Ngày N +….

Ngày N + 2, 7 giờ 30 chiều

Một toán Biệt kích của trung tá Lê Minh cải trang quân phục Việt cộng, dép râu, súng AK xuất phát từ phía trước mặt. Tôi nghe nhiều tin đồn xấu về những lính giả Việt cộng cướp của, giết người, hãm hiếp phụ nữ. Cầu mong có Lê Minh ở đây. Anh ta là bạn cùng khóa cùng trung đội với tôi hồi còn là sinh viên sĩ quan. Trung tá ba mươi tuổi, đem xương máu của anh để đổi lấy những huy chương và những bóng mai trên cổ áo.

*

Ngày N + 3, 5 giờ sáng

Đoàn xe khởi hành thật sớm. Trời tối mịt. Đêm qua tôi ngủ thật ngon, cả ngày kinh hoàng vậy mà đêm tôi có những giấc mơ thật đẹp. Tôi thấy trẻ lại mười năm, bước vào lớp học. Những em nhỏ áo quần sạch sẽ đứng dậy chào, rồi lớp học bắt đầu trong những tiếng hoan ca. Phải chi tôi trẻ lại thật sự.

Chúng tôi vẫn ì ạch tiến tới, một binh sĩ cho biết tin tệ hại, đã xảy ra từ hai ngày trước. Binh sĩ này có mấy người bạn ở thiết giáp thoát chết trong trận phục kích phía sau đoàn xe, và đã phải chạy thục mạng mới bắt kịp đoàn xe. Trận đánh diễn ra khoảng giữa đường Phú Bổn và Phú Túc, ngay tại khu rừng đẹp với những thân cây khô. Thiết giáp đoạn hậu cho cuộc triệt thoái tệ lậu này. Theo lời mấy binh sĩ thoát chết kể lại, Đại tá Lữ đoàn trưởng đi cùng đơn vị, khoảng một trung đoàn địch bôn tập từ quốc lộ 19 sang, không bắt kịp đoạn đầu của đoàn di tản đã chặn đánh khúc sau. Vị trí thuận lợi cho cuộc phục kích, địa thế chật hẹp, chiến xa không thể xoay trở được, một số nhỏ chạy thoát kịp theo đoàn di tản phần lớn là M113, hầu hết những chiến xa nặng kẹt lại. Đại tá Lữ đoàn trưởng tự sát. Thêm vào đó hai tiểu đoàn Địa phương quân người Thượng cũng nổi loạn, chiếm tỉnh Phú Bổn, truy kích phía sau của đoàn tị nạn, nhiều dân chết, phía cuối đoàn xe bây giờ là địa ngục.

Tôi còn biết thêm một tin tệ hại không kém, cái tin kia đã dừng lại từ hai ngày trước, đã bị bỏ lại đằng sau. Tin tôi mới biết sẽ mang sự tệ hại đến cuối con đường. Tin cho biết là một số Biệt động quân thất trận khi giải vây Ban Mê Thuột, cùng với hậu cứ của các tiểu đoàn Biệt động quân Biên phòng đã bắt kịp đoàn người. Bây giờ họ là những ông vua con của từng đoạn đường. Họ nổ súng bừa bãi, cướp giật giữa ban ngày, họ tước đoạt bình thản bằng mũi súng của họ, không chừa một ai, già, trẻ, lớn, bé. Họ không chê một thứ gì từ đồng hồ, nhẫn, giây chuyền, tiền bạc, thậm chí họ còn tước cả những đôi giầy còn tốt của người khác đang đi, họ cướp ăn, họ giật uống.

Tôi biết chắc chỉ có một vài Biệt động quân làm ẩu. Nhưng bọn đào binh, bọn quân phạm, bọn vô lại của tất cả các đơn vị đã cố kiếm cho được những bộ áo ngụy trang của binh chủng này. Trời dần sáng, chúng tôi bắt gặp một dòng suối cạn, đường thật hẹp chỉ một xe có thể qua, bờ bên này thoai thoải, bờ bên kia dốc thật gắt lại có thêm một khúc quẹo ngặt nghèo. Xe qua từng chiếc, phải đợi cho chiếc này lên hết dốc chiếc khác mới có thể tiến lên. Một quân xa chở nặng, hư số phụ, tuột dốc lưng chừng đồi, rất may xe không có người và anh tài xế nhảy ra kịp, chiếc xe lật nhiều vòng. Cây cối ngã rạp, đồ đạc văng tứ tung, sau cùng nó nằm ngửa bốn bánh lên trời, một phần xe choán ngay lối lên dốc. Cần phải tránh một tai nạn tương tự, nếu không tất cả đoàn xe sẽ kẹt cứng.

Tôi không rõ ai ra lệnh, một vài quân cảnh tiến ra điều hòa lưu thông, họ hoạt động ở hai đầu dốc. Thượng sĩ Hạp, một nhân viên quân cảnh của trại giam Pleiku điều hành ở dốc cao, anh chận lại những xe có cần trục, để có thể kéo những xe khác không đủ sức leo, hễ có một chiếc xe cần trục khác tới thì chiếc trước được đi.

Một người lính biệt động quân ngồi nhờ trên xe trục công binh cho là đã bi Hạp xử ức, nên khi có xe khác thay thế gã đã nổ súng bắn Hạp. Anh chết tức khắc.

Bây giờ súc mạnh trong tay không phải là những người cầm súng. Ở đây có quá nhiều súng. Lẽ phải ở trong tay những kẻ dám giết người.

*

Ngày N + 3, 4 giờ chiều

Bây giờ chúng tôi lết từng chặng, từng chặng. Địa thế ngày càng tệ hại, nhiều lúc đoàn xe phải băng ngang cánh rừng chồi, vòng qua những khu vực lầy lội, tránh những tảng đá to, vượt qua những khe suối nhỏ. Hôm nay lác đác đã có những người đi bộ, chắc hẳn đã có nhiều xe cộ bỏ lại dọc đường. Hôm nay mặt trời thật gắt. Mấy đứa trẻ sau xe tôi đã phơi nắng vài ngày, da chúng đỏ như những con tôm luộc. Nhiều đứa sọp hẳn đi, chúng khóc bây giờ không còn ra tiếng, toàn thân rung lên, bờ môi tái ngắt. Có đứa như kiệt lực. Mấy tấm vải căng tạm đã không đủ che cái nắng quái ác này, càng không đủ với khí lạnh ban đêm. Tôi nhường ca bin xe cho hai em tương đối yếu nhất. Cũng không giải quyết được gì, các em đòi mẹ xem chừng còn khóc to hơn. Tôi quay về chỗ cũ, một em bậy ra xe, người tài xế cằn nhằn.

Trời chạng vạng tối, đoàn xe phải băng ngang một con suối lớn. Công binh chiến đấu phải ủi tạm một con đường. Rút kinh nghiệm về cái chết của Hạp, hôm nay không hiểu lệnh từ đâu, những người linh công binh mang băng đỏ ở tay phải, đề hở phù hiệu công binh nơi tay trái, họ điều hòa lưu thông khá hữu hiệu. Từng chiếc một bò nặng nhọc trên con đường vừa ủi xong, cây cối ngổn ngang bên đường. Những chiếc xe nặng, bánh lún sâu xuống lòng đất xốp, tạo những đường rãnh giữa mặt đường. Thỉnh thoảng xe ủi công binh lại phải cào lại mặt đường. Bây giờ không một ai còn nghỉ đêm. Dư âm của trận phục kích bọc hậu đoàn thiết giáp vô hình chung là động cơ thúc đẩy người ta tiến tới trước, bất kể ngày đêm. Đoàn xe như co mình lại chờ đợi.

Qua khỏi cái vực khốn nạn này, chỉ còn vài cây số nữa là tới quận lỵ Củng Sơn, một quận lỵ của tỉnh Phú Yên, từ đây vượt mười cây số nữa sẽ tới sông Ba, con sông hiền hòa, mở ra bát ngát ớ cửa bể Tuy Hoà. Qua sông Ba, con đường trên bản đồ lại trở thành một đường vẽ liền lạc, không còn những gạch đứt quãng. Tôi tính thầm trong bụng, nhiều lắm hai ngày nữa đoàn xe sẽ tới Tuy Hoà, bởi lẽ qua khỏi sông Ba, chúng tôi sẽ hiện diện trên thượng nguồn của đập Đồng Cam. Từ đó về quận lỵ Hiếu Xương hơn hai mươi cây số, con đường xe cộ vẫn sử dụng trong bao nhiêu năm nay, sẽ không còn những chướng ngại vật thiên nhiên như khi rời Phú Túc.

Bây giờ là tám giờ tối của ngày N + 3, xe tôi bắt đầu đổ dốc. Con dốc làm mọi người phải chóng mặt, không một ai ngồi lại trên xe, tất cả đều xuống đi bộ ngay sau xe mình. Tôi vẫn ngồi yên trên ghế trưởng xa, người tài xế già cắn chặt môi, anh để hết số phụ, đạp như gần lút thắng, mỗi lần nhấc chân phải lên, chiếc xe như chuyển mình lao xuống, anh lại gò người xuống, như trì cả sức nặng của toàn thân anh trên bàn thắng.

Dưới ánh đèn pha của xe sau rọi tới, bụi đỏ bốc lên mù mịt, xe như đi trên mây, đôi lúc tròng trành như thuyền lướt trên sóng. Giữa con dốc, một chiếc xe nằm nghiêng ở đáy vực, dấu vết của tai nạn ngổn ngang chung quanh. Người lính công binh trên đầu dốc cho biết có vài người chết, vì chiếc xe đứt thắng giữa chừng. Phần lớn là mấy người già quá, không muốn xuống xe. Tôi nhìn về phía đằng sau, qua một con dốc cao, công binh lại phải làm tạm con đường theo địa thế, nên giữa chừng con dốc, con đường quẹo về phía trái một góc hầu như chín mươi độ. Qua khúc quẹo này, ánh đèn pha của những chiếc xe sau bị khuất lấp, đêm nay trăng mười hai đã ở xế đỉnh đầu, tôi thấy những người lội bộ sau xe. Dưới ánh trăng tỏ, và trong đám bụi mờ bỏ lại đằng sau, trung úy Lộc già, vợ con ông ta, vợ con binh sĩ, bước thất thểu như những bóng ma kỳ lạ. Điều làm tôi đau lòng nhất, là hình như tôi cũng chịu hoàn cảnh với họ, chia sẻ với họ từng quãng đường, từng tiếng súng. Rõ ràng là tôi đã chung với họ không thiếu một thứ gì, thế mà giữa tôi với họ hình như vẫn có một khoảng cách. Tại sao lại có khoảng cách này. Chỉ trong một thoáng ngắn của bóng trăng đêm nay, cái hình ảnh lếch thếch của vài em nhỏ chạy lúp xúp cho kịp người lớn, những mái tóc rũ rượi của phụ nữ, tôi hiểu tại sao lại có sự cách biệt này, sự cách biệt không thể nào khỏa lấp nổi, khiến tôi không thể nào khổ đau như họ. Nó thật giản di: vợ con tôi không có đây, vợ con tôi đang ở một vùng an bình tạm nào đó.

Qua khỏi con suối, chờ mọi người lên đủ, người tài xế nhấn ga, chiếc xe lồng lên, nuốt khoảng trống để bắt kịp đoàn xe trước. Chỉ còn 5 cây số đường rừng để tới quận Củng Sơn. Tôi thấy quá nhiều người đi bộ, từng nhóm một, chạy dạt qua hai bên lề đường mỗi khi thấy ánh đèn xe. Tôi hiểu họ không có một chọn lựa nào khác hơn là bỏ xe xuống đi bộ, do con dốc thì ít, nhưng họ sợ hãi nhiều hơn. Họ không muốn kẹt lại đằng sau, ở đó mạng người bấp bênh vô cùng. Bấp bênh tới từ cả hai phía.

Đường trống phía trước mặt, tôi hạ lệnh ngừng xe, kêu gọi mọi người đằng sau thu gọn hành lý. Anh tài xế, tôi và một người lính dọn lại cái móc hậu đằng sau, toàn là quân trang quân dụng của tiểu đoàn. Tôi ra lệnh cho họ vứt bớt những thứ nặng không cần thiết. Bây giờ phải tiết kiệm mạng người, những máy đánh chữ, máy phóng thanh xách tay đó có ích gì đâu trong hoàn cảnh này. Bây giờ tôi không còn chọn lựa, bất cứ ai ở gần xe tôi, xin mời lên đi nốt đoạn đường.

*

Ngày N + 3, 11 giờ 45 tối

Đoàn xe ngừng lại giữa một cánh rừng chồi. Trăng bị che khuất, nền trời như đặc lại, tất cả đoàn xe tắt máy, tắt đèn. Có tiếng nhắc chừng đừng hút thuốc. Thật tình tôi buồn cười cho cái kiến thức quân sự này. Nó xứng tài làm tướng ở nước tôi, nếu người đó có may mắn. Đoàn xe dài như thế, ồn như thế, con đường không có chọn lựa nào hơn, nếu địch quân có ở đây, đủ để đánh thì chúng đã đánh mấy ngày nay. Có thể chúng đã có mặt, hoặc là quá ít, hoặc là chưa đủ điều kiện để ra tay. Tôi vẫn nghe những tiếng rì rầm, tiếng những cành khô gẫy. Dĩ nhiên không phải là do thú rừng. Thú rừng nào mà không bạt vía, mà không chạy xa đoàn xe kỳ lạ và náo nhiệt này. Tiếng động đó tạo bởi những người đi bộ, họ gánh gồng, bồng bế, đầu đội, tay xách, lặng lẽ tiến tới trước. Họ không thể dừng lại.

Đột nhiên có tiếng động cơ vẳng lại, có tiếng xích lớn nghiến trên mặt đường. Ai nấy đều đinh ninh là tiếng chiến xa. Rõ ràng tiếng động cơ đó có lúc tiến lại gần, rồi lại ra xa, tôi vốn nhạy cảm, nên có thể phân định phương hướng tốt, chắc chắn số chiến xa không nhiều. Nó tiến lại gần, gần đến độ nếu trăng không bị che lấp, chắc tôi đã nhìn thấy nó thấp thoáng sau những chồi cây thưa. Cho tới giờ chưa ai có thể biết đó là chiến xa của phe nào. Tiếng động cơ vẫn ầm ì, kéo dài cả tiếng đồng hồ. Có tiếng súng vẳng lại. Tiếng nổ súng lớn. Trận đánh chắc ở xa, bởi lẽ những lằn lửa đạn liên thanh xé màn đêm, hẳn là phải hàng chục cây số, phía trước mặt đoàn xe. Tôi biết chắc bây giờ địch đã chặn phía trước mặt. Trận đánh vẫn tiếp tục, tiếng xích chiến xa ngừng lại, bây giờ tiếng động cơ máy bay vọng lại, những đốm sáng nhấp nháy trên trời đêm.

