thằng đánh xe, nhưng ta đã bỏ danh từ ấy từ năm Calèche bị ô tô thay thế, vào khoảng năm 1930. Chỉ có danh từ thứ tư là biến thành từ ngữ rất thịnh dụng ở miền Nam cho đến ngày nay.

Miền Bắc nói THẮNG NGỰA VÀO XE, nhưng miền Nam nói BẮT KẾ. Bắt kế là do PƠRKAI KUDA mà ra, Pơkai = Thắng vào xe, Kuda = Con ngựa.

Bọn đó lấy vợ Việt, sanh con ra và con cháu kế nghiệp ông cha cho đến năm 1930. Có lẽ họ đã thành Việt Nam hết, nhưng tuyệt đối không có đưa thêm danh từ nào vào Việt ngữ trừ bốn danh từ trên.

Chúng tôi biết chắc vị trí của bọn đánh thuê ấy nhờ quen biết với gia đình M. Một gia đình Phi-Việt độc nhứt không làm nghề đánh xe ngựa, mà nhập Pháp tịch, lấy vợ Việt, và làm nghề săn bắn hổ báo.

Chúng tôi mất liên lạc với gia đình này sau biến cố 1945, và họ đã giống Việt Nam lắm rồi, và nếu họ không làm Tây, thì không ai biết được họ là người ngoại quốc.

Về người Phi Luật Tân, nhiều người biết lắm và riêng chúng tôi biết rõ và chắc hơn, nhờ gia đình M.

Như thế, ta loại ảnh hưởng Phi Luật Tân quá dễ dàng, mặc dầu họ ăn nói không khác Nam Dương bao nhiêu và có thể bị tình nghi là kẻ đưa ngôn ngữ vào Nam.

Nhóm bị tình nghi thứ nhì là bọn Mã Lai, lính của Mạc Cửu vì sử có ghi rằng Mạc Cửu có mộ một số lính người Mã Lai. Danh xưng Mã Lai không biết chỉ rõ quốc gia nào, có lẽ cứ là Java, vì Java thường vào lục địa hơn hết.

Nhưng vì họ là lính Mạc Cửu thì thường bại trận, nên bọn ấy chết trận còn chẳng bao nhiêu. Lại không có tài liệu cho biết bọn ấy đã được giải ngũ và được định cư, mà nếu có, cũng không thể đưa ngôn ngữ vào toàn cõi Nam Kỳ, nhứt là đó là toàn những danh từ rất tế nhị.

Còn ai nữa? Trịnh Hoài Đức cho biết có thương thuyền Mã Lai đến buôn bán với Nông Nại Đại Phố? Sinh quán ở Biên Hòa, chúng tôi biết rõ Nông Nại Đại Phố. Quanh thành phố ấy không có người Việt gốc Mã Lai.

Sau rốt là người Châu Giang đã nói rõ ở Chương I. Họ là dân Java theo bước viễn chinh của quân xâm lăng xứ Cao Miên. Cao Miên quật cường và đuổi xâm lăng được rồi thì họ ở lại đông đảo, nhứt là tại Cao Miên nay.

Người Việt Châu Đốc hoàn toàn không có học gì của họ cả, kể cả con số 1 của họ, như vậy mãi cho đến ngày nay.

Thế thì nếu có một ngàn danh từ của Lạc bộ Mã trong Việt ngữ miền Nam, ta phải kết luận rằng đó là ảnh hưởng của Phù Nam, họ còn sống sót vào đầu thế kỉ 17 mà ta di cư vào đây. Người Phù Nam có ngôn ngữ y hệt như người Nam Dương.

Tưởng cũng nên nói rõ về người Châu Giang ở Châu Đốc, kẻo có người lại cứ cho rằng những danh từ lạ trong Việt ngữ miền Nam là do ta học với người Châu Giang.

Người Châu Giang sống biệt lập, giữa ta và họ có một bức tường văn hóa.

Tại sao quân xâm lăng Java lại ở Cao Miên và Châu Đốc mà không bị trả thù? Vì họ là cán bộ giỏi, Cao Miên kém hơn họ nên cần họ. Vả lại đó là thường dân nối gót xâm lăng chớ không phải là binh sĩ.

Về sau, tức vào những thế kỉ 15, 16, họ còn được Cao Miên biệt đãi nữa là khác vì có người Java làm đại thần trong trào Cao Miên, rồi vua Cao Miên lại cưới vợ Java nữa.

Và tại sao ta không có chịu ảnh hưởng của họ và ngược lại? Vì đạo Hồi. Đó là một tôn giáo bất khoan dung. Đã vậy nông dân ta lại rất tin nhảm. Họ bảo rằng họ nghe được mùi thịt heo nơi ta, nên họ không thích cho ta vào làng họ. Trong khi đó thì ta thấy khăn của họ vẽ chữ rằn ri, có lẽ chỉ là những câu chúc lành của kinh Koran, viết bằng quốc ngữ Nam Dương chớ không có gì, thế mà dân ta ở quanh đó, rất sợ, cho rằng đó là bùa, và bùa ấy sẽ hại kẻ lạ.

Họ không thích chung đụng với ta vì lý do tôn giáo chớ không phải vì ghét ta rồi chực chờ hại ta, bằng những chiếc khăn có vẽ bùa đó đâu. Đối với họ, thịt heo là cái gì nhơ bẩn, cần tránh cho thật xa, chỉ có thế thôi, ta không nên ngộ nhận rồi sợ hãi họ.

Nhưng ta đã ngộ nhận, nên tuyệt đối không có ảnh hưởng qua lại nào, cả đến số 1, số 2 của họ, ta cũng không biết. Nó là Sa, Đua, Tíga, Ơmtat, vân vân, trong khi dân miền Nam thạo tiếng Cao Miên, ở quốc ngoại, còn một ngôn ngữ quốc nội là ngôn ngữ vùng Châu Giang thì ta tuyệt đối không biết.

Vậy dầu cho họ là ai đi chăng nữa thì ngôn ngữ của họ cũng không hề ra khỏi 5 làng vùng Châu Giang.

Cho rằng người Phù Nam còn tồn tại vào cái thế kỉ mà dân ta di cư vào Nam, tức thế kỉ 17, có người bảo rằng là không thể có được vì họ đã bị Cao Miên diệt quốc từ thế kỉ thứ 6, thứ 7 S.K.

Nhưng khi mà dân Mêlanê, dân Négritos, dân đồi mồi của thời trước Tây lịch đến còn đủ mặt trong lãnh thổ ta (xin xem lại quyển sử) thì người Phù Nam cũng phải còn. Cao Miên không hề có chánh sách diệt tộc Phù Nam, lại không đủ giỏi để đồng hóa toàn thể dân Phù Nam vào thế kỉ 17, tức làm xong công việc đồng hóa trong vòng một ngàn năm (ngược lại, chính họ bị Phù Nam đồng hóa vì trong ngôn ngữ Cao Miên, đầy dẫy danh từ Phù Nam) thì dân Phù Nam phải còn.

Hơn thế trong một bài nghiên cứu đăng ở tạp chí B.S.E.I ông P. Dupont đã chứng minh rằng Cao Miên không bao giờ có chiếm đất Nam Kỳ khi diệt quốc Phù Nam, mà chỉ chiếm trung ương của Phù Nam là nước Cao Miên nay, vì họ không đủ quân lực, bởi đế quốc Phù Nam rất lớn, họ chiếm tới Nam Miến Điện đã hết quân rồi.

Dân Cao Miên tự động di cư đi chiếm các vùng đất tốt nhứt của một vùng vô chủ là Long Xuyên, Châu Đốc, Sóc Trăng, v.v. và dân Phù Nam mất vua nhưng lại còn quá nhiều đất ở Nam Kỳ, mặc dầu là đất xấu.

Chúng tôi đã cho thấy ảnh hưởng của vùng Châu Giang đối với ngôn ngữ ta. Nó là một con số không to tướng. Nếu lính Mạc Cửu và bọn thương hồ Mã Lai có ở lại thì ảnh hưởng của họ cũng đã giống hệt ảnh hưởng của vùng Châu Giang.

Bọn Phi Luật Tân thì có để lại năm ba danh từ được biên ra đầy đủ ở Chương tự vựng.

Bọn để lại khắp miền Nam một ngàn danh từ tế nhị, đôi khi bác học nữa, phải là bọn khác, văn minh hơn là lính đánh thuê cho Mạc Cửu, cho Pháp, văn minh hơn là bọn lái buôn thuyền biển.

Nhưng chứng tích của chúng tôi rất nghèo. Ta chỉ biết là năm ta di cư vào Nam (1623), ta đặt tên cho một cửa sông Cửu Long là Cửa Bà Lai. Bà Lai là danh xưng thứ 5 mà người miền Nam dùng để chỉ Lạc bộ Mã. Đây là 6 danh xưng đó:

Miền Dưới
Chà Và
Mã Lai
Bà Ba
Bà Lai
Kiến Hổ

Dân Mã Lai nào đã định cư đông đảo tại một cửa sông Cửu Long? Cửa sông đó, nằm cách Hà Tiên 400 cây số theo đường chim bay, và 400 cây số rừng rậm mà đến nay ta chưa khai phá hết. Lính của Mạc Cửu, có ở lại, chỉ định cư quanh Rạch Giá, Hà Tiên là cùng.

Hẳn bọn Bà Lai ấy là một cộng đồng Phù Nam đông đúc, còn ở các nơi khác, họ sống rời rạc, nên không có nơi nào mang địa danh trùng với danh xưng mà người miền Nam dùng để trỏ họ.

Như đã nói và sẽ giải thích, dân Phù Nam có ngôn ngữ như Chàm ngữ và Nam Dương ngữ. Đó là Lạc bộ Mã, thì thuở ấy ta có thể lầm lẫn họ với người Nam Dương và gọi họ là Bà Lai.

Chứng tích nầy không đủ mạnh, nhưng sự bác bỏ lính của Mạc Cửu và lính đánh thuê cho Pháp thì rất vững. Nhà bác học tiền bối là cụ Trương Vĩnh Ký đã giải thích rằng Bà Lai là BARAY. Đó là danh từ Cao Miên trỏ một hồ nước nhơn tạo để dẫn thủy NHẬP ĐIỀN.

Nhưng ở cửa sông Cửu Long chỉ có dẫn chứng XUẤT ĐIỀN, chớ không bao giờ phải đắp đập Baray để mà dẫn thủy NHẬP ĐIỀN.

Ta phải kết luận rằng những danh từ đó do một thứ dân Lạc bộ Mã không có theo đạo Hồi, họ là người độc nhứt có thể chung đụng với ta, trao đổi văn hóa với ta. Thứ người ấy chỉ có thể là người CHĂM, tức người Chàm không theo Hồi giáo, nhưng thứ người Chàm ấy vẫn có mặt ở miền Trung, mà miền Trung lại không có những danh từ Mã Lai và miền Nam thì có, thì chỉ còn một thứ người nữa mà thôi, người Phù Nam.

Quí vị đã thấy cuộc chung đụng của dân ta với cộng đồng Châu Giang nó ra sao nào rồi. Tôn giáo Hồi đã ngăn chặn mọi tiếp xúc. Họ có đi ra ngoài để làm hai nghề: bán tơ lụa của họ dệt, và bán thuốc rê lậu thuế mà họ mua ở Cao Miên về, vì họ rất được người Cao Miên trọng đãi, khác xa với người Chàm mà Nguyễn Hữu Kính đặt tên là Cô Man.

Nhưng trong các cuộc buôn bán ấy, họ tránh đưa văn hóa và ngôn ngữ của họ ra ngoài, không phải vì cố ý giấu, mà vì họ biết tiếng Việt, bởi một số người đã đi ra ngoài làng ăn học hầu làm quan. Chính nhưng người đó đã đưa Việt ngữ vào Châu Giang.

Chúng tôi đã hỏi thăm người miền Trung, miền Bắc, đã tra tự điển miền Trung miền Bắc, nhưng đều không thấy những dân tộc đó ở hai nơi ấy. Có thể tự điển có thiếu sót và những người mà chúng tôi hỏi thăm, không thạo ngôn ngữ lắm. Như thế, trong 10 danh từ mà chúng tôi đưa ra, sẽ có lối 2 danh từ mà Trung và Bắc có, nhưng cứ còn lại 8 danh từ mà Trung và Bắc tuyệt đối không có.

Như thế, chúng tôi lại phải theo dõi hai nhóm Lạc bộ Mã nữa, có mặt ở miền Nam, vào một thời nào đó.

Có vị lại sẽ thắc mắc hỏi sao chúng tôi lại biết ngôn ngữ Phù Nam. Ngôn ngữ này, không khó biết lắm. Chúng tôi đã chứng minh rằng trống đồng là phát minh của bọn Lạc bộ Mã, mà người ta đã tìm được trống đồng tại trung ương của Phù Nam (Cao Miên nay). Thế thì Phù Nam là Lạc bộ Mã mà ta biết rõ ngôn ngữ.

Một danh từ độc nhứt của Phù Nam mà loài người biết được lại giống danh từ Chàm. Đó dân tộc EO, trong địa danh OC EO.

Nên nhớ rằng mãi cho đến trào Minh Mạng mà dân ta còn gọi cửa Thuận An là CỬA EO, tức gọi theo Chàm.

EO và OC EO là gì? Đó là một sự đọc sai của dân ta chớ thật ra nó là EA, một danh từ Lưỡng Hà, vừa có nghĩa là nước, vừa có nghĩa là sông. Chính dân Lưỡng Hà đó đã đi khai hóa ba nước Chân Lạp, Chiêm Thành và Nam Dương, chớ không phải là dân Ấn Độ như các quyển sử Tây đã viết sai vào hồi tiền chiến. Nhưng ở đây không phải là nơi nói nhiều về vấn đề này được, chỉ biết rằng chỉ có Chàm và Phù Nam mới đọc đúng EA, Nam Dương thì đọc sai là AYER, còn Cao Miên thì không có mượn danh từ đó.

Khi ông Malleret tới OC EO để nghiên cứu thì dĩ nhiên ông phải ghi chép theo người Việt đọc sai, và đọc mất chữ.

ÓC EO, đúng ra là TL’OK EA LING. Ông Malleret không thạo tiếng Mã Lai, tiếng Chàm nên chẳng biết đó là gì, đành cứ viết theo lối gọi của dân Việt ở Rạch Giá.

TL’OK = Cái vịnh
EA LING = Nước linh láng = Biển

Danh từ BIỂN người Chàm và người Phù Nam sáng tác khác với lối Lạc bộ Mã, chớ người Nam Dương không có gọi biển là EA LING mà gọi là LỐT (chính dân ta cũng đã Việt hóa EA LING thành ra Gio Linh, địa danh ấy có thể là THỊ TRẤN GẦN BIỂN, mà ta không hiểu, đã nuốt đến ba từ: THỊ, TRẤN và GẦN, chỉ còn chừa lại có EA LING bị biến thành Gio Linh).

Hai tĩnh từ LÁNG và LINH của Chàm và Phù Nam tràn ngập xứ ta ở các tỉnh Bình Thuận, Bình Tuy, ở đó Láng là một bãi đất lớn minh mông, cò ở Hậu Giang, Cửu Long thì cũng thế, hơn thế lại có cả một địa danh là LÁNG LINH nữa.

Vậy OC EO = Vịnh Biển

Và dân Phù Nam ăn nói vừa giống Nam Dương, vừa giống Chàm, nhưng chắc chắn là có khác nên các danh từ mà miền Nam vay mượn mới không được miền Trung biết, mặc dầu miền Trung là đất Chàm.

Chúng tôi chỉ biết rằng Phù Nam có khác Chàm, nhưng lại thấy rằng họ giống Nam Dương hơn, vì nhưng danh từ mà miền Nam vay mượn, giống danh từ Nam Dương, mà không phải do người Java Châu Giang đưa ra ngoài, cũng không phải bọn lái buôn Java đưa vào Nông Nại Đại Phố vì bọn ấy chắc không đủ thì giờ để đưa ngôn ngữ, đưa những danh từ quá ư tế nhị vào nước ta. Chỉ có một dân tộc sống chung với ta hàng trăm năm mới đủ thì giờ ảnh hưởng lớn lao đến ta như vậy mà thôi.

Chúng tôi xin nói qua chút ít về địa lý tổng quát. Về thủy trào ở sông ngòi (tức không kể thủy trào ngoài biển), có 5 hiện tượng tất cả.

Hai hiện tượng đầu, đại khối Mã Lai đều có danh từ để chỉ, nhưng họ nói khác nhau hết, chỉ có Việt Nam và Thái nói giống nhau.

I) Hiện tượng thứ nhất là nước ở biển tràn vào sông, hai lần trong mỗi 24 giờ, và chảy lên nguồn. Đó là ở miền Nam, còn ở Trung với Bắc thì nước chỉ chảy ngược có vài mươi cây số thôi. Hiện tượng đó:

Bắc và Trung Việt: Nước lên
Thái: Num (hoặc Nam) Khên
Nam Việt: Nước lớn

II) Hiện tượng thứ nhì là nước lên nguồn rồi lại chảy trở ra biển, cũng cứ hai lần mỗi 24 giờ:

Thái: Num (hoặc Nam) long

Việt toàn quốc: Nước ròng

Người Mã Lai đợt II nói khác ta:

Nước lên: Nước lôrong
Nước ròng: Nước surút (tức nước rút)

Ta thấy một chi tiết hơi kì kì là trạng từ LÊN của Nam Dương là LÔRONG, khá giống trạng từ XUỐNG của Thái và của ta là LONG, là RÒNG.

Nhưng còn ba hiện tượng nữa thì khắp các địa bàn Mã Lai trên thế giới, không nơi nào có danh từ để chỉ hết, trừ ở Mã Lai Á, Nam Dương, Phi Luật Tân và Nam Kỳ.

Nhưng cả ba nơi kia đều dùng danh từ khác hẳn Nam Kỳ. Đây, ba hiện tượng đó:

Ba hiện tượng đó, hai quốc gia rất văn minh là Nhựt và Đại Hàn, vẫn không có danh từ và phải mượn của Tàu, nhưng Tàu lại thiếu thành ra họ dựa vào Tàu để sáng tác nhưng cũng thiếu.

Thí dụ Đại Hàn chỉ có danh từ là Tiểu trào thủy, danh từ sáng tác hơi chướng đời, đáng lý gì phải Tiểu thủy trào, nhưng danh từ đó lại chỉ hiện tượng ở biển nữa là REFLUX, mà reflux lại khác với hiện tượng ở sông mà chúng tôi sắp nói đến.

Đây, ba hiện tượng đó:

III) Hiện tượng thứ ba cũng cứ là nước lên, nhưng lên rất cao vào những ngày trăng tròn. Chúng tôi tìm trong các từ điển Bắc và Trung, không thấy có trạng từ nào chỉ hiện tượng đó cả. Chúng tôi thấy có động từ NHẨY, nhưng lại được định nghĩa khác. Nước lụt cũng được gọi là nước nhẩy, trong khi đó thì không có tiếng riêng để chỉ hiện tượng vừa nói.

Người Nam Dương gọi hiện tượng đó là CON NƯỚC KƠLING, tức CON NƯỚC LINH LÁNG TRÀN ĐỒNG.

Nếu dân Nam Kỳ bắt chước họ, thì ta cũng nói y hệt như họ. Nhưng không, dân miền Nam đã sáng tác, nhưng không phải là sáng tác phất phơ, mà mượn một danh từ của họ, mượn cái trạng từ LÔRONG có nghĩa là NƯỚC LÊN và biến thành NƯỚC RONG.

Hiện tượng nầy, Pháp gọi là VIVE EAU, Anh gọi là SPRING-TIDE.

Thấy rõ là ta không có vay mượn, mà đã sáng tác, nhưng sáng tác bằng cách mượn cái trạng từ đồng nghĩa mà khác ý của họ. Nhưng việc quan trọng là ta vay mượn của ai. Như đã nói, lính của Cửu Mạc không thấy được sử ghi là được giải ngũ để làm nông dân, và nếu không có đi nữa, họ cũng không ra khỏi vùng Hà Tiên. Còn bọn lính đánh thuê Phi Luật Tân thì không bao giờ được định cư cả, trừ lối mười anh đánh xe Cadèche ở Sài Gòn.

IV) Hiện tượng thứ tư là nước xuống rất nhiều vào những ngày trăng khuyết, được Pháp gọi là MORTE EAU và Anh gọi là NEAP-TIDE trường hợp nầy thì dân Việt miền Nam sáng tác mà không dựa vào ai cả. Họ gọi hiện tượng đó là NƯỚC KÉM.

V) Hiện tượng thứ năm không phải là hiện tượng mà chỉ là sự kiện. Vào những ngày trăng đầy thì nước lên cao hơn mực thường đến năm, sáu tấc Tây. Cái mực nước quá cao đó, Mã Lai đợt II gọi là PƠRNAMA và Nam Kỳ bắt chước gần đúng, nói là NƯỚC ĐẦY MÀ. MÀ có nghĩa là mực nước sông cao dị thường vào những ngày trăng đầy.

Đó là năm động, trạng từ rất tế nhị, chớ không phải là danh từ thường, mà cả những quốc gia Mã Lai văn minh rất cao, cũng không có. Nhựt không có.

Dưới đây là một động từ cũng rất tế nhị. Cái lồng chim, người Mã Lai có tiếng gọi cũng như ta, có biến dạng chút ít:

Việt Nam: lồng
Mã Lai: Kurong

Nhưng người Phù Nam lại biến danh từ đó thành động từ với âm cuối, âm RONG để chỉ việc nhốt chim trong lồng, nhứt là nhốt cá trong vịm. Động từ nầy thì khắp thế giới Mã Lai không đâu có cả mà nghi rằng người Việt miền Nam học của lính Mạc Cửu hay của bọn đánh thuê Phi Luật Tân năm 1859, hoặc của Châu Giang.

Chúng tôi biết đó là sáng tác của Phù Nam vì một dân tộc kia, vốn là thần dân của Phù Nam hiện còn tồn tại và có động từ đó. Đó là người Mạ, hiện đang định cư ở cao nguyên Lâm Đồng. Theo nghiên cứu của ông Bourotte và của riêng chúng tôi thì thuở xưa kia, địa bàn của họ là từ lối Mỹ Tho đổ lên. Chúng tôi lại biết rằng họ đồng tông với Việt Nam, nhờ có học ngôn ngữ của họ. Vậy họ là thần dân của Phù Nam ngày xưa, và không thể có động từ RONG, vì ta không có thì họ cũng không có. Họ đã học động từ ấy của Phù Nam.

Dân Việt ở miền Nam, thêm dấu nặng, biến thành động từ RỌNG (không có dấu mũ). Nhưng không phải là ta học của người Mạ, vì người Mạ chỉ dùng động từ ấy để nói về chim, còn ta thì nói về cá, mà dân Phù Nam chuyên ăn cá chớ không ăn chim như dân Mạ. Thế thì ta học RỌNG với Phù Nam chớ không phải với Mạ.

Miền Nam có câu ca dao:

Trắng như bông, lòng anh không chuộng
Đen như cục than hồng, lòng muốn, dạ ưa.

Ta cũng nên biết rằng người bình dân đặt ca dao rất hay, không thể bắt bẻ họ được như là bắt bẻ thơ của thi sĩ. Nhưng trong câu ca dao nầy, có một chi tiết vô lý. Đa số bông mang màu đỏ, màu vàng và màu tím. Bông trắng hiếm hơn ba thứ kia.

Thế thì so sánh màu da của một người đẹp với hoa trắng, không được ổn lắm. Nhưng nếu ta biết rằng tiếng Mã Lai TƠ BÔNG có nghĩa là BỘT thì mọi việc sẽ rõ ràng hơn. Tác giả vô danh đã so sánh với BỘT, chớ không phải với BÔNG.

Chúng tôi không thấy người miền Trung giành câu ca dao trên đây là của họ, thì khó lòng mà nói rằng chính họ đã sáng tác bằng cách nói theo người Chàm. Đó là ca dao miền Nam. Hơn thế Chàm cũng không gọi Bột là Bông bao giờ.

Người miền Bắc nói LANG THANG, nhưng người miền Nam lại nói LANG BANG chính vì người Phù Nam nói LANGBANG y hệt như người Nam Dương.

Người dân vùng Rạch Giá thường nói đến CỦI TRÀM LỤC. Tự điển Huỳnh Tịnh Của định nghĩa rằng đó là cây tràm chìm dưới đầm lầy. Nhưng tự điển Mã Lai viết LỤT với chữ T và định nghĩa rằng là gỗ mục mà chưa nát.

Người dân từ Hậu Giang đổ xuống mũi Cà Mau cứ gọi các kinh nhỏ nối liền các dòng nước lớn là CÁI TẮT. Sao họ không gọi cái đó là KINH TẮT? Vì người Phù Nam gọi dòng nước ngắn ấy là KATAK.

Người miền Nam nói LÀM BỘ mà không nói GIẢ VỜ như người miền Bắc, chính là người Phù Nam nói MƠM BUA (Mần Bộ), như người Nam Dương.

Người miền Bắc hỏi: ”Thế à?” Nhưng người miền Nam hỏi: “Vậy hả?” cũng cứ vì Phù Nam hỏi: ”Ya kả?”

Người miền Bắc nói TRẬN MƯA, ĐÁM MƯA, nông dân miền Nam nói CÂY MƯA là nói theo Mã Lai Phù Nam.

Người miền Bắc nói TO, người miền Nam nói BỰ, chính vì người Phù Nam nói PỰPỰT.

GIÓ NGƯỢC CHIỀU, được miền Bắc gọi là GIÓ CHƯỚNG, nhưng miền Nam nói là GIÓ CẤN vì Mã Lai đợt II gọi gió ấy là SAKAL.

Khi kêu lên một tiếng kinh ngạc, người miền Bắc kêu là gì, chúng tôi quên mất rồi. Nhưng người miền Nam kêu là ỦA, mà Mã Lai đợt II cũng kêu y hệt như vậy.

Có một loài hươu nai sừng rất to, chỉ có mặt ở xứ lạnh, chớ không có mặt ở xứ ta. Loài nai ấy, người miền Nam gọi là NAI CHÀ, mà CHÀ là do danh từ CHÀ VANG của Phù Nam có nghĩa là CÁI SỪNG TO LỚN.

Danh từ NAI CHÀ, bắt chúng tôi nghĩ đến địa danh TRÀ VINH. Nhiều sách viết là do tiếng Cao Miên là TRAPENG. Nhưng thuở bé, chúng tôi nghe người ta gọi nơi ấy là CHÀVANG mà CHÀVANG cũng cứ là một danh từ Phù Nam đồng âm với CÁI SỪNG TO, nhưng có nghĩa là NHÁNH SÔNG. Quả thật ở đó có nhánh sông Cửu Long, còn TRAPENG là gì thì không nghe ai giải thích hết, hoặc có giải thích mà không ổn.

Địa danh Gò Vấp cũng rất nhiều ý nghĩa. VẤP là loại gỗ quí như gỗ lim của đất Bắc. Dĩ nhiên là nếu có cây Vấp ở đó thì dân ta đã đốn sạch rồi, sau ba trăm năm định cư ở miền Nam. Nhưng cái gò thì phải còn, nếu không có xe ủi đất của Huê Kì hoạt động nơi đó. Nhưng cái gò lại không còn mà xe ủi đất cũng chẳng có ủi nơi đó lần nào cả.

Nhưng trong ngôn ngữ Phù Nam GOVAP có nghĩa là HOA HỒNG. Dân Lạc bộ Mã ưa lấy tên hoa để đặt tên xứ, đặt cả tên nước nữa. Thí dụ tên của Chàm là BNGƯ CHĂMPA tức BÔNG SỨ, BÔNG ĐẠI. KONTUM là NỤ HOA, thì nơi đó được đặt tên là HOA HỒNG thì tưởng cũng không đáng cho ta ngạc nhiên.

Người Phù Nam có động từ chết để dùng riêng cho cá, vì miền Nam là xứ cá. Con cá chết, họ nói con cá NGÁP. Người Việt miền Nam mà có ăn học, cũng dùng đúng y như họ tức Ngáp = Chết (chỉ riêng loài cá). Nhưng các bà hàng tôm hàng cá thì dùng động từ ấy sai. Nguyên con cá, trước khi chết nó có hả miệng ra rồi khép lại, y hệt như con người ngáp. Các bà hàng tôm, hàng cá tưởng rằng NGÁP là ngáp như người, và họ hiểu rằng khi con cá nó ngáp là nó báo hiệu rằng nó sắp chết. Nhưng thật ra thì ngáp = (cá) chết, không có nghĩa là ngáp bao giờ.

Người Lạc bộ Mã gọi một loài chim kia là Ó MALAI, người miền Nam cũng gọi y hệt như vậy. Chữ Malai nầy có nghĩa khác, chớ không phải là chỉ dân Mã Lai đâu. Malai nghĩa là có chùm lông trên đầu, còn họ thì tự xưng là dân MALAYU.

Người miền Bắc nói BÁC BỎ. BÁC là tiếng Tàu. Người miền Nam nói bất cũng đồng nghĩa, nhưng đó là động từ Phù Nam, BATAL.

Miền Nam có hai câu ca dao mà chúng tôi quên mất vế trên. Vế dưới như sau đây:

Tránh đi nước mặn, sợ hà ăn chơn.

HÀ là danh từ Phù Nam chỉ một loài sâu ở nước, thật sự thì nó chỉ gậm gỗ của ghe thuyền mà thôi. Nhưng trạo phu thường bị lỡ chơn và họ đổ lỗi cho con HÀ, nên mới có câu ca dao trên.

Nếu chúng tôi cứ kể mãi như thế nầy thì chán quá lại không đủ giấy vì có hơn một ngàn danh từ. Vậy chúng tôi xin trình ra thêm một danh từ nữa, rất là ngộ nghĩnh, nó làm đề tài tranh luận trong giới học giả miền Nam từ 50 năm nay, nhưng chưa ngã ngũ ra sao cả.

Khác hẳn với miền Trung và miền Bắc, người con cả ở miền Nam không được gọi là CẢ, mà chỉ được gọi là HAI mà thôi.

Đa số học giả miền Nam đã giải thích như thế nầy: Thuở bôn đào ở miền Nam, vua Gia Long có một người con cả. Ông hoàng Cả ấy đã can vua cầu viện ngoại quốc và bị nhà vua xử cực hình. Dân chúng mến đức ông hoàng Cả nên kiêng tên ông.

Thiểu số thấy rằng lối giải thích đó không đứng vững, nhưng không cãi lại được. Nó không đứng vững vì không có tài liệu nhỏ lớn nào kể câu chuyện đó hết. Không có tài liệu, không có nghĩa là câu chuyện không có. Nhưng câu chuyện không có vì các lẽ sau đây:

I) Khi dân ta kiêng tên một người thì họ dùng một danh từ khác để thay thế. Ngày nay, các ông cha, bà phước miền Nam cứ còn nói YẾNG SÁNG thay cho ÁNH SÁNG vì kiêng tên cúng cơm của vua Gia Long. Họ kiêng tên Nhậm thì họ nói TRÁCH NHIỆM, họ kiêng tên hoàng tử ĐẢM thì họ nói CAN ĐỞM.

Tại sao có phương pháp thay thế đó? Rất là dễ hiểu. Từ đời Hùng Vương thứ nhứt đến nay, dễ thường ba ngàn năm đã trải qua rồi và có ít lắm là một vạn vua, hoàng thân quốc thích và đại thần cần phải cữ tên, mà nếu mỗi lần kiêng, phải bỏ đi một tiếng là đã không còn ngôn ngữ Việt Nam nữa vì Việt ngữ thuở xưa cũng chỉ có lối một vạn tiếng là cùng.

II) Theo dã sử thì Cả không phải là tên của ông hoàng ấy mà không ai biết tên là gì. Cả chỉ là con trưởng của vua Gia Long mà thôi. Thế thì quá vô lý. Người ta chỉ kiêng tên cúng cơm, chớ không bao giờ lại kiêng tước vị, ngôi thứ.

III) Ông tiên chỉ trong làng miền Nam vẫn được gọi là ông HƯƠNG CẢ. Mà hưởng chức hội tề là một thứ quan, tuy chỉ là quan loại bỏ túi, nhưng cũng cứ là quan, hồi tiền chiến. Mà quan thì càng có lý do kiêng tên hơn dân nữa, nhưng họ cứ dám dùng tiếng Cả như thường thì dân đâu có cần bảo hoàng hơn quan.

Nhưng con Cả, được dân Phù Nam gọi là con HAK. Họ có hai danh từ:

Anak sulong = Con nít đầu lòng

Đó là danh từ chung của đại khối Mã Lai nên toàn quốc ta đều có. Còn danh từ ANAK HAK là danh từ riêng của họ.

Vậy ANH HAI chỉ là ANH HAK, CHỊ HAI chỉ là CHỊ HAK, mà thôi.

Tiếng CẢ là tĩnh từ chung của đại khối, nhưng người Nam Dương chỉ dùng để nói Biển Cả, Nghiệp Cả chớ không chỉ con bao giờ. Với con thì họ dùng HAK.

Có một câu hỏi mà có lẽ quý vị đã tự thầm đặt ra từ nãy đến giờ: ”Nếu quả người Phù Nam còn tồn tại thì họ biến đi đâu mà không ai thấy cả? Rất dễ giải thích sự biến mất của người Phù Nam. Ở Cao Miên thì họ biến thành người Cao Miên, còn ở Nam kỳ thì họ biến thành người Việt. Mà họ biến được dễ dàng cho đến đỗi không ai biết và Cao Miên, Việt Nam, Phù Nam đến đồng chủng với nhau.

Chúng tôi đã quan sát và có thấy sự kiện sau đây. Từ Gò Công xuống tới mũi Cà Mau, có rất nhiều người Việt Nam có tóc dợn sóng. Tóc dợn sóng là biệt sắc của chủng Mã Lai thuần túy, không bị lai giống với Mông Cổ như ta. Hễ có lai giống với Mông Cổ thì tóc phải thẳng.

Những người Việt có tóc dợn sóng ấy gốc Phù Nam. Tây lai, Ấn Độ lai, cũng có tóc dợn sóng, nhưng đó là thị dân, chớ không phải nông dân. Ở Biên Hòa, Bà Rịa lại cũng có người có tóc dợn sóng. Đó là người Việt lai với Mạ từ 6, 7, 8 đời rồi. Mạ là Lạc bộ Trãi thuần túy, và dĩ nhiên cũng có tóc dợn sóng.

Chương XII - Hoa Phật bị hạ bệ

Có danh từ Ấn Độ trong Việt ngữ hay không? Dĩ nhiên là có. Đó là những danh từ Phật giáo, nhưng được phiên âm tới 2 lần, từ Phạn sang Hoa rồi từ Hoa sang Việt.

Nhưng nếu có những danh từ thường và danh từ Phật giáo KHÔNG PHIÊN ÂM thì thật là bất ngờ. Đây là một danh từ Phật giáo không qua trung gian Tàu: NAM MÔ. Phạn ngữ là NAMAH. Tàu viết là NAM VÔ. Nếu qua trung gian Tàu, các sư ta đã đọc là NAM VÔ, nhưng các sư ta cứ đọc là NAM MÔ. Thế nghĩa là ta đã học thẳng với Ấn Độ.

Trần Trọng Kim có cho biết rằng dưới trào hậu Lý Nam Đế có nhà sư Ấn đến đây lập ra Thiền tông. Thế là đã rõ. Họ đến vào thời ta độc lập và ta học Nam Mô thẳng với họ.

Nhưng nếu có những danh từ thường thì sao? Cũng dễ hiểu? Ông tổ Thiền tông ấy hẳn không tới đây một mình và có các chú tiểu Ấn Độ đi theo. Nếu sư tổ không tiếp xúc với dân chúng thì các chú tiểu phải tiếp xúc.