Hai chiếc hỏa long xuất hiện trên vùng giao tranh. Đây là những chiếc phi cơ vận tải C47, C119, C123 biến cải, trang bị những khẩu đại liên sáu nòng. Tốc độ bắn hàng ngàn viên trong một phút. Khi khai hỏa nó rống lên như một con bò thần. Hai chiếc hỏa long bay vòng tròn trên vùng giao tranh, những lằn đạn lửa của chúng vẽ thành hai hình nón lật ngược. Cảnh thật đẹp, thật hùng vĩ, trong khi những lằn đạn từ dưới đất tạo thành những đường tiếp tuyến, cát tuyến cho hình nón. Bây giờ tôi thấy tận mắt hình vẽ của những bài toán không gian, những bài toán về phép quay của năm đệ nhất. Trước kia tôi vẽ chúng trên mặt phẳng của tờ giấy, để tưởng tượng ra cảnh này. Bây giờ bài toán nghiệm chứng trước mặt, nhưng cái đáp số của nó thì quả là ghê hồn. Hôm nay, quả tình tôi không muốn thấy cái nghiệm chứng của bài toán.

*

Ngày N + 4, 5 giờ 30 sáng

Tôi thiếp đi một giấc dài trong lòng xe. Khi tôi thiếp đi hai chiếc máy bay vẫn vẽ những hình nón của chúng. Thỉnh thoảng chúng đổi chóp, có nghĩa là đổi mục tiêu tác xạ, kỳ lạ thay những lằn tiếp tuyến hình như cũng toa rập theo phép tịnh tiến này. Hỏa châu thỉnh thoảng vụt nổ giữa trời cao, soi sáng một vùng trận địa. Tôi thiếp đi, tôi lại mơ vọng về quá khứ, xa hơn mười năm, mười lăm năm, bắt gặp các ông thầy toán rải rác trong mấy năm trung học, từ thầy Hà Đạo Hạnh gầy gò với chiếc Lambretta trắng, thầy Quán đầy trách nhiệm lương sư với chiếc Mobylette vàng, thầy Nguyễn Xuân Nghiên bên chiếc Taunus 17, Nguyễn Văn Kỷ Cương với chiếc Volkswagen xanh. Một điều lạ là các thầy không dậy học. Trong tay không có cục phấn, các thầy bỗng trở thành những xạ thủ đại liên tuyệt vời, đã bắn những lằn đạn lửa tượng hình cho các bài toán của các thầy.

Khi tôi tỉnh dậy, trời vẫn tối lờ mờ, tiếng xích chiến xa lại vang lên. Tôi muốn bỏ xe tiến lên xem chuyện gì phía trước. Chẳng lẽ lại là chiến xa địch, nếu có hẳn là đã có giao tranh bởi lẽ trước tôi cả đoàn xe vài trăm chiếc, ít nhất đoàn xe cũng kéo dài vài cây số trước mặt, nhất định những chiếc chạy đầu phải tiếp giáp với những chiếc thiết giáp này, tại sao không có tiếng súng nổ. Có những tràng M16 nổ chát chúa phía sau. Trời đã lờ mờ sáng, một đoàn độ hơn mười chiếc GMC, những người nổ súng đứng ở bên hông xe dẫn đầu, anh ta mặc đồ bông ngụy trang. Đoàn xe tách vào trong rừng chồi chạy cách lề đường trăm thước. Khoảng một cây số sau, lại có tiếng súng, trong khi những chiếc xe tuần tự lấn vào đường. Thì ra người anh em biệt động quân mở đường lấn. Chưa có máu lúc này. Phải đợi cả tuần lễ sau đoàn xe mới mở đường máu. Bây giở hãy lấn cái đã. Tôi vững bụng tiến về phía trước.

Tiếng chiến xa đêm rồi chỉ là hai chiếc máy ủi của công binh. Những người lính công binh chiến đấu đã công tác cả tuần lễ trước dọc theo con đường. Họ đã san bằng những chướng ngại. Và chướng ngại sau cùng của họ: sông Ba. Họ làm việc suốt đêm, ủi bãi để lập đầu cầu, song không thể nào lập nổi cây cầu, sông không sâu nhưng bây giờ là mùa nước lũ. Nước từ rừng, từ các triền núi đổ về, chỗ sâu nhất chỉ tới đầu gối, nhưng nước chảy xiết vô cùng. Lòng sông toàn cát và sỏi, thượng sĩ Quán công binh điều hành ở đây, trong lúc chờ vật liệu là những tấm PSB được gởi tới, ông đốc xuất binh sĩ dưới quyền sử dụng hai chiếc máy ủi kéo xe qua sông. Họ làm việc suốt dêm, mỗi lần kéo độ ba xe lớn, hay năm xe nhỏ. Tất cả các xe đều nổ máy sử dụng hết số phụ, xe ủi chỉ kéo phụ lực. Nhiều chiếc Jeep bị ngập nước chết máy giữa dòng, phải nằm lại chờ kéo riêng.

Bây giờ là bẩy giờ sáng, xe tôi sắp sửa xuống bờ sông hai lần, hai lần đều bị dội ngược lại bởi tiếng súng của người anh em biệt động quân. Người tài xế già nhìn tôi, người lính đi theo cũng nhìn tôi. Thật tình tôi không sợ phải đụng. Nhưng đụng làm gì khi qua con sông Ba này chúng tôi vẫn kẹt lại. Thượng sĩ Quán cho hay mấy ngày nay, Tiểu khu Phú Yên mở đường lên không được, hai tiểu đoàn địa phương quân không thể nhúc nhích nổi vì những cái chốt kinh hồn đóng dọc hai mươi cây số đường. Ít ra phải là năm chục cái chốt. Ông ta cũng chờ bắt tay với địa phương quân cả tuần nay.

Tôi bỏ xe lội bộ lên phía trước. Đã mấy ngày nay không tắm. Mồ hôi và bụi đường phủ một lớp như bồ hóng trên người. Chỗ xe đậu xuống bến sông khoảng chừng 300 thước. Tôi nghe tiếng trẻ cười đùa vang vọng một khúc sông. Mãi tới hôm nay tôi mới nghe loáng thoáng được tiếng cười. Ôi tiếng cười hồn nhiên của bầy trẻ thơ, như những tiếng chim líu lo chào nắng mới.

Năm nay ba hai tuổi, tôi vẫn chưa biết bơi, mặc dù hồi nhỏ nhà tôi ở ngay đầu phố Kho bạc Hải Dương, chỉ băng ngang một con đường là sang đền Kiếp Bạc, chỗ người ta lập đền thờ danh tướng Trần Hưng Đạo, ngay bên bờ sông. Trẻ con khắp phố đứa nào cũng bơi bì bõm từ hồi còn nhỏ, tôi cũng vẫn đi tắm sông mỗi chiều với chúng nó, vẫn bơi y hệt như một con chó quào quào trên mặt nước, không tiến, không lùi, rồi cứ chìm dần. Rồi lớn lên làm việc ở Vũng Tầu, ở Phú Quốc, ở Qui Nhơn, ở Nha Trang, chiều nào tôi cũng đi tắm biển, vẫn không biết bơi. Đôi lúc tôi cũng thèm biết bơi, nhưng cứ hễ ra biển tôi giỡn sóng một hồi rồi lên, ngồi phơi mình trên bãi, rồi về. Các anh tôi bơi cả chục vòng ao lớn, chị tôi bơi ngang sông Hải Dương như chơi. Tôi vẫn ì ạch một chỗ giữa dòng. Tôi tự an ủi sẽ cho con trai tôi tập bơi, nó sẽ là một tay bơi có hạng.

Sáng nay, nghe tiếng trẻ cười vang vọng lòng sông, tiếng xôn xao của người lớn, bỗng nhiên tôi thấy thèm biết bơi vô tận. Từ cao tôi nhìn được bao vùng, con sông chảy mạnh, quanh co len lỏi giữa những cao độ chập chùng. Nó rộng cũng nửa cây số. Ở bờ bên kia là một bãi cát vàng mênh mông. Giá không có đoàn xe nhà binh trên đường triệt thoái, tôi tưởng chừng đây như là một ngày hội của phiên chợ bên sông nào đó.

Khi tắm xong trở về, tôi thấy xe tôi đã tiến sát tới bến, người lính đi theo tôi bây giờ cũng mặc đồ bông. Nó nhoẻn miệng cười tinh quái với tôi, bên cạnh nó có thêm một vài khuôn mặt mới cũng áo bông, vẻ mặt thật cô hồn.

*

Ngày N + 4, 12 giờ trưa

Bãi cát bên kia sông Ba đầy xe, những tài xế mở nắp ca-bô, tháo các bugie ướt nước, lục đục cúi lau và kiểm soát lại các bộ phận thấm nước. Bãi cát dài mênh mông, trước khi con đường mở ra từ phía bìa rừng.

*

Ngày N + 4, 3 giờ chiều

Sau cùng xe tôi cũng qua được dòng sông cuồng nộ đó. Biết bao giờ tôi quay lại được bến sông này. Xe bò từng thước trên bãi cát, có lúc bánh quay tít, xe vẫn đứng yên một chỗ, mọi người xúm vào đẩy, cát bắn vào mặt đau rát, không một ai lơi tay, chiếc xe lết từng đoạn, từng đoạn, sau cùng cũng lên đến mặt đường. Đúng lúc đó địch pháo vài trái ngắn ngủi, nổ vu vơ giữa rừng chồi.

Không ai bị thương, nhưng ảnh hưởng của vài trái pháo này thật lớn. Nó cho mọi người biết địch có mặt ở đây. Không biết chúng sẽ tấn công lúc nào.

*

Ngày N + 4, 6 giờ chiều

Cây cầu nhỏ, ván gỗ, trụ xi măng, sườn sắt, bề ngang vừa đủ một xe lớn. Cây cầu bắc ngang dòng nước chảy xiết, dòng nước người ta đã khơi về từ sông Ba, nó chảy song song với con đường vài cây số thì tới đập Đồng Cam, cái đập đã mang lại sự phì nhiêu cho những cánh đồng phía tây nam tỉnh lỵ Tuy Hoà. Đoàn xe ngừng lại tại đây, xe tôi cách xe đầu đoàn chừng một cây số, cứ vài phút tôi lại thấy những xe sang sông sau ùa tới. Xe tôi đậu ngay đầu cầu. Địch đóng chốt trước mặt. Con đường bây giờ tương đối tốt, tuy mặt đường không tráng nhựa, nhưng đó là con đường người ta vẫn sử dụng từ hai mươi năm nay. Nếu không có những chốt phía trước, thì nhiều lắm là hơn một tiếng nữa tôi sẽ có mặt tại Tuy Hoà, ăn một tô phở, kiếm vài người bạn, kiếm một quán nào đó, kiếm rượu, kiếm những con sò nổi tiếng của đầm Ô Long.

Dọc theo bờ biển, khác với những thị xã khác như Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Nha Trang, Phan Rang thay đổi bộ mặt trong khoảng mười năm sau cùng của trận chiến. Sự thay đổi hào nhoáng bề ngoài nhưng bên trong đầy dẫy những tệ trạng, Tuy Hoà vẫn giữ được cái vẻ đẹp bình lặng của nó. Tôi còn yêu Tuy Hoà qua sự biết ơn của thị xã này với thi sĩ Tàn Đà Nguyễn Khắc Hiếu và nhà văn Y Uyên. Một tên đường dành cho thi sĩ, người hơn nửa thế kỷ trước vì cơm áo đã tha phương cầu thực đến đây. Một pho tượng cho nhà văn trẻ tuổi vì tai trời ách nước, đã có lần làm việc vài năm ở đó. Y Uyên cùng lớp với tôi vài năm ở Nguyễn Trãi, khi sang Chu Văn An anh chọn ban C, còn tôi lựa ban B. Anh lớn hơn tôi ba tuổi, nên hồi đó không bao giờ anh ta chịu quen với tụi lỏi. Rồi lớp chúng tôi lớn lên, mỗi người mỗi ngả. Khi nghe tin anh chết, tôi ở mãi ngoài Trung không thể về đưa tiễn anh đến chỗ cuối cùng. Sau này mỗi lần qua Tuy Hoà, tôi đều có ghé thăm pho tượng mà thị xã Tuy Hoà đã dựng để ghi nhớ anh. Bây giờ tôi ngồi đây, con đường thẳng tắp trước mặt, chỉ có hai mươi cây số ngắn ngủi nữa, nhưng Tuy Hoà xa thật xa, xa như một niềm tin đã mất.

*

Ngày N + 4, 9 giờ tối

Xếp của tôi, trung tá Kha, đã leo lên trực thăng từ hai tối trước, chỗ quận Củng Sơn, bây giở ông phó Nguyện cũng bỏ tiểu đoàn sang tá túc nơi đoàn xe biệt động quân. Cả tiểu đoàn bây giờ chỉ còn tôi, xe nằm mỗi nơi một chiếc, chưa kể những chiếc đã bỏ lại dọc đường, người thì mỗi người một ngả. Tôi về tiểu đoàn này như một sĩ quan ngồi chơi xơi nước, chờ thời, bỗng nhiên lãnh một quả ra gì, một quả di tản có một không hai trong quân sử. Xếp chúa phải về trước để lo doanh trại cho đơn vị ở Nha Trang, lý do chính đáng, nhưng xếp phó lại di tản cá nhân, ông làm gương cho trung úy Giỏi, ban nhân viên, ti nạn bên Thiết giáp. Kể từ sau hôm thượng sĩ Hạp bi bắn chết, ngoại trừ những gì không thể che giấu được của binh chủng còn phơi ra, tôi thấy binh sĩ của tôi bây giờ cũng có áo bông, nón đi rừng, hoặc là ở trần khoác ngoài một chiếc áo giáp. Mạnh ai nấy tìm một chỗ yên thân. Một số binh sĩ bơ vơ đến tìm tôi, góp nhặt lại bây giờ có độ mười chiếc xe lớn nhỏ, khoảng chừng bốn mươi lính và ít ra một trăm rưởi đàn bà con nít. Xe đậu lung tung. Tôi nói với họ:

"Ban ngày các anh có thể đi đây đi đó, nhưng tối đến, phải tập họp kín đáo bên cạnh xe tôi, đàn bà, con nít có thể ớ tại xe, nhưng các anh phải có mặt ở xe tôi mỗi tối lúc tám giờ. Không thể biết đến bao giờ đoàn xe có thể khởi hành. Phải đoàn kết lại. Tôi nghĩ đến việc phải gác chiếc cầu này. Nó mà sụp thì tám phần mười đoàn xe sẽ kẹt lại. Có bốn mươi người lính chỉ để cho hai vọng gác hai đầu cầu, cách nhau chừng hai mươi thước. Tôi có đủ quân số để lo vụ này."

Đêm nay trăng mười hai đã treo cao trên nền trời.

*

Ngày N + 5, 8 giờ sáng

Quân vận và Quân nhu bán cơm sấy, thịt hộp, sữa, thuốc lá Quân tiếp vụ với giá cắt cổ. Người ta chen lấn nhau mua. Độ khoảng nửa tiếng sau tôi nghe liếng súng nổ. Người ta chạy túa ra. Mấy anh em đồ bông có nhiều chiến lợi phẩm. Thật tình lúc này mà bán lương khô với giá cắt cổ là một hành động đáng bị trừng tri nặng, song tôi cũng không tán thành hành động còn lại. Càng không tán thành nữa, các anh em đó mang đến xe nào có nhiều phụ nữ.