Thế nên một số danh từ Ấn Độ mới len và Việt ngữ. Có một động từ nầy mà chúng tôi rất nghi là của Ấn Độ, nhưng không dám chắc lắm. Đó là động từ THUÊ. Phạn ngữ là SIUUA, kí hiệu quốc tế là SEWA.

Xin nhắc rằng khoa ngữ học bất kể kí hiệu, vì kí hiệu rất gạt gẫm, mà chỉ kể âm đọc (Phonème). Về phương diện Phonème thì đồng hóa THUÊ và SEWA được mà không bị khoa ngữ học bắt bẻ.

Nhưng sẽ có nhiều người nghi ngờ về THUÊ và SEWA thì xin bỏ qua vậy, vì chúng tôi đã bí đâu, chúng tôi còn hàng tá tiếng Phạn trong túi mà không ai bắt bẻ được hết.

Một nhà bác học Pháp đã đối chiếu truyện Cây đa thằng Cuội của ta, chuyện Hậu Nghệ của Tàu và một chuyện Ấn tương tợ như thế và thấy rằng cả chuyện Tàu, lẫn chuyện Việt đều bắt nguồn từ chuyện Ấn.

Chắc không ai ngạc nhiên. Văn hóa Ấn có thể vào tới Việt Nam, trước khi ta tiếp xúc với Tàu, vì kinh đô Ấn gần nước ta hơn kinh đô Tàu, và Ấn cũng là một quốc gia có một nền văn minh lớn đủ khả năng lan tràn đi xa. Nhưng vì ta ở quá xa họ, nên ta thoát được ảnh hưởng lớn của họ mà chỉ mượn có một số danh từ.

Ai cũng nói danh từ CHÙA của ta, do TỰ của Tàu mà ra. Nhưng đọc cái tiếng TỰ đó, theo bất kỳ giọng nào của Trung Hoa, cũng không thấy rằng nó có thể biến thành CHÙA được hết.

Nhưng nếu ta biết rằng Phạn ngữ chỉ cái chùa bằng danh từ HUNA thì ta sẽ thấy nguồn gốc của chùa:

Huna → Hua → Chua → Chùa

Tiếng Phạn đã có lan vào Việt ngữ mà không ai dè. Dĩ nhiên là những danh từ Phật giáo như Sa di, Tỳ kheo thì ai cũng biết rằng đó là tiếng Phạn vì các nhà sư đã có đi học Ấn Độ và có biết tiếng Phạn. Nhưng các sư, hoặc chỉ học những danh từ triết tôn, nên không biết danh từ thường hoặc không có dịp cho ta biết rằng nhiều danh từ thường, cũng do Phạn ngữ mà ra. Thí dụ, danh từ CHÙA là danh từ tôn giáo, chắc chắn các sư biết do HUNA, nhưng cũng chẳng nghe các sư giảng như vậy lần nào cho ta rõ.

Nhưng danh từ Chùa quá mới, đối với các danh từ thường. HUNA vào đất Việt, và có lẽ dưới thời Lý Phật Tử, ông ấy đã rước sư Ấn về Giao Chỉ.

Nhưng nhà sư Ấn đó, hẳn không có thì giờ để phổ biến các danh từ thường, có vẻ có đã lâu đời lắm rồi, có trước Tây lịch nữa.

Ta đã thấy trong ngôn ngữ ta có tiếng Mông Cổ, tiếng Tamoul. Nhưng không ai dè rằng có tiếng Phạn, dĩ nhiên là phải trừ các danh từ Phật giáo ra. Ta chỉ kể những danh từ thường mà thôi.

Có ai dè rằng SÁNG SỦA gồm một trạng từ Phạn là SUACHA có nghĩa là SÁNG SỦA hay không?

Ta cứ viết văn phạm cho rằng SỦA vô nghĩa. Nhưng nó có nghĩa SÁNG SỦA đấy và đó là tiếng Phạn. Phạn ngữ nói UDARA SUACHA = bầu trời sáng sủa.

Nhưng hoa SEN, cũng là tiếng Phạn thì thật là không biết nó qua ngả nào, vì Chàm gọi hoa đó khác ta, Cao Miên cũng thế.

Danh từ Mông Cổ lọt vào Việt ngữ đã 5000 năm rồi, nhưng ta biết tại sao, còn SUACHA và SEN thì thật là bí. Nhưng SEN là hoa nhà Phật, tức cái gì thiêng liêng quí báu lắm, vậy tại sao tên hoa đó bị tẩy chay trong các gia đình Bắc Việt?

Hẳn là phải có một lý do thầm kín nào mà chưa ai thử truy ra.

Danh từ chỉ loại hoa phật đó rất thiêng liêng ở Ấn Độ, thế mà nó bị tẩy chay tại Việt Nam thì đó là chứng tích không phải Phật giáo Ấn Độ đã đưa nó vào ngôn ngữ Việt dưới trào Lý Phật Tử, mà danh từ đó đã tới cổ Việt trước Phật giáo và bị tẩy chay trước Phật giáo, tức khá cổ, trước Tây lịch, chớ không phải sau Tây lịch.

Thế nghĩa là đã có ảnh hưởng Ấn Độ tới lưu vực Hồng Hà rất lâu đời mà không ai hay biết, và nhất là không phải qua trung gian Cao Miên và Chàm vì hai dân tộc ấy gọi tên hoa đó khác Ấn Độ và ta. Danh từ Phạn không giống hệt ta được, nó chỉ là SENROJA, nhưng ta biết rằng là đồng gốc.

Dân Saka theo đạo Bà La Môn đã đi khai hóa Chân Lạp tại Trung Lào, mà cái Chân Lạp đó thì có biên giới chung với ta thì họ có đưa chút đỉnh văn hóa Ấn vào nước Văn Lang, không có gì đáng ngạc nhiên, nhưng riêng về tên hoa Sen thì không phải do họ được, và cũng không phải Chàm.

Nhưng tại sao đất Bắc Hà kiêng kị tên SEN?

Tôi đang ngồi nói chuyện với một người bạn gốc Hà Nội, thì một cô gái đi qua cửa của tôi. Tôi gọi nó:

"Sen ơi, sao con không góp tiền hụi?"

Góp tiền hụi có nghĩa là Thu tiền họHọ ở đây là cái bát mà mẹ cô bé ấy cầm cái.

Con bé đó xinh đẹp, đã trổ mã, lại ăn mặc lịch sự, nên anh bạn ấy hỏi:

"Con người xinh đẹp như thế mà lại bị đặt tên là con sen? Sao kỳ thế?"

Tôi bật cười. trong câu hỏi của tôi có ba từ đặc biệt miền Nam là góp tiền hụi, nhưng anh bạn đó hiểu, còn Sen thì anh ấy lại không hiểu.

Tôi bật cười vì tôi hiểu sự kinh ngạc của bạn tôi. Hoa Sen là hoa nhà Phật, hương sắc lưỡng toàn nên ta mới có bài ca dao ca ngợi hoa đó:

Trong đầm gì đẹp bằng sen
……………………………………..
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Thế mà người Việt đất Bắc lại rất sợ tên của loài hoa quý đó, vì con nhỏ sai vặt trong bất cứ nhà ai, cũng bị đặt tên là con sen cả, không biết từ đời thuở nào, và SEN đã bị hoen ố vì cái chức vụ thấp kém đó, nên tên Sen bị kiêng kị, không có cô gái nào của đất Bắc mang tên Sen cả. Họ dám đặt tên con họ là cái Hĩm, nhưng nhứt định không dám đặt tên là Sen.

Chúng tôi đã hỏi tất cả các cụ gốc miền Bắc, nhưng không ai cắt nghĩa cho trôi sự kiêng kị đó.

Và khi chúng tôi học sinh ngữ Á Đông để viết sử, chúng tôi mới khám phá ra sự thật. Hoa Sen đã bị hoen ố trước Chúa giáng sinh nữa, tức trước cả thời đạo Phật được truyền sang xứ ta thảo nào toàn cõi Bắc Hà đều sợ cái tên đó.

Thủ phạm đã làm hoen ố hoa sen là An Dương Vương, kẻ đã cướp nước ta và diệt vua Hùng Vương thứ 18 của ta.

Xin nhắc rằng vua An Dương Vương là cháu nội của vua nước Thục cuối cùng, lưu vong xuống Quảng Tây. Dân Ba Thục là dân Thái, mà dân Quảng Tây cũng thế, họ ăn nói chỉ khác nhau như Nam Việt và Bắc Việt.

Trong ngôn ngữ Thái có hai từ ngữ mà ta đọc hơi sai một chút, và chúng tôi xin chuyển âm thật đúng:

Sauu chai = Trẻ trai (để sai vặt)
Sauu hiin = Trẻ gái (để sai vặt)

Cũng nên nhớ là Thái An Dương Vương xâm lăng ta bằng lính Thái Quảng Tây. Hoàng gia Thái, lính của Thái, lại giữ ngôi được tới 49 năm thì dân ta hẳn phải có người hợp tác với quân xâm lăng và chính bọn hợp tác đã nhiễm ngôn từ của địch.

Thuở ấy, chắc họ cũng ăn nói y hệt như hoàng gia và lính tráng, tức nói SAUU CHAI chớ không nói là THẰNG NHỎ như ngày nay, và nói SAUU HIIN chớ không nói là CON SEN.

Ngày nay, ta đọc SAUU thành SAO, chớ thuở ấy, ta đọc SAUU là SEN.

Sauu hiin = Sen hĩm

Tĩnh từ Sauu của Thái rất khó đọc, sách Ăng lê ghi là SAOW, nhưng vẫn không diễn đúng âm của Thái được, mà SEN hay SAO của ta lại càng sai hơn.

HIIN bị ta đọc HĨM, nhưng đó là danh từ chung của đại khối Mã Lai và ta đã cho một nghĩa tục trước khi bị họ xâm lăng. Thế nên khi ta hợp tác với họ, ta chỉ còn dám nói Sen mà không nói Hĩm (xin xem Chương về Hĩm).

TRẺ TRAI về sau bị biến thành THẰNG NHỎ còn được dùng cho tới ngày nay, còn TRẺ GÁI thì vì HĨM đã được gán cho cái nghĩa khác mất rồi, nên chỉ còn TRẺ mà trẻ đó thì ta đọc sai là SEN. Nếu thuở ấy ta đọc sai như ngày nay là Sao, thì một thứ hoa đẹp của ta không mất địa vị và đã có khối người đẹp mang tên là cô Sen.

Vậy hoa Phật bị hạ bệ đúng vào thời An Dương Vương. Đây là biến dạng độc nhứt mà ta biết chắc chắn thời điểm, còn các biến dạng khác thì ta chỉ biết đại khái về một thời điểm quá rộng có khi đến ba trăm năm.

Tội nghiệp loài hoa quý đó quá, và tội nghiệp cho gái Việt không được mang tên Sen, chỉ vì một sự đọc sai.

Nay biết sự thật, tưởng ta nên xóa ngộ nhận. Và thời cuộc sẽ giúp ta xóa dễ dàng vì hiện nay, trong một trăm gia đình, chưa chắc có một gia đình dám mượn con Sen, vì chúng nó đi làm sờ - nách-ba hết cả rồi, các bà nội trợ đành tự sai khiến mình vậy.

Ước mong sẽ có nhưng giai nhân tên là Lý Thị Sen mà không bị ai coi thường như xưa nữa.

Chúng tôi lại truy nguyên coi tại sao một thứ hoa quý khác là hoa nhài (lài) cũng bị đồng bào miền Bắc tẩy chay. Ở đất Bắc, thôn nữ bần cố nông cũng không dám mang tên Nhài, vì Nhài còn tệ hơn Sen nhiều bực, bởi hoa Sen bị đồng hóa với tôi tớ gái, còn hoa Nhài lại bị đồng hóa với con đĩ.

Sự kiêng kị với Nhài, khe khắt hơn với Sen nhiều lắm.

Nhưng với Nhài thì thủ phạm không phải là An Dương Vương nữa, mà là một bọn khác, xưa hơn, đó là bọn Lạc bộ Mã, đã đến nước ta trước An Dương Vương đến ba trăm năm.

Nơi bọn Lạc bộ Mã tĩnh từ chỉ tánh cách dâm đãng của phụ nữ là KƠLINHHÀI. Kơ, dính liền với Linhhài, chớ không phải KẺ là NGƯỜI đâu.

Có người nói tại hoa nhài nở về đêm nên mới bị mang cái tiếng đó, nhưng tại sao có khối hoa khác cũng nở về đêm, thí dụ hoa quỳnh, hoa nguyệt quế, v.v. lại không bị mang tiếng đó? Và cái vụ Sauu = Sao = Sen đã cho ta thấy quá rõ là không phải vì tánh cách của hoa chút nào hết mà vì ta đã biến âm sai mà thôi.

Tiếng XANH của ta lại bị Thái biến ra thành SAUU. Hóa ra trong tiếng Thái SAUU vừa là Gái trẻ sai vặt, lại vừa là XANH.

Về hoa nhài thì đó là danh từ độc nhứt mà toàn thể Mã Lai đều nói giống nhau:

Việt Nam: Lài (nhài)
Cao Miên: Mlít
Thái: Ma li
Miền Dưới: Mơlati

Sẽ có người nói rằng tất cả đều học của Tàu vì Tàu gọi hoa đó là Mạt lị. Nhưng còn ngờ.

Chương XIII - Yếu tố Mê-na-lê trong Việt ngữ

Khi Lạc bộ Trãi di cư đến V.N. thì họ chưa biết nông nghiệp, theo tiền sử học.

Nhưng theo nhơn chứng là Lạc bộ Mã (nhóm Mường) di cư đến sau bọn Trãi 2500 năm thì nhơn chứng đó đã thấy Trãi có vua chúa, tức đã giỏi nông nghiệp, và bọn đó đành thần phục bọn vua chúa ấy (Hùng Vương). Tiền sử học cho biết rằng Lạc bộ Mã đã biết nông nghiệp hồi còn ở bên Tàu, mà vua Hùng Vương không mất nước thì hẳn vua Hùng Vương phải đã tiến lên giỏi hơn bọn đến sau (vào năm 500 T.K)

Thế thì bọn Trãi đã tự lực tiến lên nông nghiệp tại Việt Nam, và dĩ nhiên là họ sáng tác danh từ. Tuy nhiên, không phải là họ sáng tác tất cả mọi danh từ, mà họ có học với thổ dân. Thổ dân văn minh nhứt ở Đ. N. A. thuở ấy, là chủng Mê-la-nê. Nhưng chủng đó, mãi cho đến ngày nay vẫn chưa tiến lên nông nghiệp.

Nhưng không vì thế mà họ không có danh từ để dạy ta học, vì vẫn có chuối rừng, bí rừng, bầu rừng.

Vậy làm thế nào để biết danh từ nào ta học của họ, danh từ mà ta sáng tác. Tưởng có thể biết được không tới 100%, nhưng vẫn biết được hơn 70%, bằng cách dựa vào sự kiện nầy là chủng Mê-la-nê rời rạc chớ không có thống nhứt. Chủng Mã Lai giỏi hơn, mà mãi cho đến ngày nay, ta vẫn nói khác hơn Sơ Đăng thì cách đây 5000 năm Mê-la-nê rất bời rời về ngôn ngữ. Thế thì những danh từ nào mà người Mạ ở Lâm Đồng lại nói giống Bắc Việt, thì chắc chắn đó là chủng tộc cùng nhau sáng tác.

Đừng nói chi là các món mới mà ngay cả thiên nhiên cũng bị gọi khác thì hẳn phải có ảnh hưởng của Mê-la-nê. Thí dụ chúng tôi thấy rằng về núi non, có ba hệ danh từ, cả ba đều là của Mã Lai:

PHU NÔNG { Đẻ ra đa số danh từ
GU NÔNG
NÚI, chỉ có Việt Nam với Sơ Đăng là có
NGÀN, chỉ có Việt Nam với Sơ Đăng là có

Nhưng người Chàm Ninh Thuận thì lại chỉ núi bằng danh từ CHỚK mà không tìm thấy cả ở vùng Đa Đảo nữa, thì hẳn đó là danh từ của Mê-la-nê ĐỊA PHƯƠNG, vì Đa Đảo xưa cũng do Mê-la-nê làm chủ mà họ không có thì tiếng Chớk phải là danh từ riêng của Mê-la-nê miền Trung Việt.

Ta thử tìm xem trong các thứ thổ sản, ta đã sáng tác thứ gì. Về tên loài cá nhiệt đới là 4 loại lóc, trê, rô, sặc, xem ra giống nhau cả, tức cùng nhau sáng tác tại chỗ, tuy mỗi nhóm mỗi học khác nhau chút ít nhưng thấy là biết rằng cùng nhau sáng tác, bởi nếu học của Mê-la-nê, thì Mạ không thể nói giống Bắc Việt được vì Mê-la-nê ở hai nơi đó nói khác nhau.

Về rau đậu, chúng tôi nhận thấy điều nầy lạ lắm là nhóm đầu dọc là nhóm Sơ Đăng gọi Bầu, Bí, Dưa gì cũng bằng danh từ PẤU hết.

Có lẽ đó là sáng tác đầu tiên của nhóm Trãi. Các nhóm khác, có địa bàn tương đối tốt hơn, nên tương đối văn minh hơn, mới có phân biệt về sau.

Họ phân biệt bằng cách nào? Dưa thì không nấu, ăn vẫn được, còn bầu bí, phải nấu.

Vậy PẤU có thể đẻ ra BẦU và BÍ và các danh từ của các nhóm khác như Bol, Buôn, v.v. nhưng ta chỉ nói đến ta ở đây mà thôi.

Chữ BÀO và cả chữ HỒ LÔ của Tàu, xem ra là chữ phiên âm, chớ không phải tiếng nguyên thủy, vậy không có vấn đề vua Hùng Vương chưa biết Bầu, đợi Mã Viện tới, ta mới học Bào của Tàu. Xem ra thì cái gì Tàu cũng học của ta cả. Thí dụ ta và Thượng Việt gọi MÍT là TRÁI MÍT và hồi xưa, ta gọi là B’LÁI MÍT mà Tàu thì là BA LA MẬT. Thế thì BA LA MẬT là phiên âm B’ LÁI MÍT chắc một trăm phần trăm. CHUỐI cũng thế, DỪA cũng vậy v.v.

Nhưng PẤU không thể đẻ ra DƯA. Một sự lạ hiện ra nữa, là người Sơ Đăng gọi tất cả là PẤU chỉ trừ bí đỏ (bí ngô) thì họ gọi là TUA là TƯA. Có lẽ rồi chủng tộc chỉ lấy TUA, TƯA để gán cho DƯA, thuộc loại khác.

Về việc sáng tác danh từ, xem ra thì các dân tộc không cần nhọc xác cho lắm, cứ gán ghép bậy bạ cho có mà thôi. Thí dụ trong tiếng Anh thì họ chỉ thêm danh từ NƯỚC và trái MELON, là nó hóa ra DƯA HẤU, mặc dầu hai thứ đó khác nhau một trời một vực. Trái Melon, bề ngoài mường tượng như bí ngô, thịt lại giống đu đủ, chẳng dính líu gì đến dưa hấu hết.

Sẽ có bạn cho rằng chúng tôi chỉ suy luận để đoán mò. Nhưng thật ra đã có người làm như thế, đó là Ăng lê đã biến Melon thành Dưa hấu bằng cách thêm tiếng NƯỚC vào.

Vậy PẤU của Sơ Đăng biến thành BẦU và BÍ của ta.
TUA, TƯA của Sơ Đăng biến thành DƯA của ta.

Có DƯA rồi thì lại phải sáng tác nữa vì nó lu bù thứ dưa. Nhưng ông tổ Sơ Đăng đã gọi DƯA HẤU là PẤU thì ta cũng cứ gọi trái đó là TƯA PẤU cho xong, rồi thì TƯA PẤU biến hóa thành DƯA HẤU.

Thuở bé chúng tôi đọc tiểu thuyết Quả dưa đỏ, và không nhớ tác giả hay ông thầy của chúng tôi giải thích rằng Dưa Hấu, do DƯA HẢO tức DƯA NGON của Tàu mà ra. Nhưng giờ xét lại thì không thể có. Câu chuyện xảy ra dưới thời Hùng Vương mà dân ở Quảng Đông chưa bị nhà Tần đánh chiếm, thì ta làm thế nào để biết tĩnh từ HẢO của Tàu. Mà Tàu gọi Dưa Hấu là Dưa Tây chớ không bao giờ gọi là Dưa Hảo.

Vậy DƯA HẤU do TƯA PẤU đẻ ra thì hữu lý hơn, mặc dầu theo ngôn ngữ Sơ Đăng thì TƯA PẤU có nghĩa là BÍ NGÔ DƯA, còn theo Việt ngữ cổ thì DƯA HẤU có nghĩa là DƯA DƯA, tức hơi kỳ kỳ, nhưng có kỳ thế nào cũng chỉ kỳ như Melon + Nước = Dưa hấu của Ăng lê là cùng.

Vấn đề Bầu, Bí, Dưa đã được giải quyết. Nhưng PẤU không thể đẻ ra được Mướp. Nhưng bọn Lạc bộ Mã đến sau, gọi Mướp là TI MUN, TA MƯN, TI MĂN, tất cả đều có thể đẻ ra MƯỚP được hết.

Đó là sáng tác thuở ban đầu từ 5000 đến 2500 năm nay.

Sáng tác về sau thì lại khác nữa, vì lại có nhiều thứ bí. Bí đỏ, bị gọi là bí ngô khiến có nhiều người tưởng rằng là ở bên Ngô (bên Tàu) đưa sang. Nhưng Nhựt Bổn, Nam Dương và Ấn Độ đều gọi bí ngô là trái dưa Kocbuja, tức gốc nó ở Cao Miên, và bên Tàu không có Bí Ngô vào thời đó. Bí ngô thật đã làm cho ta bí.

Nhưng BÍ gọn lỏn, mà miền Nam và miền Trung gọi là BÍ ĐAO, thì rất dễ biết do đâu mà ra. Tự điển K.T.T.Đ định nghĩa rằng vì loại bí đó dài và quăn như lưỡi đao nên bị gọi là bí đao. Thật sự thì BÍ không bao giờ quăn cả. Hơn thế ta đã phải có danh từ trước khi ta bị Tàu chinh phục để ta học tiếng ĐAO với họ. Bí đao chỉ là tiếng Chàm. Họ gọi nó là Dak và DAK không hề có nghĩa là ĐAO. Đó là danh từ nguyên thỉ của họ để chỉ TRÁI BÍ, không có nghĩa nào khác hết. Họ gọi nó là BO DAK nghĩa là TRÁI DAK chớ họ không có danh từ BÍ.

Nhưng CHUỐI thì chắc chắn là ta học của chủng Mê-la-nê, ví các nhóm đều gọi khác hết.

Việt Nam: Chuối
Chàm: Patay
Thái: Kluay
Mạ: Prit

Không thể nối kết Kluay và Patay được vì không có cái khoen nối kết nào cả. Cũng không thể nối kết CHUỐI và KHUAY vì không có khoen nối kết.

Cây MÍA cũng bê bối lắm:

Sơ Đăng: Kôtếo
Mạ: Chao
Nam Dương: Tơbu
Việt Nam: Mía
Cao Miên: Ompâu

Ta hiểu được sự kiện nầy dễ dàng. Chủng Mê-la-nê không biết nấu nướng nên không ăn bí, ăn bầu, ăn mướp gì hết, không có đặt tên, thành ra ta phải sáng tác, nên các nhóm đều giống nhau, còn chuối rừng, mía hoang thì ăn được nên họ có đặt tên, ta học với họ, hóa ra mỗi nhóm mỗi nói khác.

Trái DỪA cũng ở trong trường hợp đó. Tuy nhiên Việt Nam, Sơ Đăng và Mạ vẫn nói khá giống nhau, tức Trãi cùng sáng tác với Trãi, Chuy cùng sáng tác với Chuy, Mã cùng sáng tác với Mã, chớ không học của Mê-la-nê, mặc dầu Mê-la-nê có danh từ Dừa.

Ta và các nhóm khác còn học của Mê-la-nê nhiều thứ nữa chớ không phải chỉ có hai danh từ ấy. Nhưng Chương nầy không là tự vựng Mê-la-nê ngữ ở Việt Nam.

Riêng danh từ DỪA thì Chàm, Giarai và Rađê nói theo Nam Dương, nhưng có biến dạng, Cao Miên nói theo Dravidien Nam Ấn, còn Việt Nam, có lẽ chỉ biến DƯA thành DỪA, bởi đã bảo loài người sáng tác danh từ rất là lấy lệ, hai thứ đó khác nhau, nhưng họ mặc kệ.

Cũng nên biết rằng DƯA của ta lại cũng có nghĩa là LÉGUME. Bất kì thực vật nào ngâm nước muối cũng được gọi là Dưa hết, mà cơm của trái dừa thì đôi khi cũng được ăn như ăn Légume.

Ta cứ ngỡ Măng cụt là tiếng Mã Lai, nhưng không. Đó là tiếng Cao Miên và chắc đất đai Phù Nam xưa là nơi sản xuất loại trái đó nên ta và Thái Lan đều gọi theo Cao Miên, cả Chàm và vài nơi cũng gọi theo Cao Miên, và Măng cụt có lẽ là sáng tác riêng của Phù Nam, khi mà chỉ một mình họ có loại trái đó, thuở ban đầu ở Đ.N.A lục địa.

Mã Lai có danh từ Mang kok, nhưng nó chỉ vật dụng chớ không phải trái cây, còn măng cụt thì họ gọi khác.

Trầu thì toàn thể Đ.N.A LỤC ĐỊA và Nam Dương đều gọi như nhau, có lẽ là sáng tác tại chỗ và tập thể của Lạc bộ Trãi, Lạc bộ Mã tới sau, học với Lạc bộ Trãi.

Ta không biết Bí ngô tại sao lại bị gọi là bí ngô, nhưng ta biết Bắp tại sao được gọi là Lúa ngô. Người Chàm gọi Bắp là NGƠI, T’NGƠI. Ta bắt chước Chàm chớ xưa kia, Bắc Việt vẫn gọi là Bắp y hệt như Thái (POT) và Cao Miên (POT).

Phụ chú

CHUỐI, ta nói là CHUỐI, còn Quan Thoại thì nói là CHÉO thế thì ai học của ai?

I) Chuối không thể mọc ở xứ lạnh được.

II) Ngô Sĩ Liên, dựa vào sử Tàu, chép rằng Sĩ Nhiếp, dưới thời Tam Quốc, thường biếu xén chúa Ngô nên rất được tin dùng. Trong các của lạ Giao Chỉ, có CHUỐI và DỪA.

Vậy ai ham làm học trò của Tàu, cứ tin rằng ta biến CHÉO thành CHUỐI.

Một số nhà bác học Mỹ tin rằng Đ.N.A đã biết nông nghiệp 15.000 năm rồi, khiến trí thức V.N đã theo dõi nghiên cứu của họ, có ngộ nhận phần nào. Nên nhớ rằng các nhà tiền sử học không phải là sử gia. Họ chỉ tìm biết loài người ở một nơi nào đó, vào một thời nào đó, mà không cần biết con người ấy là ai.

Vậy nếu quả Đ.N.A đã biết nông nghiệp từ 15.000 năm thì đó là nông nghiệp của chủ đất trước khi chủng Mã Lai đến, tức của chủng Mê-la-nê, chớ không phải là tổ tiên ta đã có mặt ở đây từ 15.000 năm.

Tuy nhiên họ cũng chỉ có chứng tích cổ nhứt là 5.000 năm, phù hợp với thời điểm định cư của Lạc bộ Trãi và Lạc bộ Chuy ở Đông Nam Á. Thời điểm 15.000 năm chỉ là thời điểm ước đoán mà không có chứng tích.

Sự kiện chủng Mê-la-nê dạy Hoa tộc nông nghiệp cũng chỉ là sự ước đoán mà không có chứng tích nào hết, ngược lại còn có chứng tích “phản đề”, vì Hoa tộc trồng lúa mì hồi thượng cổ, tuyệt đối không biết lúa gạo, còn Đông Nam Á thì trồng lúa gạo, tuyệt đối không biết lúa mì.

Cách thức thuần hóa hai loại mễ cốc ấy khác hẳn nhau, dân trồng lúa gạo không thể dạy dân trồng lúa mì được và ngược lại.

Tóm lại, chưa có đủ chứng tích thật chính xác về văn minh của kẻ đi trước chủng Mã Lai, và cái gì cũng được giao lại ở thời điểm 5.000 năm là thời điểm định cư của hai thứ dân: Lạc bộ Trãi và Lạc bộ Chuy.

Tuy nhiên, trước Mỹ, Pháp cũng đã biết rằng Mê-la-nê ở Miến Điện, Đông Ấn Độ văn minh cao bằng bọn đến sau, nhưng ở V.N thì không. Mê-la-nê ở V.N kém hơn Mê-la-nê ở các nơi khác. Họ còn tồn tại giữa ta. Đó là phụ nữ Mường KHÔNG NHUỘM RĂNG ĐEN NHƯ ĐÀN ÔNG MƯỜNG, và thấp bé hơn đàn ông Mường. Họ giỏi giang y như phụ nữ ta, nhưng đồng bào của họ trên Trường Sơn thì không biết trồng trọt. Đó là bằng chứng họ đã học với Lạc bộ Trãi chớ không phải đã văn minh rồi khi Lạc bộ Trãi đến nơi.

Chương XIV - Sơ Đăng, một dân tộc đầu đàn

Chúng tôi tin rằng người Thượng Việt là gốc tổ của Lạc bộ Trãi và Thượng Nam Dương là gốc tổ của Lạc bộ Mã.

Đại danh từ Any đã cho thấy gốc tổ ấy ra sao và người MẠ đã giữ được. Nhưng chúng tôi có lưu ý quý vị rằng người Mạ không phải là đầu đàn, vì họ chỉ may mắn giữ được có một đại danh từ đó.

Chính người Sơ Đăng mới là đầu đàn, ít lắm cũng ở Đông Nam Á. Nhưng còn Nam Ấn và Trung Mỹ nữa, mà chúng tôi chưa kịp học ngôn ngữ cho nhiều. Đại Hàn ngữ, chúng tôi cũng chỉ mới bắt đầu học khi viết gần xong quyển sách này.

Tin Thượng Việt

Thượng Việt không có chịu ảnh hưởng ngoại lai, đời sống bình yên nên ít thay đổi và ít biến dạng danh từ.

Tại sao Đa Đảo cũng nói AKA mà chúng tôi chỉ xem Thượng Việt là gốc? Vì Đa Đảo ở biển, chịu quá nhiều ảnh hưởng ngoại lai. Ngày nay nhiều đảo, toàn dân là Tây lai, hoặc Tàu lai. Riêng Hạ-uy-di, thì có thể cho đó là một đảo Nhựt lai.

Tuy phong tục và ngôn ngữ ở Đa Đảo (Polynésie) cứ còn là phong tục và ngôn ngữ Mã Lai. Nhưng họ đã biến bậy quá nhiều rồi.

Danh từ Mã Lai được giữ nguyên vẹn rất lâu đời, nhưng trái lại cũng có một số danh từ bị biến đến không còn truy ra được nếu không học đủ ba bốn chục sinh ngữ Á Đông để tìm những cái khoen nối kết.

Nếu không có người Chàm Bình Tuy thì không làm sao mà ai biết được rằng TAI của Thái do MẤT (chết) của Việt Nam mà ra:

Nam Dương: MATI
Việt Nam: MẤT
Chàm Ninh Thuận: MƯ TẠI
Chàm Bình Tuy: HTAI
Thái: TAI

Khi ta thấy KƠPAO là TRÂU biến ra, TAI là MẤT biến ra thì những danh từ trông xa lạ với nhau mà chúng tôi cho là đồng gốc, không phải là chúng tôi nói liều, mà đã học cẩn thận rồi, nhưng thiếu chỗ để viết hết ra xâu chuỗi biến dạng đó thôi.

Thí dụ biểu đối chiếu dưới đây, tuy vài dân đã cho nó nghĩa khác, nhưng truy ra đều đồng gốc hết:

Việt Nam: SÂU
Miền Dưới: SAUÚA (Sawah)
Nhựt Bổn: SAUUA ( Sawa)
Cao Miên: CHRÂU
Mạ: ZIRÂU
Bà Na: JRÂU
Sơ Đăng: TRÂU
Xi Tiêng: JƠRU

Miền Dưới chỉ dùng tĩnh từ nầy trong một trường hợp độc nhứt: RUỘNG SÂU. Còn Nhựt thì cho SAWA cái nghĩa là đầm lầy.

Tin Sơ Đăng

Người Mạ sống cạnh người Nam Kỳ thuở xưa. Còn người Sơ Đăng chỉ có các cố đạo là nỗ lực lên trên ấy, mà những danh từ Việt được các cố đạo dạy họ, ta đã biết cả.

Nhưng danh từ không do các cố đạo dạy họ mà trùng với Việt thì vô số kể, kể cả những danh từ rất tế nhị như LỒI ỐI đã nói đến rồi. Đó là những danh từ mà cả người Mạ, sống lẫn lộn với người Nam Kỳ cũng không có.

Những ông lái buôn quế ở Tam Kỳ thì có tiếp xúc được với Sơ Đăng tại Trà Mi. Nhưng họ hẳn không bỏ công ở lại Trà Mi để dạy Sơ Đăng LỒI ỐI, vì Trà Mi tuy ít núi non, vẫn là vùng sơn lam chướng khí mà trừ quân đội ra, không ai ở lại để làm gì, còn Sơ Đăng thì chê Trà Mi ít núi nên không thèm ở.

Chúng ta đã thấy vai trò đầu đàn của Sơ Đăng trong hai danh từ quan trọng NHÀ và NGƯỜI.

Nhưng không phải chỉ có thế, nhìn vào bản đối chiếu danh từ MƯA, ta cũng thấy rõ như vậy:

Xi Tiêng: MI
Mạ: MIU
Các phụ Chi Mạ: MI
Mã Lai Á: AMA
Nhựt Bổn: AMÊ
Việt Nam: MƯA
Sơ Đăng: MÊI

Chính danh từ Sơ Đăng là cái khoen nối kết giữa danh từ MÂY và MƯA của các nhóm Trãi. Mây đẻ ra Mưa. Mêi đẻ ra MƯA và MÂY.

Sơ Đăng có những tiếng Việt sơ khai mà không nhóm Thượng nào có cả:

Uâng = Muấng
Noa = Nua (Già)
Ngo = Ngàn (Núi)
Inúa = Núi
Luô = Lụt (nước lụt)
Jolón = Sóng
Hmôi = Mai (sớm mai)
Lo = Lố (dạng)
Xẻ = Xế (chiều)
Rồ = Hồi
Xrua = Xưa
Drối = Trước
Potok = Bao tử( Dạ dày)
Roma = Mỡ
Pit = Béo
Ning = Nín
Xẹt = Xẹo (thẹo)
Xong = Sưng
Uán = Uốn
Tói = Nói
Mnháu = Nhạo (báng)
Ngán = Ngắm
Luan = Thoáng
Hván = Hám (hôi hám)
Khíu = Hiu (buồn hiu)
Xau = Sợ
P’loang = Lo
Nguán = Ngoan
Mona = Mau
T’Xrống = Xuống
K’Têang = Ngang
Mung = Mượn
Xróng = Chông (gai)
Hén = Bén (sắc)
Ap = Áp (chảo)
Chôu = Cháy
Ngói = Khói
= Vò (rượu)
Hat = Hát
Xoang = Xang (Múa vũ)
Vêang = Gian (nhà)
Nêố = Nữa
Trung = Trong (ở)
Ngêi = Nghêu (lêu nghêu)
Ropong = Dòng (họ)
Tovó = Tròn vo

Đây là những danh từ giống thẳng, nhưng còn hàng ngàn danh từ giống nhưng phải có xâu chuỗi mới thấy được. Cũng nên biết rằng người Mường giống ta một trăm lần hơn, nhưng không nên kể đến vì họ sống chung với ta từ 2500 năm rồi còn người Sơ Đăng thì không có tiếp xúc với ta.