Bây giờ thì có quá nhiều biệt động quân. Có một điều hơi dễ phân biệt. Biệt động quân thật từ trên đầu xuống nón nâu, quân phục binh chủng, có phù hiệu. Còn giả thì hoặc là có quần, không áo. May ra có đủ bộ thì cũng không thể có nón nâu. Đào đâu ra nón nâu lúc này. Những người anh em biệt động quân giả này mới đáng tởm. Họ lùng cảnh sát tước khí giới, làm nhục giữa đám đông, chọc ghẹo phụ nữ một cách thô bỉ. Mới ngừng lại một ngày tưởng chừng như đã tới ngưỡng cửa địa ngục. Cả đêm qua tôi ngủ những giấc ngắn. Chốc chốc xe đổ về một toán từ phía sông Ba. Đêm qua xe tôi đậu ở đầu cầu, đằng sau khoảng chừng chục chiếc, sáng nay phía sau nối dài, cả trăm chiếc.

Vài người lính trong tiểu đoàn nói có vài ngàn chiếc chưa qua sông. Nắng hôm nay thật gắt. Mặt trời như một bó lửa khổng lồ. Không một ngọn gió, hơi người nồng nặc trên các xe. Mới có chín giờ sáng mà tưởng chừng như quá ngọ. Tôi tìm chỗ tắm, cái dòng nước thượng nguồn của đập Đồng Cam này, nước đổ về từ sông Ba, nước tập họp từ trên rừng nên còn mang mùi ngai ngái của lá. Mùa nước lũ, nước chảy xiết và lạnh như nước đá. Tắm xong, tôi tìm một bóng mát ngả lưng.

Con đường nhô cao khoảng chừng ba thước. Bên trái là những thửa ruộng còn trơ gốc rạ, vài ruộng bắp còn non, xa xa ẩn hiện những mái nhà. Nhiều người tiến vào trong xóm. Tôi ngừng lại tại một khoảng đất đầy những cây chuối hoang, tôi tước một ít tàu khô, làm một chỗ nằm thoải mái. Bây giờ không còn trông thấy đoàn xe, tôi lạc vào một thế giới khác, có tiếng đập của quả tim tôi, mỗi lúc một to, át cả tiếng lao xao của đám đông vẳng lại từ mặt đường. Rồi tôi thiếp đi.

Khi tỉnh dậy, tôi thấy trước mặt một người lính biệt động quân thật. Chắc chắn phải là thật, cái nón nâu lót trên một hòn đá gối đầu, bộ quần áo rách bươm, thật tình tôi yên lòng bởi lẽ anh ta không đeo súng, cũng không thấy dao, không thấy những trái lựu đạn. Tôi ngồi dậy dợm đi về xe, cùng lúc người lính này cũng nhỏm dậy, thấy tôi anh nhoẻn miệng cười. Tôi thấy bỏ đi thì kỳ, nên đành ngồi lại. Bây giờ tôi mới nhìn kỹ anh ta. Khó có thể đoán nổi tuổi, sương gió đã làm mặt anh ta xạm lại, thêm vào đó lại bệnh đậu mùa, nên mặt anh bị rỗ khá nhiều. Nhưng anh có đôi mắt thật đặc biệt, thật đẹp, thật buồn, thật xa vắng. Cả hai im lặng, tôi tẩn mẩn xé mấy tầu lá khô, anh ta nhâm nhi một cọng cỏ.

Đột nhiên anh ta đứng dậy lấy ra một con dao nhỏ, loại dao bấm Trung cộng, anh ta tiến về phía trái, dừng lại bên một bụi trúc nhỏ. Lui cui một hồi, anh ta trở về chỗ cũ, trên tay có vài gióng trúc. Anh loay hoay đánh dấu trên thân đoạn trúc, rồi dùng mũi dao để tiện lỗ làm một cái ống tiêu. Khoảng nửa tiếng sau anh kê gióng trúc lên miệng, thổi vài hơi. Dáng chừng như chưa vừa ý, anh lại tẩn mẩn làm cái khác, đến lỗ thứ ba, ống trúc bi dập, tét làm đôi. Anh vẫn không tỏ một chút gì trên nét mặt, anh kiên nhẫn gò người trên gióng trúc sau cùng, anh cẩn thận xoáy từng mũi dao, sau cùng ống tiêu hoàn thành, anh thổi thử vài hơi gật gù đắc ý. Tôi nằm xuống ngửa mặt nhìn trời, hồn lắng xuống chờ tiếng tiêu của anh. Năm phút sau vẫn yên lặng, hé mắt ra tôi thấy anh thui cái ống tiêu một cách từ tốn. Mãi tới lúc đó anh ta mới nói với tôi:

"Phải thui thì tiếng mới trong."

Rồi tiếng tiêu cất lên, khi trầm khi bổng. Tôi nhớ một đoạn của Kim Dung viết về tiếng tiêu của Nhậm Doanh Doanh trong bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ, diễn tả tiếng tiêu ngưng lại lúc bách điểu chia ly, trăm hoa tàn tạ, gió lặng, tuyết tan, vũ trụ ngưng trong cảnh tịch mịch đó. Tôi cho là tiếng tiêu của Doanh Doanh cũng hay đến thế này là cùng, bởi lẽ Doanh Doanh là một nhân vật do trí tưởng tượng phong phú của Kim Dung tạo nên. Tiếng tiêu của người lính Biệt động quân này có lúc làm tôi bay bổng chín từng trời, có lúc dồn dập như đoàn xe hàng trăm chiếc hàng ngang chạy băng trảng cỏ, có lúc cuồn cuộn như nước sông Ba, có lúc thê lương như tiếng khóc của đứa bé chào đời ngoài đồng trống. Tôi quên hết quá khứ với những mong ước thời trai trẻ, quên hết hiện tại nóng hổi của đoàn triệt thoái kỳ lạ hôm nay, tôi quên cả tương lai vất vả. Hình như tôi vẫn ngủ, tiếng tiêu vẫn mơ hồ lẩn quất bên tai.

*

Ngày N + 5, 3 giờ chiều

Trực thăng mang sắt PSB đến sông Ba, không thấm vào đâu với nhu cầu của công binh, song cũng đủ cho một lằn đường trên bãi cát. Khi bay ngang qua chỗ cây cầu gỗ nhỏ, có người khênh ra một cái băng ca, người phi công động lòng trắc ẩn sà xuống, vài người khênh người bi nạn lên, rồi người ta ùa tới, phi cơ phải cất cánh khẩn cấp. Bây giờ chắc không có ai dám đáp xuống đám đông hỗn loạn này.

Buổi chiều bọn trẻ ùa xuống nước. Chúng la hét, nghịch ngợm ồn cả một vùng. Bóng mấy người vợ lính lui cui với bầy con nhỏ.

*

Ngày N + 5, 5 giờ chiều

Gặp Thái Tăng An giữa cầu. An vẫn giữ được nụ cười tươi. Tôi theo An về xe anh, vẫn có ly cà phê buổi chiều. An là loại người cần cà phê hơn cơm, ngày một bữa cơm đủ rồi nhưng cà phê phải ba cữ. Tốt nghiệp trường Mỹ thuật Huế, anh vẫn vẽ mỗi khi rảnh rỗi. Anh nói, nếu thoát về được sẽ ghi lại trên khung vải những hình ảnh đặc biệt của chuyến đi này.

*

Ngày N + 5, 7 giờ tối

Đài BBC loan tin về cuộc di tản của chúng tôi . Phải công nhận là bản tin xác thực. Trong phần bình luận, luận điệu của đài này có vẻ thiên tả. Nó không được vô tư. Tôi văng tục. Tuy nhiên trong phần tin chiến sự quân khu 1, tôi nghe được một chút tin về tướng Trưởng đã mang vợ con từ Sài Gòn ra Đà Nẵng. Ông quyết giữ Huế và Đà Nẵng bằng mọi giá.

Bây giờ là mười giờ tối của ngày 22-3-1975. Đêm nay là đêm thứ sáu của cuộc hành trình. Tôi đứng trên mui xe, nhìn bao quát cả vùng. Trăng hôm nay thật sáng, sáng dị thường, sáng đến độ tôi có thể thấy những con dơi chao muỗi chợt tới, chợt lui giữa bầu trời sữa. Suốt đêm qua và cả ngày nay tôi thấy xe cứ ùn ùn kéo đến, cái đuôi mỗi lúc một tăng trưởng. Rồi người đi bộ, gánh gồng bồng bế nhau tới, có người già chống gậy, có em bé còn ẵm ngửa, phần lớn đều nghèo, chắc chắn là nghèo, hoặc là bắt đầu nghèo. Chập tối nay, xướng ngôn viên của đài Đông kinh đã mệnh danh cho đoàn người là những người "bỏ phiếu bằng chân". Tôi có mặt trong đoàn người này, khởi đi từ cao nguyên trung phần, quân và dân ba tỉnh Pleiku, Kontum, Phú Bổn xuôi về miền duyên hải. Cái gì chở họ ở nơi sẽ đến?

*

Ngày N + 6, 6 giờ sáng

Ngày thứ ba ngừng lại ở đập Đồng Cam. Sáng nay dậy sớm, mãi tới hôm nay tôi mới để ý đến một cái chòi vịt, người nông dân chủ chòi ở đây, vẫn lầm lũi dậy sớm cùng với ánh sáng mặt trời, một đàn vịt chừng hơn ngàn con vịt nhỏ, bằng nắm tay, những con vịt lội ngược dòng nước xiết, trong khi kẻ chăn lững thững đi trên bờ.

*

Ngày N + 6, 8 giờ sáng

Song song với dòng nước, song song với con đường là hai quả đồi nhỏ. Một đồn địa phương quân án ngữ trên đỉnh ngọn đồi. Sáng nay địch quân đã có mặt ớ đỉnh đồi còn lại. Chúng sử dụng súng cối bắn qua đồn, quân trú phòng ở đồn này phản pháo lại. Tôi nghe rõ tiếng depart của cả hai bên. Tôi thấy rõ những trái đạn nổ trên cả hai ngọn đồi. Mỗi bên bắn vài trái rồi thôi. Đoàn người đứng xem một cách vô tư.

Rõ ràng là địch quân chưa muốn đánh vào đoàn người. Chúng chỉ muốn cầm chân chúng tôi tại đây. Với hàng trung đoàn làm chốt trong đoạn đường hai mươi cây số cuối cùng. Với cái đích pháo kích sáng nay. Rõ ràng ý định của địch là muốn bắt sống, hoặc tiêu diệt trọn vẹn chúng tôi. Điều đó tôi nghĩ chúng có thể làm được, nếu tiểu khu Phú Yên không mở đường được, nếu đoàn người cứ ở lại đây, không tiếp tế, không lương thực.

*

Ngày N + 6, 4 giờ chiều

Đủ mọi tin đồn bao phủ đoàn xe. Tin có kích thước lớn như miền Nam còn từ Phan Rang trớ vào, một vùng trái độn từ Phan Rang trở ra giao cho Mặt trận Giải phóng, tin kích thước nhỏ xảy ra trong đoàn người như phụ nữ bị hiếp dâm.

*

Ngày N + 6, 11 giờ đêm.

Đêm nay đài BBC và Đông Kinh đều nói tới hai cái túi người khổng lồ ở Đà Nẵng và Nha Trang, Cam Ranh. Thế là tướng Trưởng đã bỏ Huế. Dân Huế, Quảng Tín, Quảng nam, Quảng Ngãi, đổ dồn về Đà Nẵng. Dân Tuy Hoà, Qui Nhơn đổ dồn về Nha Trang, Cam Ranh. Chiến sự vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng sôi động không kém. Tôi nghĩ đến những người dân xứ Quảng, những đồi cát chập chùng ven biển và những cơn gió Lào.

Cả quân khu 1 chỉ còn Đà Nẵng thoi thóp hỗn loạn. Hàng triệu người đã bỏ tất cả ra đi về miền Đất Hứa. Nhưng Đất Hứa sau cùng chỉ là những đám mây trôi nổi trên trời. Từ ba tối nay tôi đã nhường ca bin cho hai em nhỏ bị sốt. Tôi ngủ trên một cái võng làm bằng một cái vải bạt nhà binh, mắc giữa hai cản xe. Tôi nằm quay đầu về con nước, trăng lồng lộng trên trời, phản chiếu lấp lánh trên dòng nước chảy mạnh thành những vết sáng loang loáng. Từ lúc nghe tiếng tiêu của người lính biệt động quân tôi tỉnh táo vô cùng.

Có tiếng khuấy nhẹ nước đâu đây, có tiếng phụ nữ, tôi hướng về tiếng động, chừng ba chục thước trước mặt tôi một cậu bé chừng mười tuổi đứng yên lặng trên bờ. Hai thiếu nữ nhô đầu khỏi dòng nước, chắc chắn phải là thiếu nữ thanh tân, bởi tôi thấy rõ hai mái tóc dài. Có lẽ cậu bé đứng canh chừng cho hai chị tắm. Chắc chắn họ phải rất trẻ, bởi nếu không họ đã tắm ban ngày cùng với vợ con binh sĩ. Phải là thiếu nữ thanh tân mới e thẹn như thế. Tôi đã được xem hình chụp bức họa Les Baigneuses nổi danh thuở xưa, vô tình hôm nay tôi được chứng kiến những Baigneuses của thời tao loạn, tắm giữa dòng nước thiên nhiên, dưới ánh trăng lồng lộng. Trước mặt là những chốt của tử thần, sau lưng đường về nhà cũ đã hết. Dĩ nhiên là họ tắm có áo quần, nhưng quả tình là đẹp. Tiếc thay không có Thái Tăng An ở đây, anh đã lỡ một cơ hội gợi hứng cho một bức tranh đẹp. Hãy tắm lẹ lên các em, mặc dù thâm tâm tôi muốn các em tắm tự nhiên, thoải mái, khỏa thân trong dòng nước bạc. Tôi không phải đạo đức thật, lại càng không phải đạo đức giả, song trong cảnh trăng nước này, các em lại tắm với áo quần thì tôi thấy có một cái gì bất ổn. Tôi chỉ muốn chiêm ngưỡng một nhan sắc, không hề có một chút dục tính nào trong khung cảnh này.

Tôi ngủ ngon, trăng cao ở trên trời, trong giấc ngủ tôi nghe được tiếng tiêu của người lính nọ, tiếng tiêu dồn dập, háo hức, với hình ảnh hai cô bé tắm khỏa thân trong trăng nước.

*

Ngày N + 7, 3 giờ 30 sáng

Có tiếng nổ lớn ở phía sông Ba, rồi những tiếng súng nhỏ vang lên đệm nhịp. Từ nóc xe tôi nhìn thấy những luồng đạn lửa, thỉnh thoảng có những tiếng nổ lớn cùng với ánh lửa bùng ra. Đích tấn công đoạn cuối chưa qua sông. Chắc chắn không phải là pháo kích, không có tiếng nổ depart, những tiếng nổ lớn đó phải là lựu đạn, bộc phá. Chúng tôi qua sông đã ba ngày. Đoạn cuối này hầu như phần lớn là dân chúng, không có ai chỉ huy.

*

Ngày N + 7, 6 giờ 30 sáng

Từ rạng sáng nhiều toán người đã tới, họ đã đi ngay sau khi cuộc đột kích chấm dứt. Trận đánh chỉ kéo dài mười lăm phút. Một số xe bị phá hủy, một số người chết và bị thương. Một số khác qua sông ngay trong đêm, lầm lũi đi giữa rừng. Lác đác đã tới đây, từng tốp. Có người ngừng lại ở cuối đoàn xe, nhiều người nét mặt sợ hãi còn vương trên đôi mắt, hốt hoảng tiến lên, ngừng lại ở đầu đoàn xe. Cả ngàn chiếc còn kẹt lại bên kia sông Ba.

Có tiếng xì xầm trong bụi lau trước mặt, những cây lau rung rinh. Sợ địch quân có thể tấn công bất ngờ như đã làm trước đó, tôi vẫy hai người lính, cùng rón rén lại gần. Một cảnh thương tâm trước mặt, một em nhỏ chừng mười ba tuổi nằm trên cáng. Cáng được cột bởi những cây gậy đi rừng, rõ ràng là một cáng hướng đạo. Em bé chân trái bị mảnh đạn cắt gần lìa đầu gối, máu ướt đầm lớp quần áo buộc quanh vết thương, đôi mắt em thất thần, em vẫy ba người bạn lại, hai em chừng mười bốn và một em chừng mười một. Em nói với các bạn một cách rõ ràng cương quyết:

"Minh, Ngọc, hãy bỏ tao lại đây, hãy đi với mọi người. Chắc tao không thể sống được. Mang theo tao tụi mày sẽ không thoát khỏi đây."

Tôi thấy vẻ ngập ngừng của hai đứa lớn. Tôi tiến lại gần và nói với tất cả:

"Các em đi trước đi. Để em bị thương ở lại đây, tôi có bác sĩ lo hộ."

Tôi đã nói dối. Tôi biết chắc em bị thương không thể sống nổi. Cái chân trái gần cụt hẳn, máu ra như suối cả mấy tiếng đồng hồ rồi. Tôi biết một bác sĩ Thiết giáp, tôi nhớ xe ông ta cách xe tôi chừng trăm thước. Tôi bảo người lính đi tìm, rồi hối hai em Minh và Ngọc phải đi ngay đi. Em nhỏ nhất bây giờ mới tiến lên mở ba lô lấy một chiếc chăn mỏng, đắp lên người bạn bất hạnh. Cả ba lùi lại tôi thấy các em chào nhau bằng kiểu chào hướng đạo. Ba đứa trẻ quay đi, nước mắt dàn dụa. Bóng ba đứa lúp xúp trên mặt đường. Dường như mọi người còn ngủ cả. Chập sau vị bác sĩ tới, ông ta nói với tôi kín đáo, em nhỏ không thể cứu nổi, mạch đập loạn lắm rồi. Vả lại ông ta cũng chằng có gì để hành nghề cả, ông chỉ có được một mũi an thần cho nó dịu bớt cơn đau. Chỉ còn có thể để giúp em bình yên đi vào giấc ngủ sau cùng.

*

Ngày N + 7, 8 giờ sáng

Đoàn người đã ngừng lại đây bốn ngày. Sáng nay sau khi những người đi bộ từ sông Ba tới cho biết đích xác tình hình phía sau, một số người nôn nóng, họ mạo hiểm, mặc thường phục, chạy xe Honda, Suzuki, Vespa đi trước. Có chừng hơn trăm chiếc xe, khoảng độ trên hai trăm người. Họ tập họp thành đoàn, khởi hành thật từ tốn. Cứ y như là một cuộc đi cắm trại vùng quê. Tôi có vài người lính trong đám người mạo hiểm này. Nhiều người phía đầu đoàn xe, leo lên cao nhìn bóng họ xa dần xa dần.

Có tiếng súng đại liên ở trước mặt, tiếng AK nổ thật ròn. Súng nổ liên hồi trong vòng mười phút. Chập sau vài kẻ mạo hiểm trở về, địch đã xả súng bắn vào những người này không thương tiếc. Chúng chờ cho cả đoàn lọt vào ổ phục kích mới khai hỏa, không có vụ bắn dọa. Chúng bắn chí tình. Súng đại liên có sẵn yếu tố tác xạ bắn như mưa bấc từ phía sau, phía trước ập lại, súng nhỏ bắn tự động ngang hông. Vài kẻ chạy lẹt đẹt sau cùng thoát nạn. Trung sĩ nhất Mười, người lính cũ của tôi thoát nạn, anh là một trong những kẻ dẫn đầu, khi địch quân khai hỏa, anh bò nhảy đại xuống nước, núp vào một bụi lau. Anh thấy rõ chi tiết của cuộc thảm sát. Những kẻ bị thương nặng bị thanh toán ngay tại chỗ, vài người bị thương nhẹ bị bắt sống mang đi. Xác chết kéo dài cả cây số, xe cộ nằm tênh hênh giữa đường. Mười chờ cả tiếng đồng hồ sau, anh nương theo những bụi lau ven bờ, quay ngược về chỗ cũ.

*

Ngày N + 7, 10 giờ tối

Đài BBC loan tin Đà Nẵng di tản, địch đã vào Quảng Ngãi từ hai ngày trước. Phía nam cao nguyên, Lâm Đồng bị uy hiếp nặng nề. Giọng bình thản của người xướng ngôn viên tả cảnh Đà Nẵng, khiến tôi tưởng như đang nghe đọc truyện ở địa ngục.

*

Ngày N + 8, 7 giờ sáng

Hôm nay là ngày thứ chín của cuộc hành trình. Tôi đã ngừng ở đập Đồng Cam được sáu đêm năm ngày. Khoảng thời gian này tôi nghiệm thấy cái vô nghĩa của kiếp người. Sống được trong khoảng thời gian này đã khó, sống cho ra người, một con người đúng nghĩa còn khó hơn. Tôi thấy tội nghiệp cho tôi, tội nghiệp cho mọi người, cho cả người cán binh bên kia chiến tuyến.

Mấy tối nay, qua các đài phát thanh ngoại quốc, tôi thấy rõ tất cả đều là lừa bịp. Bàn cờ đã đến hồi kết thúc, người ta sắp xóa đi đánh ván khác. Rõ ràng miền Nam sắp trở thành một quân cờ thí.

*

Ngày N + 8, 4 giờ chiều

Một chiếc trực thăng bay thật thấp trên đầu đoàn xe, tôi nhìn rõ Kim Tuấn và Võ Sum trên đó, Sum thò cả nửa người ra ngoài, anh thu hình đoàn người ti nạn, Kim Tuấn phía sau, với tay ra ngoài liệng xuống những ổ bánh mì trong các túi ni lông. Rán đi các bạn ta, hãy thu hình cho trọn đoàn người, hãy nhớ kỹ từng khúc. Hãy nói to với mọi người về hình ảnh mà các anh đã thấy.

*

Ngày N + 8, 10 giờ đêm

Đà Lạt vừa mất. Lâm Đồng đứng như một ốc đảo giữa rừng. Đài BBC nói đến các hình ảnh đẹp của sinh viên sĩ quan Võ bi Đà Lạt. Họ đã làm trắc diện và đoạn hậu cho quân dân ở đây xuôi xuống Nha Trang. Đoàn di tản này tương đối có kỷ luật và tổ chức chặt chẽ nhất.

Lại thêm một thành phố thân yêu nữa mất đi. Cầu mong cho những người thân và bằng hữu ở đây tới được chỗ an lành. Kể từ hôm nay, trọn quân khu I đã mất, quân khu II chỉ còn lác đác vài tỉnh duyên hải. Bây giờ Qui Nhơn là ải địa đầu, chiến trận khốc liệt tại quận Bồng Sơn, một quận lỵ trù phú nằm trên quốc lộ 1, với những rừng dừa cao vút và thẳng tắp ở đây đang hứng chịu những lằn đạn oan nghiệt.

*

Ngày N + 9, 4 giờ chiều

Hai phi tuần A37 ào tới như một cơn lốc. Tôi thấy rõ những trái bom rơi xuống từ phi cơ. Bom đánh trước mặt đoàn xe chừng hơn cây số. Tôi nghe rõ tiếng phòng không của địch bắn trả. Mãi tới hôm nay mới có không yểm. Điệu này ngày mai chúng tôi có thể dọt. Tôi nói với người tài xế già:

"Ông coi lại xe cộ trong buổi chiều nay, rán đừng chết máy giữa đường."

*

Ngày N + 9, 6 giờ chiều

Gặp bác sĩ Cao Huy Tích, thuộc Quân y viện Phú Bổn, xe của anh hư, tôi mời về xe tôi bất cứ lúc nào. Đúng lúc này gã họ Thái lại tới tìm tôi san sẻ một chút cà phê vừa kiếm được. An nói có lẽ ngày mai mà không dông được, thì ngày mốt anh sẽ tính đi bộ cùng một số nhỏ những lính thuộc tiểu đoàn 20 Chiến tranh Chính tri. Họ có một hướng dẫn viên người địa phương. Cứ men theo sông Ba khoảng vài cây số, có một con đường mòn, đường đi tắt của những người nông dân trong vùng này lội bộ đến Tuy Hoà. An nói với tôi, nếu muốn hãy đi cùng anh, không thể chở đợi đây lâu hơn. Tin tức ngày càng tồi tệ. Tôi trả lời anh tôi còn hai đêm để quyết định việc này. Tuy trả lời vậy, song tôi biết chắc tôi sẽ không tham dự việc này.

*

Ngày N + 10, 8 giờ sáng

Hôm nay là ngày 27-3-1975. Chúng tôi dời Pleiku được mười một ngày. Nằm ở đập Đồng Cam này vừa đúng một tuần. Tôi vẫn chưa thấy cái đập tuy rằng nó ở cách chỗ chúng tôi chừng ba cây số. Có tiếng động cơ trực thăng lại gần, chúng xuất hiện từ xa như những chấm đen, lớn dần, lớn dần rời bất thần chúng xả những làn khói trắng về phía sau, trong khi những hỏa tiễn lao về phía trước.

Đám đông bỗng hỗn loạn, người chạy ngược xuôi, trong chớp mắt không một ai còn ở mặt đường. Đêm qua người ta đã xì xào về đoạn đường hôm nay. Hàng ngàn động cơ như rú lên cùng một loạt. Cùng lúc đó trên trời xuất hiện thêm hai phi tuần A37. Người phi công gan dạ bay thật thấp, tôi thấy rõ cái mũ tròn và bộ đồ bay màu da cam, anh vẫy chào đoàn xe phía dưới, rồi vọt cao lên trời, lên cao mãi nhỏ như một con én, bỗng chúc đầu lao xuống. Tôi thấy những cụm khói nhỏ bên hông tầu, những cụm khói của đại bác phòng không nở ra những bông hoa trắng trên nền trời xanh bát ngát. Phi cơ vẫn lao xuống với tốc độ phản lực, xuống thấp sát những ngọn cây trên đỉnh núi, một trái bom thoát khỏi thân tầu, cùng lúc với chiếc phi cơ vọt thẳng lên trời.

Từng trái một, hai chiếc A37 như không biết có những khẩu phòng không dưới đất, đạn đan như lưới trên trời, những bông hoa trắng nở ra liên hồi. Như một cuộc biểu diễn của các tay bay lão luyện, mấy chiếc trực thăng cũng góp mặt, chúng chợt tới, chợt lui như những con dơi chao muỗi, chòng chành như những con thuyền giữa sóng lớn, ở cao độ thấp hơn, phóng những hỏa tiễn xuống vị trí địch.

Trái bom cuối cùng đã thả, hai chiếc A37 vọt lên trời như những chiếc pháo thăng thiên, hai người phi công gan dạ vòng về cuối đoàn xe, họ bay ngay trên đầu mọi người, họ vẫy cánh chào từ biệt ở phía trước mặt, rồi lên cao, và khuất lấp giữa trời.

Bây giở là 8 giờ 40 phút, một chiếc trực thăng bay sà sát trên đầu chúng tôi, người xạ thủ đại liên nhô nửa mình ra khỏi thân tầu, rõ ràng anh khoát tay về phía trước. Máy xe vẫn nổ, phải chăng đây là hiệu lệnh lên đường. Có sự nhúc nhích phía trước, rồi đoàn xe cựa mình tiến tới, từ giã xóm nhỏ bên đường. Giã từ cái chòi vịt im lìm, giã từ người nông dân chủ chòi lầm lũi bên con nước xiết. Đại bác nổ rền từ phía trước, đây là những khẩu đại bác phòng không của chúng tôi, cũng may có được vài xe thiết giáp phòng không dẫn đầu, mấy người xạ thủ tác xạ vào bất cứ chỗ nào khả nghi, từng tảng đá lớn tung lên, từng ngôi nhà tranh bốc cháy. Tôi biết có nhiều ngôi nhà cháy oan, có nhiều người vô tội chết.

Làm sao hơn được trong lúc đây là đoàn xe chạy chết. Đoàn xe khởi đi như một con thú dữ, địch bám sát hai bên đường, chúng tôi bứng từng chốt, đại bác 37 1y, bốn nòng bắn trực xạ cho những mục tiêu trong vòng ba trăm thước. Đoàn xe chạy tới đâu, ghi dấu khói lửa hai bên vệ đường đến đó. Địch chôn nhiều mìn trên đường, khoảng hai cây số đầu tiên, chúng tôi bứng đi được một chốt lớn. Địch pháo vào đoàn xe, bây giờ chúng đã biết đoàn người quyết đi, đã biết chúng tôi cố mở đường máu trở về, và dĩ nhiên địch quyết ngăn lại bằng mọi giá.

Một trái 82 ly rớt trên mặt đường phía sau xe tôi chừng năm chục thước, trái đạn nổ ngang hông một xe Jeep, hai người chết ngay, vài người bị thương. Làm sao chúng tôi có thể mang những người chết theo, người chết được đặt bên vệ đường, xe sau tiến tới, chiếc xe Jeep được hất ra khỏi lề. Từng chốt một, những chiếc thiết giáp mở đường ngừng lại, những người lính biệt kích tiến lên, họ thanh toán nốt mục tiêu, ghi dấu những trái mìn phát hiện bằng những tờ giấy được chặn bởi một cục đá. Họ dò mìn bằng đôi mắt, bằng kinh nghiệm, làm sao tránh khỏi những trái mìn chôn giấu kỹ. Bây giờ làm gì có thời gian sử dụng máy dò mìn, vả lại địch cũng mới bôn tập tới đây, chúng cũng không có đủ thời gian để chôn giấu kỹ.