Chương XV - Tàn tích mẫu hệ trong Việt ngữ

Xin nhắc lại sơ một điều mà chúng tôi đã viết ra rồi trong quyển sử. Là mãi cho đến năm 1861, khoa học mới biết và mới công nhận rằng có chế độ mẫu hệ trong nhân loại, và HÌNH NHƯ bất kì dân tộc nào cũng đã trải qua chế độ mẫu hệ cả.

Năm đó, một quyển sách độc đáo ra đời, quyển “Chế độ mẫu hệ” của nhà bác học Bachofen, trong đó soạn giả đã dựa vào các văn kiện cổ thời Hy Lạp để chứng minh rằng Hy Lạp buổi đầu theo mẫu hệ.

Chừng ấy các nhà bác học mới tin những quyển du kí được viết trước đó mà họ cho là truyện trinh thám.

Và điều nầy kì lạ nhứt là trong các chủng, chỉ còn có chủng Mã Lai là còn theo mẫu hệ, người Phi Châu kém hơn nhiều, vẫn bước sang chế độ phụ hệ rồi.

Hậu Hán Thư cũng đã có ghi chép về vài dấu vết mẫu hệ còn sót lại ở Giao Chỉ, thuở nước ta bị Trung Hoa chinh phục. Đó là tục Levirat ở vài làng tổng của ta.

Nhưng còn dấu vết trong ngôn ngữ hay không? Có vẻ là còn. Dân ta nói VỢ CHỒNG mà không nói CHỒNG VỢ, cho đến các cụ nhà Nho tiêm nhiễm Nho giáo sâu đậm, vẫn nói: “Tình nghĩa vợ chồng”. Mà đừng tưởng là các cụ bị luật bằng, trắc chi phối, bởi các cụ có thể nói: “Nghĩa tình chồng vợ” mà câu văn cứ còn nhạc điệu hoài.

Truyền thuyết ta kể rằng dưới trào Hùng Vương, con gái nhà vua luôn luôn tên là MỆ NÀNG. Tại sao không nói đến con trai?

Người hành khất đi xin ăn, thường hát:

Bớ cơm, bớ gạo,
Làm phước gặp phước,
Làm doan (duyên) gặp doan.
Bà con cô bác
Cứu kẻ bần hàn ờ…ờ…ờ

Nội một câu kêu xin ăn đó chứa đựng hết hai dấu vết mẫu hệ. Cô (nữ) cứ đứng trước Bác (nam).

Và BÀ CON chớ không ÔNG CON đâu. Đã bảo thuở xưa CON là NGƯỜI, thì BÀ CON là người phía bên bà, tức người đồng họ (theo mẫu hệ) còn người phía bên ông không đồng họ nên không được xem là người trong dòng.

Ngày nay đáng lý gì phải là ÔNG CON, nhưng đã quen miệng rồi thì danh từ cổ cứ còn, mặc dầu chế độ đã thay đổi ngược hẳn trước.

Tại sao lại có từ ngữ “gái nạ dòng”? NẠ là MẸ thì có phải chăng NẠ dòng là dòng mẹ?

Từ ngữ nầy không có thể đồng thời với hậu Hán Thư mà ta đã bước sang phụ hệ rồi, nhưng còn sót mẫu hệ ở vài nơi, và bọn theo phụ hệ khinh bỉ bọn theo mẫu hệ, vì ta nghe thấy được giọng khinh bỉ trong từ ngữ đó.

Từ ngữ đó hàm cái ý “gái đã có nhiều con”, tức có nhiều con với nhiều chồng (ám chỉ sự đa phu có thể có), tức là gái không tốt đẹp gì đối với mắt của bọn đã tiến lên phụ hệ rồi.

Ca dao ta lại hát:

Ai về, tôi gửi buồng cau,
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy.

Đứa con trong hai câu dân ca trên đây, có vẻ không được biết lễ giáo Khổng Mạnh chút nào hết. Có người giải thích rằng dân ca ta chống lại Khổng, Mạnh, thuở ta mới bị trị. Cho rằng chủ trương đó đúng đi. Nhưng tại sao họ lại chống? Có phải chăng là vì lễ giáo đôi bên khác nhau, họ chưa quen chịu đựng nên họ khó chịu, họ mới chống lại? Mà nó khác nhau nhứt là ở chỗ đạo Nho chủ trương chồng chúa vợ tôi, khác hẳn nơi họ mà vợ là xếp trong nhà. Tuy Giao Chỉ đã ra khỏi chế độ mẫu hệ rồi, nhưng chưa lâu, bằng vào sự tồn tại của tục Levirat ở vài nơi. Vậy đàn bà còn được trọng lắm, mặc dầu đàn ông đã cầm quyền. Ta cứ nghe câu ca dao miền Nam sau đây thì rõ:

Lấy Triều Châu, cầm xâu chìa khóa
Lấy Quảng Đông, chèo ghe đi bán cá

Người Triều Châu là Lạc bộ Mã. Họ đã bị Tàu bắt theo phụ hệ hơn hai ngàn năm rồi mà vẫn còn trọng đàn bà thì biết đàn bà Giao Chỉ dưới thời Mã Viện, Sĩ Nhiếp được trọng đến mức nào. Nhưng Sĩ Nhiếp lại dạy dân ta cái chuyện khinh phụ nữ thời hẳn phải có chống đối.

Chương XVI - Xửa = Thiệt

Thường thì các nhà nho ta đọc Quan Thoại sai đến 40 phần trăm. Chỉ có vài tiếng hiếm hoi như QUÍ họ mới đọc đúng được.

Nhưng cái sai của các cụ thì thường không sai nhiều: Hài (Sông) = Hà.

Nhưng có một số danh từ, các cụ đọc khác hẳn, khác như Trắng với Đen, khiến ta phải thắc mắc.

Chúng tôi đã tìm cách giải thích về hai tiếng PÍN bị đọc là TÂN và TU bị đọc là ĐỘC thay vì TỦ (cái tủ). Nhưng không lấy gì làm chắc.

Một lối giải thích nữa của chúng tôi thì chắc đúng 100% DIỄN là MÂY bị đọc là VÂN. Vân là Awan vốn tiếng Mã Lai có nghĩa là Mây. Đó là Mandi Quảng Đông và Việt để kháng Tàu.

Mỗi ngày chúng tôi mỗi tìm tòi, và chúng tôi tìm được thêm một sự thật nữa về

Xửa = Thiệt (cái lưỡi)

Tại sao Xửa không bị đọc sai là XƯA, là XỬA là XỪA là SƠ, v.v. mà bị đọc là THIỆT?

Không có gì lạ cả? Người Việt cổ gọi cái lưỡi là PIÊT. Tổ tiên ta đọc XỬA là THIỆT là tiêu cực để kháng Trung Hoa, chớ không phải là đọc sai.

Vậy lối giải thích của chúng tôi trong quyển sử, chưa chắc đã đúng. Chúng tôi cho rằng các cụ đọc PÍN của Quan Thoại, là Tân, có lẽ vì kiêng tên một người trong hoàng tộc Việt Nam, sau này ta thu hồi độc lập, chớ không thể nào mà các cụ nhà Nho lại đọc sai quá xa như vậy. XỨA đọc là THỰC tức chỉ sai chút ít mà thôi, luôn luôn như vậy, nhưng có một số danh từ bị đọc sai một trời một vực, như Xửa = Thiệt.

Ta đã biết rằng vua Hùng Vương nói khá giống người Khả Lá Vàng hiện nay:

Ai = Tôi
Aka = Cá

Và hiện nay thì:

Khả Lá Vàng: Piêt = Lưỡi
Mạ: Lapiết = Lưỡng
Jêh: Alpiat = Lưỡi
Sơ Đăng: Rpê = Lưỡi

Đó là các nhóm thuộc chi Trãi. LƯỠI chỉ là danh từ của chi Mã, vì ở Việt Nam có ba chi Lạc sống hỗn hợp với nhau, danh từ riêng của ba chi cạnh tranh nhau, chi Trãi đa số, nhưng đôi khi danh từ của họ cũng bị danh từ của hai chi khác lấn lướt.

XỬA là LƯỠI bị đọc là THIỆT là vì thế, còn tại sao XƯA là ĐẦU GỐI lại bị đọc là TẤT? Cũng cứ vì tiêu cực để kháng vì danh từ Mã Lai là LUTÚT mà chắc hồi cổ thời ta nói là LUTẤT nên ta mới để kháng bằng cách đọc XUA là TẤT. Vậy BÍT TẤT là danh từ kép gồm toàn tiếng Việt, chớ không phải là một tiếng Việt và một tiếng Tàu.

Ngộ nghĩnh lắm là người Nam Dương sáng tác tên cho món vật dụng đó thì không nói là BÍT LUTÚT mà lại nói là QUẦN CỦA CẲNG. Tuy nhiên thấy rõ là họ đồng tâm hồn với ta, mặc dầu sáng tác khác. Quần của cẳng vẫn bít cái TẤT (Bít tất đời xưa lên khỏi gối, mà cho cả đến nay, bít tất phụ nữ cũng thế).

Người Tàu chánh gốc, nói máu là XẸ. Nhưng tại sao Quảng Đông và Việt không đọc sai là XÉ là XÈ, là XẺ mà lại đọc là HUỴT là HUYẾT. Cũng cứ là vì tiêu cực để kháng vì tiếng Thái, máu, nói là LƠÁD. Đó là Thái ngày nay chớ Thái đời Tần thì gọi là HƠAD, thế nên họ mới đọc xỏ lá XẸ là HUỴT. Ta là Việt, ta cũng để kháng, nhưng không đọc là MAU mà đọc là HUYẾT và đọc theo Thái chơi cho vui vì đó là lân bang bà con mà ta thạo ngôn ngữ.

Cứ cái đà đó mà tìm, ta sẽ biết các nhà nho ta đọc nhiều tiếng Tàu sai quá sức tưởng tượng HÙNG bị đọc là HỒNG thì quá dễ hiểu vì nó chỉ sai tí ti thôi. DÍL bị đọc là YÊN tuy hơi xa nhưng còn nối kết được, chứ như TU mà đọc là ĐỘC thì hẳn phải có lý do như THIỆT và TẤT.

Ta có thể bạo gan nói rằng ta đã biết chế tạo cái TỦ và ta gọi CÁI TỦ bằng tiếng Việt là ĐỘC, và ta đọc chữ TU của Tàu là ĐỘC vì lý do tiêu cực để kháng.

Trong cổ vật Đông Sơn không hề có cái tủ, nhưng tủ bằng gỗ thì làm thế nào mà còn được để cho các nhà khai quật tìm thấy.

Nếu không cắt nghĩa như vậy thì không sao hiểu được sự kiện các nhà nho ta viết chữ TU mà lại đọc là ĐỘC.

Chúng tôi nói Khả Lá Vàng gọi cái lưỡi là PIÈT, nhưng Việt Nam hẳn phải đọc khác hơn một chút là THIỆT, vì đã có bằng chứng ta đọc khác Khả Lá Vàng.

Việt Nam Khả Lá Vàng
Trai Trùi
Gái Guôi
Mắt Mat
Bắp vế Bốk
Óc H’tóc
Uống Óc
Ăn An
Bố Bo
Mẹ, Mợ

Có những danh từ, không phải là tiếng Tàu chút xíu nào hết. Thí dụ BẤT của Nam Kỳ có nghĩa tương đương với BÁC của miền Bắc. Đó là động từ của Lạc bộ Mã: Batal.

Nhưng chỉ riêng người Nam lầm tưởng của Tàu, vì người Bắc không có dùng động từ BẤT đó.

Trạng từ sau đây thì toàn quốc đều lầm: TẤT

TẤT là HẾT là XONG là tiếng Tàu
TẤT là ẮT HẲN là tiếng Tàu
Nhưng TẤT CẢ là tiếng Lạc bộ Mã
TẤT TẢ, TẤT TƯỞI là tiếng Lạc bộ Trãi

THỎA không là tiếng Tàu như ai cũng tưởng mà là tiếng Lạc bộ Mã. Đó là trùng hợp ngẫu nhiên với Tàu.

Nhiều học giả Việt Nam, hễ thấy tiếng ta hơi hơi giống tiếng Tàu, liền quả quyết rằng là ta học của Tàu.

Trong quyển sử, chúng tôi đã đưa ra một lối phủ nhận có chứng tích là tĩnh từ XA bị nhiều ông cho rằng do HÀ của Tàu mà Quan Thoại đọc là XÁ có nghĩa là XA. Quả đúng là Quan Thoại có XÁ bị các nhà nho ta đọc là HÀ.

Nhưng Lạc bộ Chuy có CHXANGAI là Xa, mà chắc một trăm phần trăm không phải học của Tàu vì âm X của Tàu len vào ngôn ngữ Lạc bộ Chuy đều biến thành Tàu hết, không có ngoại lệ. Thí dụ XÉ của Quan Thoại bị biến thành TE của Cao Miên thì XÁ của Quan Thoại phải bị biến thành TANGAI, chớ không thể thành CHXANGAI được.

Nam Dương lại có SANGAT, đồng gốc với CHXANGAI. Chàm thì có HATAH, Sơ Đăng có Sak, Rôgai có ATA, Khả Tu có Atagh.

Các ông lại cứ quả quyết rằng GẦN do CẬN của Tàu mà ra, nhưng Nam Dương lại có ĐƠNGAN mà tiền sử học thì quả quyết rằng Lạc bộ Mã không có chịu ảnh hưởng của Tàu. ĐƠNGAN bị toàn thể đồng bào Thượng bỏ âm sau, chỉ nói ĐƠN. Việt Nam rủi ro bỏ âm đầu, nói GẦN hóa ra bị tình nghi là ăn cắp của Tàu. Nhưng cái âm sau đó, bị Chàm biến thành GEK thành thử Chàm không bị tình nghi. Nhưng GẦN của Rađê là GĂM khiến các ông rất tức giận mà không lôi kéo Rađê vào Tàu và Việt được vì họ ở cách xa Tàu và Việt và các dân tộc sống giữa họ và Việt lại không nói GĂM, GAN gì cả để mà cho rằng Việt làm trung gian giữa Tàu và Rađê.

Các ông lại quả quyết rằng ĐÈN của Việt do ĐĂNG của Tàu. Nhưng Tàu đọc Đăng là TẨN chớ không có đọc là Đăng như các cụ nhà nho. Vả lại đèn La Mã đầu Tây lịch đã tìm thấy ở Cao Miên, đèn Trung Hoa đời Hán đã tìm thấy ở bên Tàu đều 10 lần xấu xí hơn đèn Đông Sơn thì có lý nào ta lại học với kẻ kém hơn ta.

Các ông lại lôi kéo CHU của Tàu vào CHUA của Việt, nhưng CHU của Tàu thì Tàu đọc là XỦ mà không có nghĩa là Chua mà là GIẤM, trong khi đó thì:

Việt Nam: Chu = Chua
Cao Miên: Môchu = Chua
Sơ Đăng: Chôu = Chua

Nam Dương: Chuka = Chua Cay (chỉ vẻ mặt)

Các ông bảo RƯỢU do TỬU của Tàu mà ra, nhưng trên Cao Nguyên các nhóm Lạc bộ Trãi chưa hề thấy mặt người Tàu đều có rượu và gọi món đó là :

Sơ Đăng: Trôu (giống rượu ở âm sau)
Mạ: Rơnơm (giống rượu ở âm trước)

HÀM của Tàu chỉ là Ngậm trong miệng còn Hàm là cái Hàm là tiếng Mã Lai:

Nam Dương: Robang = Hàm
Nam Dương: Keng = Càm

Mạ và các phụ chi: Cang

Các ông bảo TRÀ là tiếng Tàu, nhưng TRÀ lại là tiếng Thái của dân Tây Âu, CHÈ là tiếng Lạc của dân Thất Mân.

TÀM cũng là tiếng Lạc của dân Thất Mân. TÂN LANG là cây cau của Tàu, viết thành chữ thì hoàn toàn vô nghĩa, mà họ đọc là Pấn lạn, mà tiếng Mã Lai là Pin nang, Chàm nói là Nâng, Việt là Nang (Mo nang= Mo cau)

Tóm lại:

Đồ bên Tàu các chú đem qua
Mì bên Tàu các chú bày ra

(Bài ca Nam Kỳ điệu Khổng Minh tọa lầu, có tánh cách đùa cợt bọn mê Tàu rất thạnh hành từ năm 1900 đến 1930).

Chương XVII - Trời và ngày

Bạn Nguyễn Mạnh Côn cho biết rằng người Nhựt chỉ Trời bằng danh từ ngoại quốc mà họ đọc là SORA. Đành thế. Nhưng chúng tôi đâu có đối chiếu các ngôn ngữ khác, mà chỉ đối chiếu Mã Nhựt thôi.

Người Nhựt có hằng tá danh từ Trời mà một là của Ấn Độ: SAMA, nhưng họ lại dùng sai. SAMA của Ấn chỉ trỏ VÒM TRỜI, còn họ thì dùng để chỉ ÔNG THIÊN, và tại sao họ sai, chúng tôi xin giải thích.

Trong quyển sử của chúng tôi, chúng tôi có để lộ ra một mâu thuẫn lớn:

I) Chúng tôi cả tin vào tiền sử học.

II) Mặt khác chúng tôi lại bác tiền sử học, họ cho rằng nhóm Nhựt bộ Mã từ Nam Dương đi lộn trở lên Nhựt để cướp ngôi của nhóm Lạc bộ Trãi đã có mặt ở đó từ hơn 2.500 và đã dựng nước rồi.