Bây giờ đập Đồng Cam thấp thoáng trước mắt, nằm vắt ngang dòng nước. Con đập thật nhỏ, thật cũ, những thành cầu sắt bắc xung quanh nên trông giống một cây cầu hơn là một cái đập. Qua khỏi đập là một thôn xóm nhỏ, những mái nhà lá nằm sát nhau, nổi bật trên cánh đồng, địa thế bây giờ chỉ còn những trái đồi nhỏ, sát hai vệ đường là cánh đồng cỏ lát. Súng nổ ran phía trước, và chiếc thiết giáp đầu đoàn bò chậm chạp trên cầu.

*

Ngày N + 10, 11 giờ sáng

Bốn cây số đã qua với một tiếng đồng hồ. Địch pháo trước mặt, đoàn xe ngừng lại. Chiếc thiết giáp chạy ở phía đầu đoàn xe quay nòng qua trái, tôi thấy rõ một tòa cổ miếu nằm thênh thang giữa đồng bi bứng hẳn lên, thấp thoáng xa xa, bóng của những người lính biệt kích thoăn thoắt hai vệ đường, đoàn xe tiến tới từng thước đất, từng thước đường.

Đường cái quan tương đối rộng, xe Honda họp thành hai trắc diện dị kỳ.

*

Ngày N + 10, 11 giờ 30

Xe tôi đã qua khỏi đập Đồng Cam, dòng nước bây giờ mở rộng sau cái đập, chừng năm chục thước bề ngang, nước chảy lờ đờ, những đám lộc bình trôi hờ hững. Tôi ngửi thấy mùi thối của những xác chết lâu ngày, cùng với sự xuất hiện của những căn nhà đầu tiên, vài căn đang cháy dở, cái thôn xóm nghèo chừng năm mươi nóc gia, bỗng nhiên mang cơn đại họa. Bây giờ mùi thối đã bớt đi, bởi những căn nhà cháy khét lẹt. Cuối thôn con đường quẹo phải, một cây cổ thụ che khuất tầm nhìn, mùi thối lại xông lên nồng nặc. Qua khỏi khúc quẹo con đường mở ra trước mắt, hàng trăm chiếc xe Honda, Suzuki, Vespa nằm rải rác trên một đoạn đường một cây số. Người chết khắp nơi trên khúc đường này. Đây là những kẻ mạo hiểm của ba ngày trước, những người mang tính mạng ra đánh một canh bạc cuối. Họ đã tính sai về lòng nhân đạo của những người bên kia.

Nắng như đổ lửa trên đầu, hơi người chết xông lên khiến cho nhiều người lộn mửa. Tôi trông thấy chiếc Vespa trắng của trung sĩ nhất Khánh, một người lính cũ của tôi. Không biết Khánh có thoát nạn không? Chúng tôi ngừng lại giữa những xác người ngổn ngang. Nhiều xác đã trương lên, nhiều xác đã bắt đầu chảy nước vàng. Mấy người biệt động quân giả lại một lần nữa có dịp trở thành những con thú, họ gỡ những chiếc đồng hồ tay của người chết, họ bỏ xe hơi xuống đi bộ kiếm những xe còn tốt của người đã chết.

*

Ngày N + 10, 1 giờ trưa

Ba xác chết trôi lững lờ trên dòng nước, một xác trương to và trắng như một con heo cạo. Kỳ lạ một điều là hình như chúng tôi không thể vượt khỏi ba xác chết này, bởi lẽ chúng tôi vừa chạy vừa bứng chốt đằng trước. Cứ khoảng hai cây số một chốt lớn, ngừng lại chờ thiết giáp và biệt kích dọn xong con đường. Khoảng thời gian chờ đợi này, ba cái xác cứ tuần tự lướt qua.

*

Ngày N + 10, 2 giờ 30 chiều

Đoàn xe tới một làng tương đối trù phú, có vài ngôi nhà gạch ngói đỏ tươi, có những cây cau cao đang trổ trái. Làng ở bên kia dòng nước, tôi thấy những chiếc cầu nhỏ để dân chúng xuống tắm giặt. Địch bắn từ bìa làng, hàng ngàn cây súng trên đoàn xe đáp lễ, M79 đệm nhịp như pháo cối. Ít nhất cũng nửa làng ra tro. Dòng nước vẫn chảy thẳng, ba cái xác người lơ lửng trôi xa.

Bây giờ chúng tôi quẹo trái về quận Hiếu Xương, mười ba cây số được đánh đổi bằng sáu tiếng đồng hồ, chỉ còn ba cây số nữa chúng tôi bắt tay được với địa phương quân, họ có hai tiểu đoàn ở đây, mở đường hơn tuần lễ không được. Gặp họ kể như chúng tôi thoát hiểm. Trận đánh giảm cường độ, bây giờ chỉ còn súng nhỏ nổ từng chập. Người ta không còn xả súng bắn bừa vào những chỗ khả nghi nữa. Lác đác dọc dường, dân địa phương xuất hiện, những người dân hiền hòa ở đây, bầy ra vệ đường từng lu nước lạnh, từng mẹt trái cây, và thức ăn tạm cho người chạy giặc đỡ đói lòng.

Có một lúc im tiếng súng, tôi nhìn về phía sau, đoàn xe bị cắt ra làm nhiều quãng, xe hai bánh và người đi bộ lũ lượt trên đường, trám vào các quãng trống đó nên đoàn xe hầu như vẫn liền lạc. Bọn lính trên xe tôi nói cười huyên náo.

Một trái khói tím trước mặt, một tràng M16 nổ vu vơ, mấy chiếc xe đầu đoàn ngừng lại, rồi một chiếc xe Jeep tách ra đậu ven đường, vài người lính biệt kích từ trên xe bước xuống, họ tiến vào một khoảng trống có nhiều ngôi mộ cổ, những ngôi mộ có tường bao quanh như một lăng tẩm nhỏ. Vài phút sau họ trở ra, một người lính biệt kích khoát tay, cả đoàn xe từ từ chuyển, chiếc xe Jeep vẫn đậu ở đó, mấy người lính biệt kích đứng tản mát chung quanh, trong khi vị chỉ huy của họ ngồi bất động trên xe Jeep.

Đột nhiên chiếc xe Jeep nghiêng đi, cùng với một bó lửa tỏa ra, xe bốc cháy, một trái B40 bắn sẻ đã kết liễu vi sĩ quan biệt kích. Sự kiện xảy ra như chớp mắt, trước mặt xe tôi chừng năm chục thước. Xác người sĩ quan đổ xuống, nửa thân trên nhô hẳn ra thành xe. Những người lính biệt kích chồm dậy, họ túa vào mấy ngôi mộ, đạn rít bên tai, đạn cầy dưới đất. Họ xung phong vào địa thế trống trải, thượng liên đích nổ ròn tan. Một người lính biệt kích đang chạy, bật ngửa về phía sau, anh bi thương ở chân, lăn người hai vòng, núp vào một bờ đất nhỏ, trong khi các bạn anh bọc vòng hai cánh. Nhiều tiếng M79 nổ, từ phía sau mấy ngôi mộ. Ba người áo đen từ trong mấy ngôi mộ chạy ra, nhưng không chạy được xa, ngã vật xuống bởi những làn đạn của những tay súng lão luyện. Chúng ngã xuống cùng lúc với một trái lựu đạn nổ trên đầu.

Trận đánh diễn ra không đầy năm phút, kể từ lúc trái B40 nổ, cho tới khi những người lính biệt kích trở về khiêng xác vị chỉ huy của họ xuống, mui xe Jeep vẫn cháy âm ỉ.

Những người lính biệt kích này, đã theo chúng tôi suốt đoạn đường. Đêm đêm, họ vẫn âm thầm đi kích để bảo vệ cho đoàn xe. Chỉ còn một cây số nữa là bạn. Trong 6 tiếng đồng hồ liên tục, những người này đã giẫm nát những chốt địch.

Bây giờ là bốn giờ rưỡi ngày 28-3-1975. Vĩnh biệt người sĩ quan biệt kích vữa nằm xuống, vĩnh biệt người chết dọc đường, vĩnh biệt những người đã nằm xuống cho chúng tôi kéo dài hơi thở. Khoảng bao lâu nữa chúng tôi sẽ thiếu khí trời. Tôi nhớ đến tiếng tiêu của người lính biệt động quân, cái vô nghĩa của kiếp người, trong một sát na ngắn ngủi.

Có thể tối nay, những người dân Sài Gòn, những người dân ở các vùng yên bình tạm bợ sẽ được nghe một mẩu tin nhỏ trên các đài phát thanh hoặc trên màn ảnh nhỏ: "Quân và dân ba tỉnh Kontum, Pleiku, Phú Bổn đã đến được Tuy Hoà."

Ngày N + 10, 6 giờ chiều

Đám đông dân chúng thị xã Tuy Hoà tụ tập bên đường, họ hoan hô chúng tôi, những biểu ngữ chăng la liệt giữa các hàng cây, giữa các trụ đèn, và giữa những con ngựa gai chặn đường vào thị xã. Đoàn xe rẽ phải để đến địa điểm tập họp trong phi trường quân sự ớ đây sẽ có ủy ban tiếp đón. Ở đây sẽ cung cấp nhiên liệu, lương thực để tiếp tục chuyến đi về Nha Trang. Ít ra ở dây cũng có người tỉnh táo. Không thể để cho đoàn người vào Tuy Hoà. Những người lính biệt động quân giả sẽ làm nát thành phố.

Một người lính quân cảnh ngoắc xe tôi ngừng lại. Thiếu úy Huy, trưởng đồn quân cảnh Tuy Hoà tiến đến chào. Anh mời tôi về đồn quân cảnh Tuy Hoà. Xếp chúa Trần Đình Kha chờ tôi ở đó. ông cho biết đại cương: Bộ Chỉ huy Quân cảnh chỉ định tôi nhiệm vụ mới, thay thế thiếu tá Đèo Ngọc Thanh Chỉ huy trưởng trại Tù binh Qui Nhơn, ông Thanh là một trong vài sĩ quan làm tôi quý mến. Xuất thân khóa 8 Đà Lạt, đại úy từ năm 1962, lúc đó đại lá Kinh, Chỉ huy trưởng binh chủng bây giờ còn là trung úy. Thiếu tá Thanh đi phép Ban Mê Thuột và kẹt tại đó.

*

Ngày N + 10, 9 giờ tối

Tôi đứng cô đơn trên thành cầu, sau lưng là thị xã Tuy Hoà, một cây số trước mặt là ngã ba, nơi trước đó 4 giờ đồng hồ, chiếc xe đầu đoàn rẽ phải vào quốc lộ 1, bên trái không đầy cây số là bờ biển. Gió từ đại dương thổi về, lộng trên tóc tôi, quần áo bay phần phật. Xe cộ vẫn ùn ùn kéo tới. Người ta đã mở mấy con ngựa gai trên đường rẽ vào thành phố, một vài xe tách đám đông ngược về hướng tôi. Tất cả vẫn trôi đi, trời đã tối mịt, và đoàn xe tưởng chừng dài như vô tận. Tôi chận một chiếc Honda vừa trờ tới. Tôi hỏi người lính lái xe như một người ngoài cuộc. Người lính nhìn tôi trong một thoáng giây, rồi anh nói nhẹ như một cơn mơ:

"Xe còn dài lắm, ít ra cũng tới nửa khuya mới hết. Nếu kể cả người đi bộ thì phải tới sáng mai."

Tôi quay mặt ra biển. Đại dương gầm thét xa xa, trời tối như mực. Hôm nay là ngày 28-3-1975, miền Nam Việt Nam đã đứng vững như một quốc gia hơn hai mươi năm. Người ta đã ký với nhau một hiệp ước hòa bình. Hơn hai năm trước gập Phan Nhật Nam bên kia bờ Thạch Hãn, tôi và Nam cũng có mặt thi hành việc trao đổi tù binh của văn kiện này. Đã lâu không gặp Nam, tối đó về Huế tôi rủ Nam đi nhậu. Chúng tôi chọn một quán vắng trên bờ sông Hương. Hôm đó trăng cũng sáng vằng vặc. Bình thường cả hai chúng tôi đều là loại chịu nói, lại có rượu vào nên nổ như pháo rang. Nam hỏi:

"Ông là lính trừ bị, hòa bình rồi sẽ giải ngũ. Vậy thì giải ngũ ra ông làm nghề gì?"

Tôi đần mặt ra, thật tình chưa bao giờ tôi nghĩ đến vụ này. Nam phá lên cười và tiếp:

"Mẹ kiếp. ông làm quân cảnh, mà ông lại làm thơ, ông lại mê văn nghệ, ông nhậu như hũ chìm, tôi sợ giải ngũ ông không có sức để đạp xích lô."

Đêm đó Nam rủ tôi về chỗ anh trọ. Anh nói lung tung về hòa bình, anh vẽ ra thật nhiều viễn ảnh, song tôi thấy viễn ảnh nào cũng đen tối, cho dù hòa bình thực sự có về với chúng tôi. Thế mà hòa bình không về. Kể từ hôm mất Ban Mê Thuột đến nay, vỏn vẹn mười sáu ngày, Miền Nam thu nhỏ lại một chiều dài năm trăm cây số. Bây giờ Bình Đinh là ải địa đầu. Thị xã Qui Nhơn nằm trong tầm đại bác của địch. Bắc quân đang dốc toàn lực hàng chục sư đoàn Nam tiến. Chúng dốc toàn lực vào các trận đánh qui mô, bỏ sở trường là chiến tranh du kích, để đánh những trận địa chiến, bởi lẽ chúng biết chắc sẽ thắng.

Trời đã quá nửa khuya. Ngoảnh mặt lại tôi vẫn thấy thỉnh thoảng một ánh đèn xe lạc lõng xuất hiện nơi ngã ba, ánh đèn quét một vùng rộng trước mặt. Hai bên đường, những người bỏ phiếu bằng chân vẫn đi lầm lũi. Tất cả xuôi Nam. Họ sẽ tới đâu khi ván bài đang cạn nước. Mai này tôi ngược ra phía bắc. Qui Nhơn bây giờ là ải địa đầu. Mai này tôi tới đó không biết có cơ hội trở về cây cầu đang đứng hôm nay?

Trăng hai mươi mọc muộn nhô lên. Tôi rời lan can cầu, ngồi vào tay lái chiếc xe Jeep vừa mượn của đồn quân cảnh Tuy Hoà. Tôi chưa muốn về nghỉ. Thành phố không một bóng người. Tôi quyết định đến thăm Y Uyên, một người đã chết. Biết đến bao giờ tôi mới lại được ngắm lại chân dung anh qua pho tượng nhỏ của thành phố đáng yêu này?

*

Phần 2

Qui Nhơn-Phú Quốc

Ngày N + 10, 11 giờ khuya

Khi tôi lái xe về đồn Quân cảnh Tuy Hoà, dòng xe cộ vẫn không ngớt lao về phương Nam. Tất cả thành phố nhà nào cũng cửa đóng then cài, nhưng tôi biết chắc mọi nhà đều còn thức. Từ trên xe nhìn ra, hầu hết các nhà còn đèn sáng. Tôi nghĩ đến Pleiku, Kontum, Phú Bổn, Đà Nẵng, Huế v.v... Tôi nghĩ xa hơn một chút về chiến tranh Nam Bắc Hàn hơn hai mươi năm trước, và không hi vọng một chút nào về sự tham chiến của Liên Hiệp Quốc vào Nam Việt Nam. Chắc chắn vậy Nam Việt Nam sẽ phải tự lực và làm gì để có thể chặn đứng được Bắc quân. Tôi muốn nói tới chặn đứng lại cái đà vũ bão của Bắc quân chứ không hề nghĩ tới việc đổ bộ ra bên ngoài vĩ tuyến 17 như quân đội Liên Hiệp Quốc đã làm đối với chiến tranh Nam Bắc HHHàn. Cả vùng I và quân đoàn 1 đã tan biến đi, bây giờ là vùng II đang rã thành những mảnh nhỏ.

Thật là kỳ lạ, chiến tranh gì mà giống hệt như một phản ứng hóa học, quân lực miền Nam càng lúc càng giống như nước bị bốc thành hơi, nó biến đi như bọt xà bông tan trong nước. Thế mà mai này tôi ngược ra phía Bắc, mai này tôi phải tới Qui Nhơn, nơi đó có cả một đơn vị đang chờ ở đó, không những thế vợ con tôi ở đó, một chỗ yên bình tạm thời chưa có giao tranh. Đó là chỗ tôi phải tới phải nhận lãnh trách nhiệm làm con chim đầu đàn. Cầu mong cho tôi đủ sáng suốt, đủ bình tĩnh, bởi lẽ mỗi một quyết định của tôi từ mai sẽ không còn ảnh hưởng tới cá nhân tôi, mà ảnh hưởng tới vận mạng của hơn một trăm binh sĩ dưới quyền cùng vợ con họ, và tất nhiên cũng ảnh hưởng tới số phận vợ và hai con đang nôn nả chờ tôi về, chờ tôi dẫn họ ra khỏi vùng trời đầy bất trắc đó.

*

Ngày N + 11, 7 giờ sáng

Trung tá Trần Đình Kha, Chỉ huy trưởng Quân cảnh vùng II Chiến thuật chờ tôi tại đồn Quân cảnh Tuy Hoà. Ông muốn đích thân trao cho tôi công điện từ Bộ Chỉ huy Quân cảnh. Tưởng cũng nên nhắc lại ông Kha có tham dự cuộc rút lui đường bộ từ Pleiku xuống Tuy Hoà, dẫu ông chỉ hiện diện có bốn ngày đầu, rồi sau đó leo lên trực thăng về Nha Trang trước để sửa soạn đón cả đơn vị. Ông Kha đã ra Tuy Hoà cả mười ngày nay phần để lo đón tiếp đơn vị, kiểm điểm một cách tạm thời những ai còn, những ai mất. Có lẽ ông Kha cũng muốn nhắn nhủ tôi đôi điều, khi muốn đích thân giao công tác này. Phần chính điện văn:

  1. Đại úy Nguyễn Cao Thịnh thuộc Bộ Chỉ huy Quân cảnh Quân khu 2 được chỉ định thay thế thiếu tá Trương Văn Cao trong chức vụ Chỉ huy trưởng trại giam Pleiku.

  2. Thiếu tá Trương Văn Cao thuyên chuyển về Ủy ban Liên lạc bốn bên.

  3. Đại úy Nguyễn Vinh Hiển được chỉ định chức vụ Chỉ huy trưởng trại giam Qui Nhơn thay thế thiếu tá Đèo Ngọc Thanh. Đồng thời đại úy Nguyễn Vinh Hiển được chỉ định kiêm nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Quân cảnh khu chiến miền Bắc...

Các nơi nhận khẩn thi hành.

Cái khôi hài của công điện này ở chỗ, nó đến tay đại úy Nguyễn Cao Thịnh thì đơn vị của ông ta đã tan biến mất trong đoàn người hỗn độn của liên tỉnh lộ 7. Còn đối với tôi, thì Bộ Chỉ huy Quân cảnh có lẽ trong lúc bối rối, lo lắng về các đơn vị nhỏ, rời rạc còn lại ở vùng II nên mới đẻ ra cái chức vụ Chỉ huy trưởng Quân cảnh khu chiến miền Bắc, lại quên không cho biết vùng Bắc là vùng nào? gồm những địa danh nào? giới hạn của nó tới đâu?

Tôi cũng chẳng buồn hỏi lại trung tá Kha. Nói cho cùng, trên liên tỉnh lộ 7, khi ông Kha leo lên trực thăng về trước với lý do chính đáng để lo doanh trại cho đơn vị ở Nha Trang, thiếu tá Nguyện Tiểu đoàn phó, kiêm Chỉ huy phó Quân cảnh Quân khu II tách ra khỏi đơn vị, ông ta đi lẫn với Liên đoàn Biệt động quân. Cũng không nên trách ông Nguyện, đó là tình trạng chung của đoàn di tản, không có chỉ huy, mạnh ai nấy lo. Ngay từ khi thượng sĩ Hạp thuộc trại giam Pleiku bị bắn chết, tôi để ý tới các binh sĩ của binh chủng tôi ngụy trang tới mức tối đa, có thể họ lo Việt cộng tấn công thì ít, mà lo những thù oán cá nhân nhiều hơn. Nếu Việt cộng có tấn công thì đó là tình trạng chung, còn trả oán lại là chuyện riêng mà binh sĩ của binh chủng Quân cảnh đành phải chấp nhận. Tới bây giờ tôi xót xa nhận thấy vấn đề lãnh đạo, chỉ huy của quân lực miền Nam. Ngoại trừ các đơn vị trực tiếp chiến đấu, thực sự đổ máu nơi trận địa, nơi những người lính Nhẩy dù, Thủy quân Lục chiến, Biệt động quân, hay các trung đoàn, tiểu đoàn bộ binh v.v.. . Cấp chỉ huy ở những đơn vị này có một phong thái khác với phong thái của các đơn vị yểm trợ. Quân lực miền Nam sản xuất những trung đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng có thể nói là hàng đầu của thế giới, chính nhờ vậy mà miền Nam đã đứng vững suốt hai mươi năm. Nhưng đối với các đơn vị yểm trợ thì sao? Lấy ví dụ như quân đoàn II, có một ông đại tá trưởng phòng 4, coi tiếp liệu cho cả vùng II chiến thuật xuất thân khóa 13 Thủ Đức, và chuyên cắp cặp, cũng như dẫn gái cho tướng Toàn từ lúc mới ra trường, trong mười hai năm leo từ chuẩn úy tới đại tá không một ngày trận mạc.

Lấy một ví dụ khác, trong binh chủng của tôi, cái binh chủng lo về quân phong, quân kỷ cho quân lực miền Nam. Nhìn bề ngoài chúng tôi vẫn có kỷ luật, bởi lẽ kỷ luật là sức mạnh của quân đội, nhưng bên trong mầm mống bất phục nẩy ra ở khắp mọi nơi. Không có một cái nhà nào dột ở đưới đất. Nó dột từ trên mái. Trong suốt mười hai năm phục vụ trong ngành, tôi đã đi đủ bốn vùng chiến thuật, hiện diện tại các đại đơn vị của binh chủng, và tôi đau lòng nhận thấy tôi không hề tâm phục, khẩu phục được bất cứ một cấp chỉ huy nào. Binh chủng tôi đã không có những người tài năng, với những người tương đối có đức độ, thì đời hành cho tã ra, công danh, sự nghiệp cứ thụt lùi mãi. Cầm cái công điện chỉ định chức vụ mới, tôi thoáng ngậm ngùi, bởi lẽ nếu không có cuộc "di tản chiến thuật", chắc chắn tôi sẽ không bao giờ được chỉ định giữ chức vụ này.

Năm, bẩy năm trước nó là chỗ người ta đổ đồ Mỹ, nó là chỗ dành cho tay chân, đàn em của mấy xếp bự. Dẫu chút công danh cuối mùa có khó nuốt như một trái đắng, tôi cũng sẽ nhận. Nếu không tôi cũng phải tạm vắng mặt ít nhất 10 ngày, để vọt ra Qui Nhơn đưa vợ con tôi lánh nạn, có một chút phương tiện trong tay vẫn hơn là không có gì.

*

Ngày N + 11, 9 giờ sáng

Đích thân Thiếu úy Huy, Trưởng đồn Quân Cảnh Tuy Hoà lái xe đưa tôi ra trạm kiểm soát, ở đó Huy đón một chiếc xe đò để gởi tôi ra Qui Nhơn. Huy phân trần với tôi là không thể cho tôi mượn một chiếc Jeep với tài xế lái đưa tôi ra đó, anh có vẻ ái ngại, chúng tôi trao đổi với nhau thật ít lời. Tôi tuyệt đối không có một chút buồn nào về việc ngồi xe đò ra Qui Nhơn. Xét ra trong hoàn cảnh này, mặc dân sự đi xe đò có khi an toàn hơn hai thầy trò cưỡi một chiếc Jeep. Tôi cẩn thận nhét vào bụng một khẩu Colt 9, thủ trong túi một trái lựu đạn Mini, những thứ này hiển nhiên không phải để đánh nhau với Việt cộng, nhưng đủ để ép chúng phải khai hỏa, trong trường hợp chính tôi không có đủ can đảm tự sát. Tôi không bao giờ muốn bị bắt sống vì hai lý do: Một là trong những năm làm việc ở trại giam Phú Quốc và trại giam Biên Hoà, những người anh em bên kia có ưu ái tặng cho tôi một bản án, khi bị bắt, sớm hay muộn họ cũng truy nguyên được tôi là ai, và bản án chắc chắn sẽ được thi hành trong tăm tối. Hai là tôi vốn có một chúi tự ái, sĩ diện hão, chắc chắn không chịu nổi những bạo hành về tinh thần trong lúc bị giam giữ. Những bạo hành về thể xác có thể chấp nhận được, vả lại đã tới đường cùng, trước sau cũng chỉ một lần.

Chọn một ghế sát với cửa lên xuống, tôi tuyệt không có một chút lo ngại nào. Tìm trong túi hành lý, lấy một quyển sách để đọc, lại đúng là quyển truyện của Remarque. Quyển sách này đúng là một ám ảnh lớn của tôi trong thời gian gần đây, cái không khí tôi đang thở cũng sặc mùi thuốc súng, cũng nhầy nhụa máu xương. Chỉ khác với cái khí hậu ở trong truyện là giá băng của mùa đông ở Âu châu, nên xác người còn tươi nguyên bởi những lớp tuyết phủ, còn chúng tôi đang ở vào mùa khô của vùng nhiệt đới, thây người trương lên, ruồi, nhặng, kiến bu đen kịt và mùi hôi thối xông lên nồng nặc.

*

Ngày N + 11, 12 giờ trưa

Xe bắt đầu leo dốc đèo Đại Lãnh. Người ta thường ca tụng phong cảnh đèo Hải Vân. Riêng tôi, thấy Đại Lãnh đẹp hơn Hải Vân. Nó hùng vĩ hơn, ngay cả cái tên. Tên Hải Vân có vẻ lãng mạn, thơ mộng, trong khi tên Đại Lãnh nghe có vẻ ngang tàng khí phách hơn, với một ngọn núi đứng riêng biệt ngay ngoài vịnh, ngọn núi thẳng như một tòa thành cổ, có một vách núi bích lập trông từ xa như một bức tường thành, ở trên đó cây cối xanh rì. Đại Lãnh dễ chừng không dài và không cao bằng Hải Vân, nhưng nếu có thấp cũng không thấp hơn mấy chút. Hàng triệu tảng đá xanh, tảng nào cũng dị dạng, có những tảng to bằng cả căn nhà nằm rải rác dọc theo chân đèo. Con đường len lỏi giữa những tảng đá chập chùng, càng lên cao càng ngoằn ngoèo, có chỗ như ruột dê. Lên tới đỉnh đèo một ngôi chùa lớn mới dựng, ngói còn đỏ au, và tường vôi còn trắng ngát. Mới hơn một năm trước đây, chỗ của ngôi chùa chỉ là một cái am nhỏ, người ta thiết lập để cúng vái những người chết oan uổng dọc đường. Dựng một ngôi chùa ở đây quả là đúng, xa thị trấn ồn ào, phong cảnh có sơn có thủy. Chỉ phiền một điều, mấy nhà sư thật trẻ và trông thật bậm trợn, nơi đây cần một nhà sư càng già càng tốt, càng đạo hạnh càng tốt.

Những nhà sư trẻ tôi thấy hôm nay, có vẻ giống sư của chùa Thiếu Lâm, lúc chùa này mới khởi thủy, có nghĩa là bộ áo nhà tu chỉ là cái vỏ ngoài che đậy, bên trong họ là những hiệp sĩ cứu khốn phò nguy, chính những nhà sư của chùa Thiếu Lâm này đã giúp một phần không nhỏ cho Lý Thế Dân tạo lập nhà Đường. Rồi nhà Lý của nước ta, khởi đi từ hậu viện của một ngôi chùa. Cuối đời Trần đầu nhà Lê, sư nhiều đến nỗi nhà nước phải khảo hạch kinh điển, mười người có đến sáu bảy phải trả áo lại cho tăng viện. Kể từ sau vụ Phật giáo ở miền Trung, thật tình mà nói chùa chiền không còn lo Phật sự thuần túy, nhiều chính khách núp dưới bóng tăng bào, nhiều thanh niên đến tuổi đi lính, cũng vào ở đó, và sau cùng Việt cộng cũng có mặt. Gia đình tôi có thể nói là một gia đình sùng đạo. Mẹ tôi, vợ tôi ăn chay một tháng bốn ngày, các anh tôi một tháng hai ngày. Nhưng tôi, tôi vẫn không thể cảm nổi những nhà sư thật trẻ. Dẫu cho những nhà sư thật trẻ đó đi tu thật, đi tìm chân lý thật. Nhưng hễ cứ mười tám, mười chín tuổi mới đi tu, thì xin phép tôi ngờ.

Xe ngừng ở cổng chùa, một vài người khách trên xe bước xuống, tôi nhìn thoáng qua tia mắt họ và cảm nhận chắc chắn họ không phải là khách hành hương, chắc chắn họ viếng chùa với mục đích khác. Tôi e ngại mình sẽ phải đụng độ với họ trong vài ngày ngắn ngủi sắp tới. Với cái đà "di tản chiến thuật" này nhiều lắm là một tuần lễ nữa tôi có thể gặp lại họ. Cầu mong cho linh cảm của tôi sai.

*

Ngày N + 11, 2 giờ chiều

Chung cục tôi cũng tới nơi phải tới, xe đò ngừng ngay trước cổng trại. Đây có lẽ là lần đáo nhậm đơn vị kỳ cục nhất của tôi. Tôi đã chọn một bộ quần áo thảm thương nhất, và lết một đôi dép da lững thững tiến về cổng chính. Hạ sĩ quan đốc canh nhận ra tôi, anh ùa ra cùng vài người lính, họ chào tôi với nét hân hoan lộ rõ trên nét mặt. Cứ nhìn ánh mắt của những người lính trong đơn vị, tôi cảm nhận ngay lập tức đây chính là những chiếc huy chương của tôi.