Vì điểm sử đó không liên hệ đến ta, nên nếu có sai cũng không sao, và chúng tôi cố ý sai để chờ đợi một cuộc bắt bẻ về sự mâu thuẫn đó. Khi một điểm sử có mâu thuẫn, thì điểm sử ấy phải sai. Khi kẻ cả tin vào tiền sử học, lại nói rằng tiền sử học sai, thì phải bắt bẻ kẻ đó. Nhưng không có ai bắt bẻ chúng tôi về mâu thuẫn đó cả, mặc dầu tám tháng đã qua rồi, thành thử nay chúng tôi xin trình ra sự thật: tiền sử học đúng. Nhưng sách tiền sử học không dịch ra đây được thì chúng tôi ủng hộ tiền sử học bằng ngôn ngữ, và trong sách nầy tài liệu ngôn ngữ tìm được chỗ đứng hợp lý.

Khoa khảo tiền sử có thể thiếu sót mà không thể sai. Họ có chứng tích hẳn hoi nên họ mới dám viết như thế.

Nhưng dĩ nhiên là họ không có chứng tích ngôn ngữ như chúng tôi, và đây là loại chứng tích ấy.

Nhựt Bổn, từ Nam Dương đi Nhựt RẤT TRỄ mãi sau khi tiếp nhận văn minh Ấn Độ rồi, mới đi, bằng chứng là trong Nhựt ngữ đầy dẫy tiếng Ấn Độ:

Sama = Trời
Macham → Michi = Đường đi
Nama → Namê →Na = Tên

Dĩ nhiên là vừa mới vay mượn, chưa kịp tiêu hóa là họ ly khai, nên chi họ dùng sai. SAMA của Ấn Độ chỉ có nghĩa là VÒM TRỜI, bị Nhựt hiểu là ÔNG THIÊN. Còn MACHAM chỉ có nghĩa là ĐƯỜNG TINH THẦN y như chữ ĐẠO của Trung Hoa, lại bị Nhựt biến thành ĐƯỜNG ĐI: Michi.

Ta tự hỏi họ đi làm gì và tại sao họ biết có Lạc bộ Trãi ở đó, để mà tới đó.

Họ không biết gì hết, tại thuận buồm xuôi gió vào mùa Nồm thì họ tới Nhựt, chỉ có thế thôi, còn lý do ra đi của họ là vì tôn giáo.

Quả thật thế, người Nam Dương đã mất luôn tôn giáo thờ Bà Trời của đại khối Mã Lai, vì đạo Bà La Môn xen vào quá mạnh. Cho tới ngày nay, họ còn đúc nhưng lưỡi gươm y hệt như người Đông Sơn, mà họ gọi là LAĐAI, nhưng họ chẳng còn biết đến Trời nữa, trong khi đó thì các thần xã ở Nhựt còn nguyên vẹn, giống đình của ta, và Thần Đạo, tôn giáo của chủng Mã Lai, còn được Thiên Hoàng thờ, mặc dầu Phật giáo ở Nhựt rất mạnh.

Hiện nay ở Nam Dương chỉ còn giống ta có cái ao cá và lũy tre làng, còn thì tôn giáo và cảm nghĩ đã hết từ khuya.

Thế nên sử Nhựt chép rằng vua đầu của Thiên Hoàng lên ngôi 5, 6 trăm năm trước Tây lịch, bị sử gia Âu châu thụt lại tới đầu Tây lịch là đúng khít nút. Lên ngôi một ngàn năm trước đó là các ông vua lon con của Lạc bộ Trãi, họ chưa thống nhứt như Hùng Vương nên mới bị bọn sau nuốt hết. Những ông vua ấy, Nhựt hoàn toàn bí, chỉ có sử Tàu là biết lõm bõm mà thôi. Bọn ấy cũng đã văn minh rồi nhờ dân 127 huyện Tàu di cư ra, nhưng cứ thua, vì như đã nói, họ chưa thống nhứt.

Bọn đi Madagascar và Trung Mỹ, chắc chắn là cũng vì lý do tôn giáo, và quả thật đến Trung Mỹ họ gặp bọn Trãi ở đó và hai đàng tiếp tục thờ Trời (và mần thịt người để tế thần y hệt như bọn Đông Di và Nam Man mà Tống Ngọc đã tả).

Quí vị đã thấy, chứng tích ngôn ngữ không có kém chứng tích tiền sử học chút nào hết. Nếu chúng tôi không có đọc tiền sử học mà biết tiếng Ấn và tiếng Nhựt thì cũng đi tới cái kết quả mà tiền sử học đã tới. Hơn thế, chúng tôi tới xa hơn là chúng tôi biết Lạc bộ Mã có ghé Đông Pháp lập ra Lâm Ấp và Phù Nam, còn tiền sử học thì không biết điều đó.

Nhờ ly khai, nên Nhựt giữ được đạo thờ Bà Trời của chủng Mã Lai:

Hiện nay tại Hòn Chén (Ngọc Trản) ở Huế, ta có đền thờ Thiên Y A Na mà xem ra thì đó là tôn giáo Đồng Bóng có tánh cách tương tự như các đền thờ ở đất Bắc.

Tên thánh gồm một chữ Nho “Thiên”, ghép lại với một danh từ Mã Lai Y A Na có nghĩa là Mẹ:

Ra đê: Ana
Giarai: Ina
Chàm Kim: Ina
Nam Dương: Inang
Nam Kỳ trung cổ: Áng na
Việt Nam cổ thời: Nạ
Cổ ngữ Tây Âu: Nả

Người thờ, không giải thích được minh bạch Thiên Y A Na là gì, nhưng ta hiểu được đó là một danh xưng hỗn hợp Hoa Chiêm, Chiêm đây là Cổ Chiêm Thành, chớ Chàm hiện kim nói Ina, chớ không nói Y A Na. Vậy Thiên Y A Na là Mẹ Trời, tức Bà Trời, mẹ của muôn loài, theo tôn giáo thờ Trời của chủng Mã Lai (chớ không phải thờ Mặt Trời, và Mặt Trời ở trống đồng chỉ là tượng trưng).

MẸ thì hiện nay Đại Hàn còn chỉ bằng danh từ Ô-Mô-Ni mà Ô-Mô-Ni không xa nhưng danh từ trên đây một cách đáng kể, nếu dựa vào luật biến dạng kì khôi của Swadesh. Năm ngàn năm đã qua rồi thì một danh từ đã biến nát hết, X có thể biến ra Ô-Mô-Ni, Ina, Y A Na, v.v.

Nhựt Bổn chỉ mẹ bằng danh từ HAHA. Nhưng cách đây hai ngàn năm, hẳn là không phải là HAHA mà là cái gì đó.

Truyền thuyết Nhựt Bổn, được ghi chép lại trong bộ Cổ sự ký, tập I, có nói đến cặp bán thần là IZANA EM GÁI, hai vị bán thần nầy là hai anh em ruột, con của Bà Trời Thiên Chiếu.

Hai tên thần trên đây là viết theo chữ La Tinh, chứ viết theo chữ Nhựt thì sẽ đọc ra là Y-DA-NA.

Y-DA-NA rất gần Y-A-NA ở Ngọc Trản, mặc dầu hai vị thần đó là con, chờ không phải là Mẹ Trời. Nhưng hai người con đó là con đối với thượng giới, chớ vẫn là Mẹ (cha mẹ) đối với loài người.

Văn tự của thời quyển KOJIKI ra đời là văn tự của năm 714, việc kí hiệu chưa ổn định, truyền thuyết lại mù mờ, nên ta không thể biết chắc gì hết, nhưng không sao ta không thấy sự liên hệ giữa Y-A-NA ở Huế và Y-DA-NA ở Nhựt, liên hệ về hình dáng của danh từ và ý nghĩa của danh từ, cả hai hình thức đều cho thấy ý niệm MẸ TRỜI, và cả hai hình thức đều cho thấy ngôn ngữ của Lạc bộ Mã (Chàm và nhóm Thiên Hoàng) không khác nhau bao nhiêu từ năm 741 S.K. Đến năm đền Ngọc Trản được xây cất lần đầu, cái lần đầu đó, không còn ai biết là vào năm nào, và tại đâu, bởi không chắc lắm là tại hòn Ngọc Trản ngày nay, nhưng chắc chắn là không thể trước thời Hồ Quý Ly, người đã chiếm đất Chàm cho tới Chiêm Động (Quảng Nam), tức vào mạt điệp nhà Trần của ta, giữa thế kỉ 14.

Từ năm 714 đến đời Hồ Quý Ly thì một ngàn năm đã qua, và danh từ bị biến dạng Y-A-NA đến Y-DA-NA và vừa đúng theo luật Swadesh, tức chỉ mới biến có một lần.

Cũng nên biết điều nầy là người Chàm có ngôn ngữ y hệt như Nam Dương, tức y hệt như nhóm Thiên Hoàng từ Nam Dương di cư lên Nhựt. Nay ta thấy đã khác, không phải vì có sự biến dạng theo luật Swadesh, mà vì người Chàm mà thiên hạ biết, tức Chàm Ninh Thuận, không phải là người Chàm, mà chỉ là người Phù Nam. Sử Chàm chưa được viết đúng ở đoạn nào cả. Nhìn vào các địa danh Chàm ở miền Trung, ta thấy nó giống hệt Nam Dương mà rất khác Chàm nay. Chàm nay nói MƯ TAI = Chết, nhưng địa danh lại là MATI = Mất.

Không thể bảo rằng có sự biến dạng theo luật Swadesh, vì luật ấy chỉ nói đến 20% danh từ trong một thời gian là một ngàn năm, nhưng ở đây thì biến đến 100%.

Tóm lại tôn giáo thờ Bà Trời, Mẹ Trời của chủng Mã Lai (ít lắm cũng là Mã Lai đợt II, tức Lạc bộ Mã, tức Austronésiens) là một tôn giáo có tánh cách duy nhứt vào cổ thời, chớ không phải là những tin tưởng tạp nhạp chưa thành hệ thống như nơi các dân tộc cổ sơ khác, và nhóm ly khai khỏi Nam Dương để đi Nhựt Bổn có lý do mạnh mà ly khai vì tôn giáo.

Bọn Lạc bộ Trãi có thờ Bà Trời hay không thì không còn dấu vết gì để ta dám xác nhận hay phủ nhận. Trên thế giới, chỉ có ta mới kêu “Trời ơi!” mỗi lần kinh sợ hay than thở, nhưng ta có sống chung với Lạc bộ Mã, thành thử cũng có thể nói là ta bị ảnh hưởng, mà không dám chắc là ta đã thờ Trời. Nhưng Lạc bộ Mã thì chắc 100%.

Danh từ Trời của Đại Hàn gồm thêm từ NIM mà Nim vừa có nghĩa là Ông, là Bà. Đại Hàn là Lạc bộ Trãi, mà họ gọi Trời như thế, cũng có thể tin rằng Trãi cũng thờ Trời, nhưng không chắc gì hết vì đó là chứng tích rất mong manh.

Thần đạo, tôn giáo chánh của người Nhựt, đã bắt đầu suy từ thời Nại Lương vì ảnh hưởng Phật giáo quá mạnh. Tuy nhiên người Nhựt cứ giữ và xem đó là tôn giáo chánh thức vì chủ bái là Thiên Hoàng.

Đạo Phật một ngàn lần thịnh hơn, từ đó đến nay, nhưng không hề được hưởng tư cách tôn giáo chánh thức mà chỉ được nhà vua bảo trợ thôi.

Và trong Thần đạo, cứ là Bà Trời và anh hùng dân tộc được thờ phượng, hơi khác ta một chút xíu là ta không còn Bà Trời, nhưng rất giống Bắc Việt là luôn luôn đền thờ cất theo kiến trúc thượng cổ của chủng Mã Lai là nhà sàn.

Một dân tộc giữ đạo như thế, hẳn phải mang cả danh từ, danh xưng HARI theo họ trên bước đường di cư thứ nhì, ngược chiều với bước di cư thứ nhứt, và dĩ nhiên HARI không còn là HARI nữa, vì hai ngàn năm đã qua rồi, luật Swadesh đã chi phối HARI đến hai lần là ít: HARA HI.

Quyển sử của chúng tôi quá dày nên khi in, phải chặt bớt, hóa ra nhiều điểm, nói không hết lời. Đối chiếu ngôn ngữ trong đó chỉ là chuyện phụ thuộc. Ở đây chúng tôi xin trình bầy rõ rệt về danh từ Trời.

Trước hết, đại khối Mã Lai chỉ có một danh từ độc nhứt để chỉ ba ý niệm:

Vòm trời
Ông trời
Mặt trời

Các nhóm Mã Lai kém mở mang ở rừng núi hiện đang còn dùng như vậy. Thí dụ người Sơ Đăng chỉ có danh từ HAI để chỉ ba món kể trên.

Các nhóm văn minh thì có hai ba danh từ:

  1. Vòm trời
  2. Ông thiên và Ngày
  3. Ngày
  4. Mặt trời

Nhưng không phải nhóm nào cũng có đủ số 4, riêng Nhựt thì có hàng chục với lối vay mượn xô bồ và vô ích của họ là lối biến nghĩa kỳ dị của họ. Thí dụ KAMI chỉ là đại danh từ mà Thần Nam Dương dùng để xưng ta với loài người thì Nhựt biến thành ÔNG THẦN. Đó là chỗ biết riêng của chúng tôi. Nhưng tự điển Pháp-Nhựt còn dịch kỳ dị nữa: Kami = Thần, Kami = Tạo hóa. Thế thì họ lại biến cả Kami là Ông thiên nữa, chớ không riêng gì SAMA và SORA.

Nhưng tất cả những danh từ Trời, Vòm Trời, Mặt trời, đều do một danh từ độc nhứt hồi thượng cổ mà ra, đó là danh từ HANA hoặc HANAL, hoặc HAI chớ không phải HARI hoặc HARA gì hết.

Tiếng Đại Hàn có những danh từ sau đây:

Hananim = Ông trời
Hanul = Vòm trời
Hai = Mặt trời
Nal = Ngày

HANA là số 1, NIM = ÔNG. Hananim = Ông số 1 = Ông trời = Vị thần to nhất của chủng Mã Lai thờ mặt trời (theo Tây, nhưng theo chúng tôi thì là thờ Ông trời, hoặc Bà trời tùy theo nhóm mẫu hệ hay phụ hệ)

Cái ông số 1, đẻ ra vòm trời : HANUL, đẻ ra mặt trời : HAI, đẻ ra NAL.

Đại Hàn là đầu đàn của Lạc bộ Trãi trên thế giới, và Sơ Đăng là đầu đàn của Lạc bộ Trãi trong lãnh thổ Việt Nam, thế nên hai anh đầu dọc ấy có danh từ trùng hợp với nhau, nhưng Sơ Đăng nghèo nàn hơn vì kém mở mang:

Sơ Đăng

Hai = Ngày
Hai = Mặt trời
Hai = Vòm trời

Hai anh khác, cũng cứ trong lãnh thổ Việt Nam giữ cái khoen nối kết thứ nhì:

Mạ và Xi Tiêng

Nar = Mặt trời
Nar = Vòm trời
Nar = Ngày

(người Mạ đã tiến đến hình thức Ngai= Ngày)

Ta thấy rõ là HANUL đẻ ra NAL ở Đại Hàn, và NAL Đại Hàn đẻ ra NAR.

Danh từ HAI và NAR vô cùng quan trọng vì nó cho thoáng thấy HARI của Câu Tiễu, của Nam Dương.

HAI đẻ ra HARI được, mà NAR cũng đẻ được nhờ âm AR, âm nầy có mặt trong HARI.

Thế thì HARI của Nam Dương không là gốc tổ, nhưng trong quyển sử, chúng tôi phải dùng HARI làm đối tượng, vì đó là danh từ của dân tộc đang tự xưng là Mã Lai. Chưa ai nhìn nhận Đại Hàn là Mã Lai thì không thể dùng danh từ Đại Hàn để làm cái đích. Hơn thế quyển sử ấy đã quá dày, chúng tôi không thể giải thích dài dòng về độc một danh từ. Một lý do nữa khiến chúng tôi chỉ phớt qua về ngôn ngữ trong quyển sử là vì chúng tôi làm việc, dựa trên tiền sử học và chủng tộc học, mà hai khoa đó chê chứng tích ngôn ngữ nên chúng tôi để dành chứng tích ngôn ngữ cho quyển nầy.

Bọn Trãi di cư đi Nhựt Bổn đồng lúc với bọn Trãi di cư đi Đại Hàn, có lẽ cũng đã nói HANA hồi cổ thời. Nhưng HARA bí mật của Nhựt thì lại không phải do HANA mà ra, mà là do HARI vì bọn lãnh đạo ở Nhựt là bọn Mã, từ Nam Dương di cư lên, và dĩ nhiên là mang theo HARI của Nam Dương.

Đến nơi, họ thắng trận, nhưng bọn Trãi bại trận có văn hóa đã cao lắm rồi, thành thử có sự nhượng bộ phần nào của kẻ thắng trận. HANA không bị tiêu diệt, nhưng HARI phải biến thành HANA để dung hòa, Trãi giữ được âm A cuối, Mã đưa vào được R.

Danh từ HARA của Nhựt được giữ kín, người thường chỉ biết HARA là cái bụng, là đồng bằng, nên khi chúng tôi nói danh từ HARA là ông Trời, ai cũng cho là sai.

Danh từ HARA chỉ có các nhà bác học mới biết, vì đạo thờ Bà Trời hồi cổ thời chỉ có hai quý tộc là họ Imbê và họ Nakatomi là được quyền tế lễ thay cho vua, và mới được nói đến HARA với cái nghĩa là Bà Trời. Dân chúng chỉ biết HARA là cái bụng, là đồng bằng.

Hiện nay hai họ đó đã tàn lụn, và Thiên Hoàng giữ độc quyền tế lễ và dân chúng tiếp tục không biết HARA.

Nhựt giữ kín HARA, nhưng vẫn sáng tác các danh từ khác, mà sáng tác hằng tá, hằng lô, với ngữ căn HARA bí mật đó.

HIRU, biến dạng của HARA, được mở đèn xanh, ai muốn dùng, tha hồ mà dùng.

HI, một sự co rút của HIRU cũng được mở đèn xanh.