Cả đời binh nghiệp của tôi mỗi lần thay đổi thường đánh dấu bằng những lệnh phạt, nhưng ở đơn vị nào cũng vậy, khi ra đi bao giờ đám binh sĩ cũng tiếc thương, nhung nhớ tận tình. Trong cuối mùa thảm kịch này, tôi đến đây không ít thì nhiều cũng mang lại tin tưởng cho cả đơn vị. Mấy người lính trẻ từ các phòng ốc ùa ra, họ gọi nhau ơi ới. Tôi nhận ra một số khuôn mặt quen thuộc: những người lính ở rải rác tại những đơn vị cũ, những học viên ở Vũng Tầu. Cả chục người xúm xít quanh tôi, có người bạo miệng nói:

"Tụi em tưởng Đại úy sẽ không ra." Rồi như sợ lỡ lời anh ta chữa lại:

"Tụi em nghĩ ông thầy sẽ không ra sớm sủa như thế này."

Công điện tới đây đã một tuần lễ, nhưng mọi người đều biết là đại úy còn kẹt với Tiểu đoàn 2 Quân cảnh trên đường chạy loạn.

Một người lính tương đối lớn tuổi, giằng cái xắc tay của tôi:

"Em là tài xế cho Thiếu tá Thanh. Đề em đưa đại úy về phòng nghỉ."

Tôi dặn anh ta:

"Mời tất cả các sĩ quan và trưởng ban quân xa họp tại phòng tôi trong vòng một tiếng nữa." Đám lính dãn ra ngoài, tôi nghe những bàn cãi xôn xao:

"Tao biết chỉ (vợ tôi) ở đây, thế nào ảnh cũng ra mà, có ảnh là mình đỡ lo rồi."

Một giọng khác nghi ngờ:

"Mày nói ổng có vợ ngoài này thì ổng ra ổng lo cho vợ con ổng chứ."

"Dẫu sao có một người chỉ huy vẫn hơn. Mày đã làm việc với ổng bao giờ chưa?"

"Chưa."

"Chưa mày mới nói vậy. Tao nghĩ rằng vài ngày nữa mày sẽ biết thế nào là anh Ba Râu."

Tôi bỏ vào phòng tắm.

*

Ngày N + 11, 2 giờ 30 chiều

Khoác bộ quân phục vào người bước ra sân trại, còn nửa tiếng nữa tôi sẽ chính thức đương đầu với tình hình của đơn vị, tôi muốn dạo một vòng. Năm bẩy năm trước đây, với một người khéo xoay xở, thì đây là chỗ hái ra tiền. Dấu tích của một thời vương giả còn sót lại nơi bàn giấy của Chỉ huy trưởng, những dụng cụ văn phòng của quân đội Hoa Kỳ. Bàn ghế, tủ giường đẹp đẽ, ngăn nắp. Sân trại vắng hoe.

Mấy năm trước đây khi hai bên chưa trao đổi tù binh, trại này chứa tất cả tù binh phụ nữ của toàn quốc gom lại, đâu cũng cả ngàn nữ tù binh. Những nữ tù binh này ở trong một khu riêng biệt chiếm nửa diện tích, nửa còn lại tùy tình hình chiến sự có sức chứa năm, bẩy trăm tù binh nam chờ ra hải đảo. Một dẫy Conex với hàng rào kẽm gai bao quanh nằm trong khu sân trại. Đây chắc là chỗ nhốt tù binh bị phạt biệt giam. Thiếu úy Cảm sĩ quan điều hành trại thấy tôi ở ngoài sân, anh chạy ra chào có ý chờ tôi hỏi về tình hình đơn vị. Thoạt nhìn anh tôi đã có một chút tin cậy. Tôi nói với Cảm:

"Tôi muốn coi hệ thống phòng thủ."

Cảm đi phía trái tôi, thụt lùi đằng sau một bước. Vòng đai phòng thủ dài hơn hai cây số, nhiều chỗ bị nước mưa sói mòn, chó chui qua một cách dễ dàng. Và dĩ nhiên người còn có thể dễ dàng hơn nữa. Cảm có vẻ ái ngại trình bầy:

"Thưa Đại úy từ ngày trại trao trả hết tù binh, vấn đề phòng thủ vòng đai có vẻ lơ là, nhưng tại Bộ chỉ huy hệ thống phòng thủ rất kiên cố. Mình có hai pháo đài, mỗi pháo đài có cả đại liên 50."

"Anh cho tôi biết về tình trạng bãi mìn."

"Nó vẫn còn hữu dụng, Đại úy."

"Tình hình các đơn vị bạn thì sao?"

"Thưa Đại úy, chung quanh các đơn vị bạn phần lớn là các đơn vị tiếp liệu của quân nhu và quân cụ, họ cũng như chúng ta là lính chuyên môn, lính văn phòng. Dường như các đơn vị đó cũng triệt thoái khá nhiều về Nha Trang, quân số mỗi đơn vị còn lại nhiều lắm là một nửa. Chỉ có trại giam mình như rắn không có đầu, chúng tôi không biết làm gì hơn là chờ đợi. Thật tình mà nói khi nhận công điện thuyên chuyển của Đại úy về đây, cả đơn vị đều lên tinh thần. Thiếu tá Thanh đi phép rồi biệt tích ở Ban Mê Thuột cả tháng nay. Bây giờ không biết số phận ra sao? Tôi cho xe Jeep vào Tuy Hoà đón Đại úy đã hai ba ngày ngay từ lúc nhận được công điện. Chờ lâu quá họ mới về vì vợ con họ cũng kẹt lại cả ở đây."

"Cảm có vợ chưa?" Tôi hỏi bằng một giọng thân ái.

"Thưa Đại úy rồi, chúng tôi được một cháu ba tuổi."

Tôi leo lên một tháp canh của trại. Những tháp canh của trại giam cao ngạo nghễ này để lính gác có thể quan sát hoạt động của tù binh trong trại. Cảm leo theo tôi. Từ vi trí cao này, nhìn được khắp vùng, sau những doanh trại quân đội, sau nhà cửa của dân chúng là những cánh đồng phì nhiêu của tỉnh lỵ Bình Định. Một con sông nhỏ phía tay phải độ hai cây số, xa hơn nữa về phía tây, những ngọn núi nhô lên khỏi đồng bằng, đây là một trong rất nhiều nhánh nhỏ đâm ra biển của rặng Trường Sơn.

Chính nơi đây hai thế kỷ trước một vĩ nhân của dân tộc Việt ra đời. Chính nơi đây ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ đã từ đất dấy lên, từ địa vị khiêm nhường một biện lại chuyên thu thuế, một nông dân thuần túy, cũng chỉ vì tình cờ thua bạc hết tiền thuế để nộp, Nguyễn Nhạc nổi lên vô tình khơi động đúng cái lòng mong mỏi của dân chúng đôi bờ sông Gianh. Nguyễn Nhạc thật khá giống như Trần Thiệp trước thời Hán Sở tranh hùng. Không có Thiệp chưa chắc Hạng Võ và Lưu Bang xuất hiện. Không có Nguyễn Nhạc, chắc chắn Nguyễn Huệ sẽ chỉ là Nguyễn Huệ và sử Việt sẽ mất một chương về Quang Trung Hoàng Đế. Phải có Nguyễn Nhạc là nguyên tố chính của phản ứng lịch sử dưới thời Trịnh Nguyễn. Giai đoạn lịch sử đó là đầu mối của nhiều triều đại thay đổi trong lịch sử sau này, mà ở đó Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã vào Nam, Nam tĩnh, ra Bắc, Bắc yên. Để đến khi lên ngôi Hoàng Đế, ông đã dùng chiến thuật thần tốc trong mười ngày từ Phú Xuân tiến đánh Thăng Long. Quân số đã ít vừa đi vừa mộ thêm quân, dẫu cho quân đội bây giờ, phương tiện cơ giới đầy đủ, cũng không thể làm được.

Đám sử gia của triều Nguyễn, vì một chút đỉnh chung đã bôi lọ con người Nguyễn Nhạc, một giai đoạn lịch sử trong đó có bao nhiêu nhân vật kỳ lạ, như ông giáo Hiến kẻ khai mở trí tuệ cho ba anh em Tây Sơn, rồi mối thù giữa Trương Văn Hạnh và Trương Phúc Loan, mà ở đó thầy giáo Hiến vì muốn trả thù cho tri kỷ Trương Văn Hạnh, đã lặn lội sông hồ từ Nam ra Bắc, sau cùng bắt gặp được tại Phú Phong, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ. Cái ngẫu nhiên của lịch sử thật ra không phải tình cờ. Đó là sự sắp xếp của Trời, của Người và sau cùng nẩy ra Quang Trung Hoàng Đế. Tôi chợt nghĩ làm anh hùng thật ra cũng không khó bởi lẽ thời thế tạo anh hùng. Theo tôi làm một người bình thường lương thiện và yêu nước mới thật là khó. Càng khó hơn nữa nếu muốn yêu nước, lương thiện trong lúc loạn lạc như giờ này còn khó hơn một bậc. Hôm nay là ngày 29-3-1975, tôi dừng cách địa danh lịch sử không đầy năm chục cây số. Bối cảnh đất nước cũng chia đôi như thời Trịnh Nguyễn, cũng hỗn loạn, cũng nhiễu nhương, quân đội hai miền Nam Bắc, hay khác đi hai nửa phần dân tộc đương bị đẩy vào một trận chiến còn khốc liệt hơn thời Trịnh Nguyễn. Bởi lẽ Trịnh Nguyễn có đánh nhau cũng chỉ là nội bộ dân Việt, bây giờ đằng sau Nam và Bắc là những thế lực quốc tế. Chúng ta có quá nhiều khó khăn thế mà chúng ta thiếu ông giáo Hiến, thiếu Nguyễn Nhạc, thiếu Quang Trung Hoàng Đế.

*

Ngày N + 11, 3 giờ chiều

Toàn thể sĩ quan của trại hiện diện trong văn phòng, có cả một bác sĩ rất trẻ, Y sĩ Trung úy Huấn Y sĩ trưởng bệnh xá của trại giam và hạ sĩ quan trưởng ban quân xa. Tôi vào đề ngay bằng cách tự giới thiệu ngắn và gọn:

"Tôi thành thực cảm ơn tất cả các anh đã hiện diện đầy đủ. Rút kinh nghiệm của cuộc di tản đường liên tỉnh lộ 7, tôi yêu cầu mọi người tin tưởng ở tôi, cũng như tôi tuyệt đối tin tưởng nơi các anh. Chúng ta sẽ phải tự lo liệu lấy. Tôi tiên đoán sẽ phải rút lui trong vài ngày sắp tới và chúng ta có một lúc hai kẻ địch: Việt cộng và thời gian. Có vài việc phải làm ngay:

  • Tất cả các ban thu dọn hồ sơ căn bản.
  • Tiếp liệu và quân xa báo cáo tình trạng xe, nhiên liệu, lương khô cũng như vũ khí đạn dược.
  • Điều hành báo cáo về tình trạng quân số, cũng như tình trạng tù binh.
  • Đại đội chuyên trách tù binh chia cho tôi thành sáu tiểu đội, chia đều các hạ sĩ quan và binh sĩ, mỗi tiểu đội có một, hai hạ sĩ quan kinh nghiệm làm trụ, khi di chuyển thì tiểu đội nào đi với tiểu đội ấy.

Như các anh biết tôi tới đây vừa được một tiếng đồng hồ, bây giờ tôi về nhà, trong hai giờ nữa tôi muốn thấy báo cáo chi tiết của mọi ban trên bàn giấy tôi. Và đúng 6 giờ chiều nay, tôi muốn hội toàn thể binh sĩ các cấp ở hội trường. Sau đó tôi muốn làm việc riêng với Điều hành, Tiếp liệu, Nhân viên và bác sĩ Huấn."

Đây rõ ràng không phải là buổi hội. Mọi người lục tục ra về, tôi giữ người hạ sĩ quan trưởng ban quân xa lại và hỏi:

"Đơn vị có bao nhiêu xe GMC và xe Dodge còn sử dụng được?"

Anh ta trả lời:

"Mình có năm xe GMC thì ba chiếc hư, một chiếc dùng để chở nước, còn xe Dodge có hai chiếc hiện đang sử dụng tốt."

Tôi hạ lệnh:

"Thượng sĩ cho tháo bỏ cái citern nước. Ba chiếc hư còn lại, tháo đồ của xe này ráp vào của xe khác. Ông làm sao cũng được, tôi muốn có ba chiếc GMC sử dụng được, chậm nhất là sáng ngày mốt phải thi hành xong."

"Thưa Đại úy nếu muốn mình có thể có bốn chiếc GMC nhưng Đại úy cho tôi bốn ngày, tới sáng ngày mốt thì mình chỉ có thể tháo được cái citern nước để sử dụng được hai chiếc."

"Tôi nhắc lại cho Thượng sĩ biết mình có hai kẻ địch, một là Việt cộng thì còn ở hơi xa, nhưng thời gian là kẻ địch ngay trước mắt. Ông cần bao nhiêu người để phụ tôi sẽ cung cấp. Ngay cả nếu cần phải mướn thợ chuyên môn ở ngoài, cứ gọi họ vào làm. Tôi sẽ có cách trả công cho họ. Ông có vợ con, nhà cửa ở đây không?"

"Thưa Đại úy có. Tôi ở đây lâu rồi, sáu năm rồi, nhà tôi ở ngay Phú Tài này. Vợ tôi buôn bán lăng nhăng qua ngày."

"Xe phải xong sáng ngày mốt. Tôi sẽ cho di tản vợ con binh sĩ của toàn thể đơn vị vào Nha Trang trước, ông cũng nên thu xếp nhà cửa, đồ đạc, cái gì quí giá nhỏ thì mang theo, lớn thì chôn cất, giấu diếm. Chắc chắn chúng ta sẽ phải rút về phía nam. Rán sửa xe đi, làm cả đêm nay và ngày mai, nếu cần cả đêm mai. Mình không còn chút thì giờ nào để phung phí đâu Thượng sĩ."

*

Ngày N + 11, 3 giờ 45 chiều

Trung sĩ Phúc, người đã làm việc với tôi nhiều năm trước ở trại giam BiênHoà, lái xe đưa tôi về nhà. Kể từ giờ phút này Phúc tạm lái xe cho tôi, Phúc còn độc thân, không bận rộn vợ con như người tài xế cũ của Thiếu tá Thanh. Dạo ở BiênHoà chưa có vợ, tôi nổi tiếng là một sĩ quan vô kỷ luật nhất của binh chủng, đối với các hạ sĩ quan trẻ như Phúc quả tình tôi là một loại đàn anh đúng nghĩa. Phần lớn họ gọi tôi bằng anh xưng em. Cấp bậc chỉ để cho các hạ sĩ quan già, cũng như quân nhân các đơn vị khác gọi. Phúc nói với tôi:

"Bọn em định chuồn rồi, thấy Thiếu tá Thanh đi mãi không về mấy ông già trong đơn vị mạnh ai nấy lo thân, mấy sĩ quan thì lại quá trẻ. Anh mà không về thì cũng cả chục thằng dọt."