Nhiều người biết tiếng và chữ Nhựt Bổn cứ nói rằng HI do NHỰT của Trung Hoa vì quả sách Nhựt Bổn viết chữ HI bằng văn tự Trung Hoa là NHỰT mà không viết bằng văn tự của họ. Đó là một việc làm kì cục của Nhựt vì đáng lý gì HI, danh từ quốc ngữ của họ, họ phải viết ra bằng văn tự quốc ngữ, chớ sao lại viết bằng chữ Tàu để gây ngộ nhận?

Chúng tôi e rằng người Nhựt đã quên danh từ của họ nhiều hơn ta, sự quên mà chúng tôi đã nói đến nhiều ở Chương II và chính họ cũng tưởng HI do Nhựt của Trung Hoa, nên họ mới viết chữ NHỰT để dịch chữ HI, mà không viết bằng quốc ngữ Nhựt Bổn, trong khi đó thì NHỰT BỔN rõ ràng được đọc là NIHON chớ không là HIPON.

Nhựt dụng = NICHIYOO
Nhựt Bổn = NIHON
Nhựt dạ = NICHIYA
Nhựt Mỹ = NICHIBEI

Chúng tôi thấy hiện tượng kì dị ấy xảy ra ở nhiều danh từ, thí dụ danh từ SÁN (xơ mít) của Lạc bộ Trãi, họ nói SANA, thì không có gì lạ, nhưng lạ lắm là thay vì viết SANA bằng quốc ngữ Nhựt, họ lại viết ra bằng chữ Tàu. Còn SAN HÔ là tiếng Tàu 100% lại không được viết bằng Hán tự mà lại được viết bằng Hiragana. Họ làm việc kỳ cục như vậy, khiến người nước khác, học ngôn ngữ của họ, không còn biết ngữ nguyên ra sao cả, mà có thể chính họ cũng quên chăng, họ mới viết HI= Nhựt?

Tại sao SUIĐÔ được viết bằng hai chữ Hán THỦY và ĐẠO, còn SAN HÔ thì lại viết bằng Hiragana thì thật chẳng biết đâu mà mò.

Sự thật thì danh từ NHỰT của Trung Hoa, Nhựt Bổn đọc là NI, chớ không là HI. Cái mà họ đọc là HI chỉ là sự co rút của HARA và HIRU.

Họ có hằng tá danh từ do HARA và HIRU đẻ ra.

HARAMA = Trời trong sáng sau cơn mưa
HARERU = Trời sáng
HARESHON = Vòng sáng quanh mặt trời
HARU = Xuân (Mùa mặt trời)
HI = Mặt trời
HIASHI = Ngày thu ngắn
HIATARI = Phơi trải dưới ánh mặt trời
HIBOSHI = Phơi khô
HIDAMARI = Nơi được mặt trời hong cho ấm
KARARI = Trời trong
ASAHI = Mặt trời mọc

Nhưng ta chỉ cần biết là Nhựt đã biến HARI thành HARA, được giữ bí mật vì lý do tôn giáo, còn thường dùng thì:

1) Hi = Mặt trời, tương đương với Matahari

2) Hi = Ngày, tương đương với Hari

Vòm trời ( Fimrament) được chỉ bằng SARA.

Tuy nhiên, như đã nói, tiếng Mã Lai Nam Dương cứ còn rơi rớt lại đó đây nên ta mới nối kết giùm họ được. Thí dụ họ biến:

Nam Dương: KAKI
Chàm: TCAY
Việt Nam: CẲNG
Nhựt: ASHI

Nhưng KaKi còn nguyên vẹn trong ngôn ngữ Nhựt, trong danh từ MIZUKAKI = Cẳng nước = Cẳng có bẹ (Palmipède)

Thế nên chữ HARE, những HI của họ, ta mới biết do đâu mà ra, mặc dầu họ dấu biệt HARA.

Trên Cao Nguyên, người Sơ Đăng chỉ có độc một danh từ là HAI để chỉ ngày, Ông trời, và Vòm trời, và chính Hai đẻ ra HARI và TAGAY, Tagay đẻ ra NGÀY của ta.

Thế nên chúng tôi mới trình ra xâu chuỗi Hari = Trời, trong khi HARI chỉ là NGÀY của Mã Lai Nam Dương.

Tuy nhiên chúng tôi có nói rõ trong quyển sách đó rằng Nam Dương vẫn có dùng HARI trong một trường hợp độc nhứt để chỉ VÒM TRỜI. Đó là danh từ MẶT TRỜI của họ, họ nói là Matahari.

Thế thì Ngày với Trời đã bị đồng hóa ở khắp các địa bàn Mã Lai vậy.

Chúng tôi thấy nhiều xã hội Lạc không có danh từ Vòm Trời, chớ đừng nói là danh từ Ông Thiên là chuyện cao xa. Cả Vòm Trời, lẫn Ngày đều được gọi chung y như nhau. Nhưng các nhóm đã lập quốc thì có phân biệt hẳn hoi:

Nam Dương: Hari = Ngày – Langít = Vòm trời
Châu Giang: Hari = Ngày – Langít = Vòm trời
Chàm Ninh Thuận: Hray = Ngày – Lingik = Vòm trời
Chàm Bình Thuận: Hrơy = Ngày – Lingik = Vòm trời

Cao Miên biến Langít thành LÔ NGHỊT và chỉ TRỜI CHIỀU, còn Việt Nam cũng lập quốc, cũng văn minh, nhưng ta biến một danh từ thành hai danh từ, chớ không có sáng tác thêm danh từ thứ nhì, hoặc cũng có dùng Langít y như Cao Miên, nhưng đã đánh mất rồi.

Và xâu chuỗi biến dạng như sau:

Đại Hàn: HANA
Nam Dương: HARI
Nhựt: HIRU
Nhựt: HARA
Chàm: HRAY
Chàm: HRƠY
Rađê: HRỤE
Sơ Đăng: HAI
Đại Hàn: HAI

Tới đây, ta đã thoáng thấy NGÀY ló dạng với âm AI của Sơ Đăng và âm AY của Chàm.

Nhưng còn phải qua vài cái khoen nữa, đáng kể nhứt là cái khoen NAR của Xi Tiêng và Mạ. NAR vừa là NGÀY vừa là VÒM TRỜI, lại có sự ló dạng của tử âm N và một mảnh vụn AR của HARI, trong NAR.

Nhưng ta cứ cho Trời đi luôn cái đã rồi mới nói chuyện NGÀY được.

Ta nói HƠRY của Célèbes đi liền sau HORƠY của Chàm Ninh Thuận. Nhưng từ HƠRY đến BLƠNY của Bà Na thì chúng tôi thiếu mất một khoen là khoen HƠNY mà trong xâu chuỗi CÁI LỢI của V.N thì có:

Nam Dương: Lơny
Giarai: Lơni
Việt Nam: Lợi

Nhưng mất một cái khoen, mà cái đà biến dạng đã được sự biến của LƠNY thành LƠI cho thấy, thì ta có thể cho xâu chuỗi tiếp tục được. Vả lại, ta còn tìm được cái khoen BLƠ, ngay trong Việt ngữ. Dưới trào nhà Nguyên (trào Trần của ta) một sứ giả Trung Hoa có phiên âm một mớ danh từ Việt Nam. Ta thấy rằng họ phiên âm đúng hết, thí dụ: CHẲNG LÀNH họ phiên âm thế nào mà Quan Thoại thì nghe na ná như CHẲNG LÀNH, nhưng các nhà nho ta đọc hai chữ phiên âm đó là CHƯƠNG LĨNH. Như vậy ta có thể dùng cái bản phiên âm đó được để biết danh từ TRỜI của ta dưới đời nhà Trần ra sao.

MẶT TRỜI được phiên âm là BỘT MẠT. Đây là sự lầm lẫn về cú pháp của một sứ giả có cú pháp là Thiên Diện, Nhân Diện, v.v. Sự thật thì phải là MẠT BỘT.

MẠT là MẶT, không có gì rắc rối cả. Bột thì hơi phiền. Cái chữ Nho BỘT ấy, Quan Thoại đọc là PÔ.

Sao ta lại nói MẶT PÔ? Không, ta không nói MẶT PÔ còn vị sứ giả ấy cũng đã chứng tỏ biết cách phiên âm đúng. Ông ta chỉ không đúng vì có một âm Việt không thể phiên âm đúng đó là BLƠ.

BLƠ là cái khoen mà Pháp gọi là Antérieur immédiat de BLƠNY.

(Cũng nên biết rằng ngay trong biểu phiên âm đó, danh từ MẶT TRĂNG cũng đã được phiên âm là PHÙ BỘT MẠT, tức MẠT PHÙ BỘT. Mạt là Mặt. Phù thì họ đã dùng để phiên âm lu bù tiếng Việt:

B’ Nam = Phù Nam
Blù = Phù = Trầu
Chăm Pu Lô = Chiêm Phù Lao (Cù lao Châm)

Mặt khác, các quyển sách Tây xưa cũng có ghi chép rằng danh từ TRĂNG của ta xưa là Bulăng.

Cái đời xưa đó, chỉ là thế kỉ 18. Nhưng nhà Nguyên lại cai trị vào thế kỉ 13, và có thể 500 năm trước khi nói Bulăng, ta nói khác hơn là Bublơn chẳng hạn.

BU được phiên âm là PHÙ, còn BLƠN cũng cứ là BỘT, chính vì không thể phiên âm BL được nên ở cả hai danh từ, kẻ ấy đều dùng danh từ PÔ để diễn tả BL).

Đại Hàn: HANA, HANUL
Nam Dương: HARI
Nhựt: HARA
Nhựt: HIRU
Chàm: HRAY
Jêh: HOERÒÉ
Chàm: HRƠY
Célèbes: HƠRY
Việt Nam đời Trần: BUƠ
Bà Na: BLƠNY
Rôglai: HURƠI
V.N Trung cổ: BLỜI
V.N hiện kim: TRỜI
Các phụ chi Mạ: TROK, TRỒ
Mạ: TRÔ

Sự mọc đầu, mọc đuôi thình lình, đã có xảy ra thì chưa chắc đã thiếu một cái khoen giữa HƠRY và BLƠNY.

Ta bước sang NGÀY.

Danh từ NAL là NGÀY của Đại Hàn và Nar là NGÀY của Xi Tiêng, tuy khá giống nhau, nhưng cơ cấu lại khác hẳn.

NAL chỉ là sự co rút của HANA.

NAR lại là một cuộc chuyển mình lớn lao của HANA để biến sang HARI và NGÀY với các mảnh AR cuối, và mảnh N đầu.

Chúng ta đã thấy cứ bằng vào phương pháp lấy lửa thì người Xi Tiêng cổ sơ nhứt trong khối đồng bào Thượng. Thế thì họ là Trãi đồng hạng với Trãi Đại Hàn và chính họ đã chuyển bụng đẻ cho cái bào thai HANA đẻ ra một cặp song sinh chưa thành hình hằn: Ngày và Hari. NA báo hiệu Ngày, AR báo hiệu Hari.

Đại Hàn: HAI = Ngày Hanul = Vòm trời
Sơ Đăng: HAI = Ngày HAI = Vòm trời
Mạ và Xi Tiêng: NAR = Ngày NAR = Vòm trời
Đại Hàn: NAL = Ngày

Danh từ của Xi Tiêng rất quan trọng vì nó có mọc đầu N trước nhứt. Còn một mảnh của HARI trong âm AR.

Danh từ Chàm với âm AY cuối và Sơ Đăng với âm AI cuối cũng rất quan trọng.

Thế thì có sự đẻ chửa sau đây:

Sơ Đăng: HAI = Ngày
Xi Tiêng: NAR = Ngày
Lào: NGÊ = Ngày
Roglai: TƠ NGÊ = Ngày
Khả Lá Vàng: T’NGAI = Ngày
Cao Miên: TH NGAY = Ngày
Khả Tu: TANGAAI = Ngày
Jêh: NGAI = Ngày
Mạ: NGAI = Ngày
Kơ Yong: NGAAI = Ngày
Mường: NGAI = Ngày
Việt Nam: NGÀY = Ngày

Một danh từ độc nhất HANA, đẻ ra hai danh từ do một thủ phạm chửa hoang là Xi Tiêng khi họ mọc đầu N thành hình và mọc đuôi R giữ AR và chỉ cả hai thứ bằng danh từ lai căng N + AR.

Chính NAR là đầu đảng của mọi biến dạng khi các dân tộc chẻ hai Nar ra thành N và AR rồi tha hồ gắn đầu, gắn đuôi mới vào. Nhưng đó là sự bí mật của năm tháng u minh, rất khó mà biết thật chính xác.

Hana đẻ ra → N → Đẻ ra đám con Ngày
Hana đẻ ra → AR → Đẻ ra đám con ARI, HARI, HARA.

(Người Cil và người Duan có lẽ còn cổ sơ hơn cả người Xi Tiêng nữa, nhưng chúng tôi không biết ngôn ngữ của hai thứ người đó. Có lẽ cái khoen nối kết thiếu là ở đó).

Cũng nên biết rằng trong Đại Hàn ngữ HANA là ÔNG TRỜI. NAR của Xi Tiêng và của Mạ do đó mà ra. Và HANA là đầu đàn đã biến thành HARI tại Nam Dương rồi Nhựt mang nó từ Nam Dương lên Nhựt và biến thành HARA.

Nhưng quanh đi quẩn lại cũng chỉ có một danh từ độc nhất đã đẻ ra tất cả, mà cái danh từ đầu đàn đó có lẽ là HANA của Đại Hàn.

Đứa con bị giấu giếm là HARA của Nhựt, không ai biết là có, nhưng nó vẫn có. Và đọc Chương nầy rồi thì quý vị đã đọc quyển sử, không còn cho rằng chúng tôi nói bướng khi bảo rằng Nhựt ngữ có Hara = Trời.

Phải biết lịch sử của hai dân tộc độc quyền trong tôn giáo thờ Bà Trời là quý tộc Imbê và quý tộc Nakatomi mới biết có cái danh từ HARA không bao giờ được phép xuất hiện trong sách vở Nhựt Bổn.

Chương XVIII - Việt = Rìu

Xin nhắc rằng trong lúc đang in quyển sử của chúng tôi thì có tin giấy sắp lên giá, nên hai biện pháp được thi hành ngay:

I) Xén bớt, để in cho xong trước khi giá giấy nhảy vọt.

II) In sách quá dày sẽ bán không được, phải làm cho nó mỏng lại.

Thành thử về chủ trương Việt = Rìu, chúng tôi chỉ chừa lại có hai cái hình, chữ Việt đời Thương, đối chiếu với cái rìu Quốc Oai.

Sách nầy là sách ngôn ngữ thì chứng tích ngôn ngữ bị loại ra khỏi quyển sử, được cho nằm vào đây thật là phải chỗ.

Có thể nói là hầu hết đồng bào Thượng đều gọi cái rìu là cái Việt. Còn tại sao riêng Việt Nam lại sáng tác ra tiếng Rìu thì chúng ta sẽ thử giải thích.

Xin nhắc rằng trong quyển sử, chúng tôi chủ trương rằng danh xưng Việt không phải là danh tự xưng. Ta tự xưng là Lai, bị Tàu phiên âm sai là Lạc.

Việt chỉ là danh xưng mà Tàu đặt ra để gọi ta vì ta có một loại vũ khí rất độc đáo. Đó là cái rìu mà ta gọi là cái việt.

Bạn Nguyễn Mạnh Côn phê bình chúng tôi, cho rằng chúng tôi chỉ suy luận mà không có chứng minh gì hết.

Có chứ. Sao lại không có chứng minh. Và riêng về trường hợp Việt = Rìu chúng tôi đã đưa ra hai cái hình, chữ việt nguyên thỉ và cái rìu Quốc Oai. Tuy ít, nhưng vẫn có. Nhưng ở các điểm sử lớn, như về tiền sử học và đối chiếu sọ thì có nhiều.

Và đây là chứng minh bằng ngôn ngữ:

Khách trọ, nhơn chứng là người Mường, gọi ta là dân

YIT: Mường
Cái rìu = YÊIK: Núp, Kâyông
Cái rìu = VÊIK: XI Tiêng
Cái rìu = YƠS: Mạ
Cái rìu = VOK: Mạ (phụ chi)
Cái rìu = VOK: Sơ Đăng
Quan Thoại gọi ta là = YUE

Thế thì vào đời nhà Thương, danh từ VIỆT của chủng ta là một cái gì hơi giống giống với bảy danh từ trên đây, không còn nghi ngờ gì nữa cả, nên đời Thương mới viết chữ Việt giống hệt lưỡi rìu Quốc Oai.

Về sau, lâu lắm, nhiều ngàn năm sau, sau cả thời Đông Sơn, chủng Việt mới phát minh ra một món khác có công dụng y hệt như cái việt, nhưng hình dáng lại khác. Công dụng đó là làm vũ khí và dụng cụ.

Cái món đó, hiện nay người Cao Miên và đồng bào Thượng còn giữ nguyên, còn Chàm và Việt đã biến khác, nhưng Việt biến khác mà cũng đặt tên khác, còn Chàm thì giữ tên cũ.

Hình dáng của món ấy, nếu ai không có đi Cao Nguyên, thì thấy được ở Cao Miên:

Việt Nam: Rào
Chàm: Mra
Mạ: Jal
Cao Miên: Chà (gạc)

Danh từ Rào của Việt Nam, hiện chỉ còn dấu vết trong ca dao tục ngữ xưa:

Thợ rào có cái đe, ông Nghè có bút

Câu trên phải ra đời từ đời nhà Lý về sau, chớ không thể trước đời nhà Lý, vì trước đời nhà Lý chưa có ông Nghè.

Thợ rào tức là thợ chế tạo món Rào và Rào sẽ đẻ ra RÌU, chỉ cái Việt thời cổ, và đẻ ra RÈN chỉ cái việc chế tạo dụng cụ bằng sắt, thép.

RÀO lại đẻ ra RỰA, vì sau đó ta sửa đổi hình dáng cái rào, nó khác cái rào cũ chút xíu, và đó là cái rựa ngày nay. Nhưng rựa chỉ còn là dụng cụ chớ hết là vũ khí như Rào.

Người Chàm cũng làm y hệt như ta, về hình dáng của món đồ nhưng cứ giữ danh từ MRA cổ.

Thế thì cho tới đời Lý mà chủng Mã Lai, riêng trong lãnh thổ Việt Nam, vẫn cứ còn giống nhau, vào thời đó, và giống nhau đến ngày nay nữa, trừ ta ra vì ta đã biến RÀO thành RỰA.

Chương XIX - Nghi vấn về tiếng roi

Hồi tiền chiến, miền Nam có một bài tân nhạc rất thịnh hành, trong đó có một câu ca như thế nầy:

Muôn năm xưa còn roi dấu

Đã bảo miền Bắc mất ngôn ngữ rất nhiều nên dĩ nhiên là tự điển miền Bắc không có chữ ROI đó.

Không rõ tác giả lời ca hiểu thế nào còn dân chúng thì hiểu là “để” dấu.

Tự vị Huỳnh Tịnh Của định nghĩa ROI là NOI (dấu)

Nhưng ngôn ngữ Khả Lá Vàng tiết lộ rằng nó là Việt ngữ cổ thời. ROI có nghĩa là KỂ CHUYỆN XƯA.

Có lẽ chính Huỳnh Tịnh Của đã quên ROI và cũng chỉ đoán mà định nghĩa thôi. Cả miền Bắc đều quên thì Huỳnh Tịnh Của được quyền quên.

Nhưng ta có cảm giác là Khả Lá Vàng đúng.

Khi nghiên cứu danh từ MONOGATARI của Nhựt Bổn, chúng tôi cũng gặp sự bối rối của tự điển Nhựt y hệt như khi họ định nghĩa về KIMONO.

MONO cũng được dịch là VẬT, tức rõ ràng là MÓN.

GATA được dịch là Ngữ, tức đó là KATA của Nam Dương bị biến dạng, và Nhựt còn nhớ nghĩa nên mới dịch đúng là NGỮ.

Nhưng RI thì không được định nghĩa, làm như đó là một cái đuôi mọc chơi vậy thôi.

Toàn khối MONOGATARI lại được định nghĩa là Câu chuyện, Sự kể chuyện, Tiểu thuyết.

MÓN LỜI không sao mà mang ba nghĩa trên được và chính RI mới mang ít lắm là hai nghĩa trên, và Ri đó có nghĩa giống hệt ROI của Khả Lá Vàng.

Nhựt cũng đã quên Roi, y như ta.

Chúng tôi cho rằng trong bọn Lạc Địch di cư đến cổ Việt thì bộ lạc Adôuk đa số. Đó là bộ lạc của vua Hùng.

Còn bọn Lạc Địch ở Nhựt Bổn thì có thể có hai bộ lạc đa số vì ngôn ngữ Nhựt quá giống ngôn ngữ Khả lá vàng và ngôn ngữ Khả Tu:

Khả Lá Vàng Nhựt Bổn
Ki = Cây Ki = Cây
Kita = Hướng bắc Kita = Hướng bắc
Khả Tu Nhựt Bổn
KU = Tôi (Wat) Aku (Shi) = Tôi
Akan = Mẹ Okaa = Mẹ
INÚ = Con chó Anuk = Con chó
Kap = Cắn Kamu = Cắn
NI = Tại Ni = Tại
Kap = Cập Kappuru = Cập
Ri = Vàng Ki = Vàng
Anô = Chị Ane = Chị

Dĩ nhiên là Nhựt có những danh từ giống hệt Việt Nam, Sơ Đăng, Pacóh, Bru, y hệt như ta, nhưng danh từ Khả nhiều nhứt trong ngôn ngữ của họ.

MONOGATARI là một danh từ ghép mà hai tiếng Lạc bộ Trãi , MONO và ROI kẹp một tiếng Lạc bộ Mã như cái xăng uých, tức danh từ đã xuất hiện lối 2000 năm, từ ngày bọn Mã đến Nhựt.

Nhựt mắc họa vì đã viết dính mọi danh từ ghép lại mà không theo luật nào cả, thành thử họ chẳng còn biết đầu đuôi ra sao nữa.

Nhưng ta không làm thế, ta cũng đã quên mất ROI mà Khả Lá Vàng còn nhớ.

Một danh từ đã chết, rất khó làm sống lại. Nhưng bài hát nói trên lại được hoan nghinh thì tưởng cũng nên áp dụng hô hấp nhân tạo để cứu nó.Tác giả bài hát ấy mà có hiểu sai, câu hát đó vẫn còn nghĩa, nếu ta hiểu ROI đúng theo Khả Lá Vàng:

Muôn năm xưa còn roi dấu.

có nghĩa là “dĩ vãng, lịch sử muôn đời còn kể thành tích oanh liệt của tổ tiên ta”

Tất cả các dân tộc sống quanh đèo Mụ Già, tức quanh địa bàn của Khả Lá Vàng đều có động từ ROI đó và đều hiểu y như Khả Lá Vàng.

Quốc gia Đạo Minh là nước của các dân Khả Lá Vàng, Hê lang và Sơ Đăng thật sự chớ chẳng phải chơi, và đó là nước Văn Lang thứ nhì mà người dân ăn nói y hệt như thần dân của vua Hùng Vương.

Chúng tôi cho rằng khi nhập chung danh từ của Hê lang, Sơ Đăng và Khả Lá Vàng lại thì có được một bộ ngữ vựng của Việt ngữ cổ thời là không phải nói bướng.

Chữ roi thứ nhì

ROI thứ nhì, miền Bắc cũng không có, nhưng không phải là miền Bắc quên ngôn ngữ mà đó là tĩnh từ của Phù Nam mà miền Nam đã vay mượn riêng sau năm 1623.

Về tĩnh từ ROI thì không có nghi vấn nào cả, nhưng chúng tôi cũng tiện tay đặt nó vào chương nầy.

Tĩnh từ nầy thì Nam Dương nói là RUAI, còn Phù Nam nói thật đúng ra sao, chỉ có trời mà biết, nhưng người Việt miền Nam vay mượn rồi thì biến thành ROI và để chỉ người có vóc vạc nhỏ, nhưng không yếu đuối.

Văn của Trương Vĩnh Ký chứa rất nhiều tĩnh từ ROI nầy và hiện nay, ở nông thôn miền Nam, người Việt cũng còn dùng mạnh tĩnh từ ROI, nhưng với hình thức kép: “Anh ấy có tướng roi roi”, không bao giờ dưới hình thức tĩnh từ đơn, khác hẳn Nam Dương.

Trương Vĩnh Ký lại còn dùng một tĩnh từ nữa, có nghĩa là NHỎ, nhưng để chỉ thú vật, nhất là heo, lợn và cọp. Đó là tĩnh từ GẮM (dấu Ă) mà hiện nay nông dân miền Nam cũng còn dùng mạnh, các tự điển ở miền Trung có ghi tĩnh từ nầy, nhưng không rõ do đâu mà ra vì người Chàm cũng không có tĩnh từ Gắm = NhỎ.

Trương Vĩnh Ký thường nói đến những con cọp GẮM, bị người ta sao lại là GẤM, hóa ra Cọp nhỏ trở thành Cọp có da như gấm.

Chương XX - T ừ vựng bỏ túi

Vào đầu thế kỉ 17, ta di cư vào Nam thì ta học thêm danh từ của bảy dân tộc sau đây: Cao Miên, Nam Dương, Phù Nam, lưu vong nhà Minh, Mạ, Pháp, Ấn Độ.

Vì vay mượn của Phù Nam quá nhiều, nên chúng tôi chỉ nói qua trong một chương. Vay mượn của sáu dân tộc khác thì quá ít, nên chúng tôi biên hết cả ra đây để giúp các người tìm giữ nguyên.

Tuy nhiên chúng tôi vẫn loại danh từ của Pháp ra, không phải vì họ đã mất chủ quyền, cũng không phải vì đó là những danh từ ít dùng mà vì hiện nay đang có hiện tượng sau đây: người ta loại bỏ lần lần nhưng danh từ không cần thiết, và mượn những danh từ khoa học.

Thí dụ trước 1954, người miền Nam nói THƯỚC, CÂY SỐ. Nhưng ta thu hồi độc lập rồi thì bộ Giáo dục của ta lại chính thức hóa hai danh từ MÉT và KÍLÔMÉT, hóa ra là mượn thêm. Trong khi đó thì dân chúng đang loại bỏ: XỐP PHƠ, PHANH XE, ÔTÔ, v.v.

Như vậy cái vốn có, chưa ổn cố, nên không nên ghi ra đây, mà chỉ ghi những gì đã vững hơn mà thôi. Về tiếng Pháp thì chúng tôi chỉ ghi đặc biệt một danh từ độc nhứt là danh từ Bình tô, vì danh từ đó đã chót nằm trong ca dao miền Nam.

BÌNH TÔ: Do paletot mà ra, đó là một thứ áo vết thời xưa của Pháp.

Với lưu vong nhà Minh

Chúng tôi viết sử rằng Quảng Đông, Quảng Tây là nước cổ Tây Âu,và cổ dân của quốc gia đó là người Thái. Chúng tôi lại viết rằng các quốc gia Sở, Ngô, U Việt, Mân Việt là Mã Lai đợt II, tức nói giống hệt Nam Dương. Nhưng điều ấy, không ai tin cả, kể cả nhưng người đã thích quyển sử đó.

Nhưng khi chúng tôi trình bày ra ở đây, những tiếng Tàu mà miền Nam đã vay mượn của lưu vong nhà Minh thì quí vị sẽ thấy lu bù tiếng Thái và tiếng Mã Lai Nam Dương do người Tàu ở BÊN TÀU đưa sang xứ ta vì họ là quan và lính của nhà Minh chớ không phải là thương gia Trung Hoa từ Nam Dương tới.

Người dân Việt lưu vong nhà Minh gồm hai nhóm, Phúc Kiến và Triều Châu, nói tiếng Tàu khác nhau như Nam Việt và Bắc Việt, tức chỉ khác giọng. Nhưng lối hai trăm danh từ Mã Lai Nam Dương thì họ nói giống y hệt như nhau, vì cái lẽ dĩ nhiên là danh từ của tổ tiên chung của cả hai nhóm.

Sở dĩ ngày nay họ mang tên khác vì một đàng sống trong tỉnh Phúc Kiến, còn một đàng thì sống riêng ở mấy phủ của tỉnh Quảng Đông. Khi trực trị được hai nước Tây Âu và Mân Việt rồi thì Trung Hoa không kể đến biên giới của hai nước đó nữa lúc họ chia vùng dưới thành tỉnh. Thế nên mới có một nhóm lọt vào tỉnh Quảng Đông.

Vậy, bị đặt tên khác, họ cứ là một, cựu công dân của quốc gia Mân Việt đời xưa.

LỐ: Một chục thường, nhưng cũng dùng để chỉ một chục 12, tương đương với danh từ tá ở Bắc Việt, do người Triều Châu nhà Minh đưa tới, nhưng đó là tiếng Mã Lai Nam Dương chớ không phải tiếng Tàu. Hiện người Mã Lai Nam Dương nói là PULỐ. Xin đừng lầm với PU LÔ mà ta biến thành CÙ LAO.

LẨU: Đây là một danh từ ngộ nghĩnh nhứt vì sự phiêu lưu của nó và vì sự ngộ nhận của người miền Nam. Cũng cứ do người Triều Châu, lưu vong nhà Minh đưa vào miền Nam. Theo ta hiểu, thì lẩu là một món canh của Triều Châu, đựng trong một thứ bát đặc biệt bằng LAITON.

Nhưng không phải thế. Người Triều Châu gọi món đó là CANH ĐỰNG TRONG BÁT CÓ LẨU. Vậy lẩu chỉ là phụ tùng của món đựng, chớ không phải canh. Khi nghe một câu rất dài mà ta không hiểu, ta chỉ nhớ danh từ cuối cùng là Lẩu.

Ấy, LẨU cũng là tiếng Mã Lai Nam Dương mà chúng tôi mới ám chỉ trên đây. Người Nam Dương nói là PULÔ và dân ta biến thành Cù Lao, nhưng dân Mân Việt đọc theo cổ thời là LẨU.

Cái món đựng ấy như thế nầy. Nó giống hệt một cái bát lớn minh mông, bằng Laiton, nhưng giữa bát, có trồng một cái ống tròn cũng bằng Laiton. Canh đựng trong bát và được hâm nóng luôn luôn bằng nhờ hồng chất trong cái ống trồng giữa bát. Cái ống đó trông rất giống một hòn đảo, vì thế mà người Mân Việt mới gọi là canh đựng, nghĩa trong bát có lẩu, tức có PULO, tức có Cù Lao, tức có đảo ở giữa bát.

Đó là dụng cụ của các nước Sở, Ngô, U Việt, Mân Việt đời xưa chứ không phải của Trung Hoa.

Vậy người Hoa Nam còn nói tiếng Mã Lai hay không? Và dưới đời nhà Nguyên, người Hoa Bắc gọi Hoa Nam là Mandi, tuy không đúng về mặt xã hội, nhưng rất đúng về mặt ngôn ngữ, vì dưới trào Nguyên hẳn là họ còn nói tiếng Nam Dương nguyên bộ, chớ không phải chỉ giữ được hai trăm danh từ như ngày nay.

Chưa ai tin chúng tôi cả, trừ các nhà khoa học. Nhưng ngôn ngữ đã cho thấy như thế đó. Thế nên ngay ở Chương đầu, chúng tôi đã nói đến chim ất, chim phù của Việt và Sở rồi.

Người Mân Việt đã lai Tàu từ 2100 năm rồi, tức từ 100 thế hệ rồi mà còn như thế đó, thì biết sức sống của ngôn ngữ nó mãnh liệt đến đâu.

Nhưng người Sở, Ngô và U Việt không có di cư đến Sài Gòn, chúng tôi không thể biết họ ăn nói ra sao, nhưng chắc là họ giữ ngôn ngữ ít hơn Mân Việt vì họ bị lai giống và đồng hóa nhiều trăm nước trước Mân Việt.

Kẻ bị lai giống trước nhứt là Sở, kế đó là Ngô, kế nữa là U Việt. Chắc người Triết Giang còn giữ được khá nhiều và chúng tôi có nghe một người Trung Hoa ở đây, có biết Triết Giang, và ông ấy cho biết rằng hiện nay, người Triết Giang còn viết chữ VÔ thay cho chữ VƯƠNG, còn đọc thì tự nhiên họ đọc gần như người Việt Nam cổ thời, Việt Nam cổ thời đọc là bua thì họ đọc là BÔ.

Nhưng đó là danh từ mà vua Hùng Vương vay mượn của bọn Tản cư Giang Nam, chớ vua Hùng Vương là Lạc bộ Trãi, hẳn phải có danh từ khác hơn, bởi VUA, là ý niệm về sau của chủng tộc, không thể giống nhau được như Mắt, Mũi, Cây, Lá.

CÁI RĂNG của người Trung Hoa nói là YA. Nhưng tại sao Phúc Kiến cũng là Trung Hoa mà lại nói là Ghê? Có thể nào mà cùng chung một quốc gia, một dân tộc mà họ biến YA thành GHÊ hay không?

Ta, người Việt Nam, ta đã đọc sai tiếng Tàu quá nhiều, nhưng ta cũng chỉ đọc YA là NHA mà thôi, thì sao người Tàu Phúc Kiến lại đọc là GHÊ?

Vì họ là Mã Lai Nam Dương mà Mã Lai Nam Dương gọi cái răng là GHI.

Còn tại sao ông Nhựt Bổn gọi Ngà voi là DZÔ GHÊ (zoge)? Trong từ điển Nhựt, ổng viết ra chữ là Tượng Nha. Thế rồi các nhà bác học Nhựt lục lạo tìm tòi, cũng không làm sao mà biết Dzô Ghê do đâu mà ra, bởi có đọc sai Tượng Nha bao nhiêu, nó cũng không thành Dzô Ghê được.

Là tại ổng là Trãi + Mã, y hệt như Việt Nam nên ông lấy một danh từ Trãi là YÔ mà hiện nay đồng bào Thượng đang dùng (còn ta thì biến YÔ thành VOI) rồi ổng ghép với danh từ GHI của Mã mà ổng đọc là GHÊ (ge). Hiện nay, ổng đã biết nguồn gốc của Ghê rồi, nhưng còn Dzô thì ổng đang tìm trối chết.

Tại sao cái trán, người Tàu nói là NGỚ, ta đọc sai là NGẠCH thì còn cho qua, nhưng ông Phúc Kiến lại nói là HÍA.

Là tại ổng giống hệt Câu Tiễn, vốn là Mã Lai thì hiện đang gọi cái trán là ĐAHIA.

Có ai tin nổi là Tây Thi, Phạm Lãi, Phù Sai, Câu Tiễn, Hạp Lư đều là Mã Lai hay không? Ấy thế mà họ là Mã Lai Nam Dương 100%, khác với ta một chút xíu vì ta là Mã Lai Bách Bộc, ta nói CHƠN, họ nói CẲNG.

Sách đời Chu thường ca ngợi loại gươm Mạc Da của bọn Ngô Việt Xuân Thu. Nhưng họ chép rằng gươm đó do gia đình Mạc Da luyện. Có lẽ là họ chép sai, chớ các tự điển Nam Dương ghi rằng hiện họ còn rèn và sử dụng loại kiếm đào được ở Đông Sơn, cổ trên hai ngàn năm và họ gọi loại kiếm đó là LA DA.

Người Trung Hoa không bao giờ đặt tên là Da, vì Da của họ, nghĩa không đẹp. Da chỉ là trợ từ và là đại danh từ dưới đời Chu. Vậy Mạc Da tên người, chỉ là tiếng phiên âm.

Người Phúc Kiến do đuôi nhập vào miền Nam danh từ CHỆK mà dân ta không hiểu, biến nó thành danh xưng để chỉ toàn thể người Trung Hoa, mà chỉ một cách khinh bỉ. Nhưng thật ra thì trong Mân ngữ CHỆK chỉ có nghĩa tốt đẹp là