"Tình hình đơn vị ra sao? Nói chung về tinh thần."

"Thì anh thấy rồi đó, không một ai biết phải làm gì? Giờ này mà ông Trung úy ban Tiếp liệu còn lo đi xin đồ các đơn vị dọn đi bỏ lại. Người thì không lo, chỉ lo của. Mà nào có phải của quí giá gì cho cam."

Phúc cho xe chạy len lỏi giữa bến xe Lam đầu thị xã Qui Nhơn. Tôi nhìn thấy những cửa hiệu đóng im lìm, nhưng người thì qua lại vội vã tấp nập.

"Anh ở chỗ nào?"

"Chú cho tôi về Tăng Bạt Hổ, chỗ gần chợ."

*

Ngày N + 11, 4 giờ 15 chiều

Khi tôi bước chân vào nhà, cô em vợ trông thấy đầu tiên, kêu gọi om xòm.

"Anh Hiển về, má, chị Hải ơi. Bố về Quang ơi."

Má và vợ tôi từ trong nhà ùa ra như cơn lốc. Vợ tôi mừng không nói được câu nào, còn bà cụ thì vừa khóc vừa kể lể. Mọi người hỏi han tíu tít. Tôi bế đứa con gái nhỏ lên. Nó mới ăn thôi nôi được vài tháng. Ngày đầy tuổi nó tôi không về được, khi nó ra đời tôi phải đi trao đổi tù binh, cái tên dài thậm thượt tới năm chữ của nó là do vợ tôi đặt trong lúc tôi vắng nhà. Con bé lâu ngày mới gặp bố, toét miệng ra cười, trong lúc mẹ, bà ngoại lại âm thầm khóc. Tôi nói với mẹ và vợ tôi:

"Con đổi về ngay đây rồi. Nhưng việc trước mắt là cả nhà phải chạy loạn trước. Con về để má và em con khỏi phải lo, bây giờ cả nhà thu dọn đồ đạc, chỉ mang quần áo, tiền bạc và những gì quí giá. Nhà thì dĩ nhiên còn đó, chỉ sợ mình không về được thôi. Còn bàn ghế, tủ giường, ti vi, tủ lạnh ở đâu cứ để nguyên đó. Má, nhà con và các em sẽ đi vào Nha Trang ngày mốt. Đoàn xe của con chỉ có thể tới đó. Nhưng nếu được má và em ghé nhà bác Năm một ngày thôi, rồi vào Sài Gòn ngay. Con sẽ gởi thư mang tay cho mấy người bạn ở phi trường Nha Trang. Nhưng nhớ là nếu không đi phi cơ quân đội, thì dù là xe đò, ghe, cái gì cũng được phải vào Sài Gòn. Đừng lo về phần con."

"Anh đi ngay à?"

"Anh phải vào trại ngay bây giờ."

"Để em kêu người đi mua đồ ăn cho anh. Cơm chiều bây giờ mới sửa soạn."

"Anh không thấy đói, anh không thấy đói cả tháng nay rồi."

Thật vậy cả tháng nay tôi không bao giờ thấy đói, cứ tới bữa thì có gì ăn nấy. Những ngày nằm trên đập Đồng Cam, có ngày chỉ ăn hai hộp trái cây loại lương khô của Mỹ, có lẽ sự lo sợ làm cho con người ta no. Ngôn ngữ Việt quả là kỳ diệu LO và NO khác nhau một trời một vực nhưng cả hai đều liên hệ tới cái bụng.

"Má và Mợ lo cho anh lắm. Mợ gửi thư ra ngoài này hỏi, nhưng em đâu có biết gì. Má thì lúc nào cũng nói em đừng lo. Má nói anh giỏi giang, nhanh nhẹn và lại tốt bụng nữa. Không mệnh hệ gì đâu. Em thì em thấy nhiều người chết quá. Lại chết toàn người tốt bụng không à. Nhưng em đâu có dám nói gì. Tối nào má với em cũng niệm Phật, cầu xin Phật Tổ từ bi gia hộ cho anh, tai qua nạn khỏi."

"Tối nay em với má qua nhà dì Năm, cậu Sáu hỏi xem có ai muốn đi về Nha Trang không? Nhớ chỉ là người không thôi. Hỏi vậy thôi, chứ anh biết dì Năm, với cậu Sáu chưa chắc đã đi đâu."

"Bao giờ anh đi? Bao giờ thì anh vào Nha Trang?"

"Anh mong mỏi là anh không phải vào Nha Trang. Nhưng tình hình càng lúc càng bi đát. Anh mong có được một tuần lễ để sắp xếp đơn vị, nhưng chắc là không lâu được như vậy."

"Anh có tin gì của ba ở Pleiku không?"

"Trước khi đơn vị di tản, anh đến đón ba. Nhưng ba nói chạy đi đâu cũng vậy thôi. Vả lại ba buôn bán, lại già rồi, ba không muốn đi."

"Anh chị Trình, anh chị Hai con bác Năm có đi không?"

"Anh không biết. Anh chị Trình thì đã có chiếc xe LandRover, dư sức chạy nếu họ muốn chạy. Còn anh chị Hai thiếu gì tiền mua vé máy bay chợ đen. Họ đã vào Sài Gòn rồi."

"Bây giờ anh đổi về Đồn quân cảnh Qui Nhơn hả?"

"Không, anh đổi về trại giam ở Phú Tài."

"Sao anh không xin đổi về trước đây vài tháng?"

"Anh không xin đổi về. Ở trên chỉ thị anh về đây bởi vì bây giờ không có ai muốn ra đây. Dẫu sao thì anh cũng có mặt gần nhà vào giờ phút này là quí rồi. Em có bận không? Nếu không, anh muốn lái xe chở em với con đi một vòng thị xã."

Tôi cần một chút thì giờ suy nghĩ trước khi về lại trại, vợ tôi bế đứa con gái nhỏ ra xe, trong khi thằng lớn mới 3 tuổi được dì dắt ra xe ngồi chễm trệ từ trước. Có vợ con ngồi bên cạnh, tôi cảm thấy an tâm hơn, tôi lái xe ra bờ biển, chỉ độ năm phút. Cả một bãi biển vắng như bãi tha ma. Những Kiosque này ngày xưa nhộn nhịp biết bao, bây giờ gió biển thổi hất những tấm vải của những chiếc ghế đập vào khung gỗ kêu loạt xoạt. Tôi nhìn ra khơi, vắng bóng cả ghe thuyền. Vẳng trong gió tiếng tiêu của người lính Biệt động quân tôi đã nghe được trong buổi trưa cách đây không lâu đột nhiên nghe rõ mồn một. Đã tới lúc bách điểu chia ly. Trăm hoa tàn tạ, gió lặng tuyết tan. Trận chiến rồi sẽ ngừng trong cảnh tịch mịch đó. Tôi nhìn lại vợ tôi, con tôi và hiểu rằng những người thân yêu đó rồi sẽ có một ngày rất xa.

*

Ngày N + 11, 6 giờ chiều

Hội trường tương đối rộng. Dễ chừng đã cả năm nay không có một lần nào đơn vị sử dụng, nhện giăng đầy, bụi phủ khắp nơi. Có một chút cảm động khi tôi nhìn thấy tấm bảng đề tên, cấp bực và chức vụ của tôi, nước sơn còn mới có lẽ chưa khô, được gắn vào cái bục thuyết trình. Đó là những huân chương đúng nghĩa của nó. Chờ cho tiếng hô chào kính dứt, Thiếu úy Cảm đón tôi đưa lên bục thuyết trình. Tôi nhìn thấy hai nhóm rõ rệt. Phía Đại đội chuyên trách tù binh, Trung úy Đại đội trưởng đứng đầu, kế đó có một Thiếu úy, sau lưng hai vị này sáu tiểu đội đứng ngay hàng thẳng lối, với những hạ sĩ quan đứng trước. Phía Bộ chỉ huy Trại y sĩ Trung úy Huấn đứng đầu, kế đó là các sĩ quan phụ trách các ban, cùng tất cả nhân viên của Ban chỉ huy, dễ chừng cũng đến ba mươi người phần lớn là hạ sĩ quan. Khoát tay cho mọi người ngồi xuống. Mất chừng ba phút tôi mới mở được lời, những câu nói khó khăn ban đầu qua đi, tôi nói với họ về liên tỉnh lộ 7, tôi nói tới cuộc rút lui của quân dân ba tỉnh Pleiku, Kontum, Phú Bổn. Tôi nói tới việc chỉ huy của Tiểu đoàn 2 Quân cảnh. Tôi nói về cái chết của Thượng sĩ Hạp thuộc Trại giam Pleiku, tôi nói tới vợ Thượng sĩ Mạnh thuộc Đại đội 24 Quân cảnh Tư pháp đẻ giữa đồng trống, tôi nói về ba em nhỏ hướng đạo sinh, tôi nói về trường Thiếu sinh quân. Âm thanh của chiếc loa phóng thanh dội lại bốn góc tường, tôi nghe được giọng tôi giống hệt gã xướng ngôn viên của đài BBC, đài Đông Kinh, nó giống như tiếng vọng của địa ngục.

Đổi sang một giọng khác, tôi kêu gọi mọi người hãy tin vào tôi, tôi không hứa hẹn được một điều gì, nhưng tôi cam kết với họ là tôi "CÓ MẶT". Tôi kêu gọi mọi người cùng "CÓ MẶT" với tôi cho tới phút chót của đơn vị. Chúng tôi là những binh sĩ chuyên môn, nhưng không phải vì thế mà chúng tôi không biết chiến đấu. Chúng tôi đã được dạy bò, dạy bắn, tấn công, phục kích, canh gác v... v... Chúng tôi được huấn luyện thành một người lính, giờ phút này đây hãy đứng thẳng như một "NGƯỜI LÍNH".

Để có thể đứng thẳng như một "NGƯỜI LÍNH" tôi quyết định đưa vợ con binh sĩ vào Nha Trang trước. Tôi muốn biết ý kiến của toàn thể đơn vị. Đừng quên là vợ con tôi cũng sẽ đi với tất cả vợ con của các anh. Tôi cũng thông báo trước. Khi đơn vị triệt thoái, tôi không muốn có một người không phải là LÍNH trong đoàn xe.

*

Ngày N + 11, 7 giờ 45 chiều

Đồ ăn đã nguội, tôi ngồi vào ghế thủ vị, bác sĩ Huấn bên tay phải, Trung úy Đại đội trưởng bên tay trái, ngoài ra có tất cả sĩ quan của trại cùng vài ba hạ sĩ quan của ban Điều hành, Tiếp liệu. Đây là bữa tiệc đơn vị đón tôi. Những dịp thay đổi đơn vị trưởng như thế này trước kia là một lễ nghi kiểu cách. Họ dềnh dàng, dò xét, thăm hỏi xã giao. Họ bồn chồn lo lắng vì sợ phải thay đổi địa vị, chức vụ. Dĩ nhiên nó cũng thịnh soạn chớ không đơn sơ, đạm bạc như bữa cơm hôm nay, trong hoàn cảnh này không ai có thì giờ để bầy vẽ, nhưng tôi cảm ơn những người đón tôi vô cùng. Nó không có sơn hào hải vị, không chả phượng râu rồng, cũng không mổ bò, đãi trâu. Tôi đột nhiên thấy đói, đói như cả tháng nay chưa hề ăn.

Mới không đầy ba giờ trước, vợ tôi muốn đi mua đồ ăn cho tôi, tôi gạt phắt đi. Bây giờ là lúc tôi đói thật, tôi ăn tận tình, một mạch bốn chén cơm, trong lúc mọi người mới ăn một, hai chén. Có thể là họ giữ ý, có thể là họ LO, tôi đã có quá nhiều điều LO rồi, bây giờ tôi đói.

Lợi dụng một khoảng thời gian ngắn trong bữa ăn, tôi đề nghi quyệt xét lại toàn bộ khả năng đơn vị, đúng thật ra thì xét xem phải làm những gì cần thiết khi rút lui.

  1. Trước tiên về phía tù binh, chúng tôi còn 27 tù binh bị bắt sau khi Hiệp định Paris ký kết, nghĩa là sau khi trao đổi hết tù binh vào năm 1973, rồi từ đó hai bên đều tố cáo nhau vi phạm đình chiến. Kết quả cụ thể của vụ vi phạm này là người vẫn tiếp tục ngã, lửa vẫn tiếp tục cháy và đạn vẫn tiếp tục bay. Có giao tranh là lại có tù binh, do đó chúng tôi có 27 tù binh này. Đây là điều phiền toái nhất cho đơn vị trong lúc này. Dẫu sao chăng nữa tôi sẽ cố tới mức tối đa, để bảo vệ sinh mạng của chính chúng tôi cũng như chu toàn nhiệm vụ được giao phó. Đây là vấn đề nát óc nhất, nhưng chắc chắn là tôi sẽ giải quyết được.
  2. Về Tiếp liệu: cái tôi cần là lương khô dự trữ, nhiên liệu đủ dùng cho toàn thể xe cộ, bây giờ không phải là lúc bàn giao, kiểm điểm về bàn ghế, tủ giường, máy đánh chữ v.v... Tôi chỉ thị cho nhân viên lập một danh sách các quân nhân có gia dình sẽ di tản vào ngày mốt. Đồng thời Tiếp liệu có bổn phận phân phối hết số gạo dự trữ của đơn vị cho cái danh sách này. Tôi muốn mọi người yên tâm rằng cho dù vợ con họ có phải vào trại ti nạn ở Nha Trang, thì ít nhất vợ con họ cũng không đến nỗi sợ đói trong những ngày đầu bơ vơ nơi xa lạ. Tất cả lương khô quân đội, sẽ được phân phối đồng đều cho mọi quân nhân.
  3. Một nội lệnh sẽ được gửi đến Ban chỉ huy cũng như Đại đội chuyên trách Tù binh, ấn định khi di chuyển trên xe mọi quân nhân chỉ được mang quần áo cá nhân, vũ khí, cũng như lương khô được cấp phát. Tuyệt đối không mang theo những vật dụng nặng nè, cồng kềnh như xe Honda v.v... Nói tóm lại nhẹ nhàng và gọn ghẽ tới mức tối đa.
  4. Riêng với bác sĩ Huấn, tôi muốn ông kiểm soát lại những thuốc men và dụng cụ y tế tối cần thiết, nếu cần sẽ đi Nha Trang, Cam Ranh, về các kho y dược, các đơn vị quân y lớn cung cấp cho đầy đủ. Tôi nhấn mạnh là ông lo được càng nhiều thuốc men càng tốt.

Tôi nhớ đến hầm binh Xích Bích. Chém giết sắp đến hồi trời sầu đất thảm, tên đạn lại vô tình làm sao tên đạn có thể biết phải mất mười hai năm học trung tiểu học và bẩy năm y khoa mới sản xuất được một bác sĩ. Tôi nhớ đến cảnh Bàng Thống tung tin vịt để giúp Từ Thứ có cớ không phải hiện diện trong hầm binh Xích Bích. Tôi thấy sự có mặt của bác sĩ Huấn không thật cần thiết. Toàn đơn vị từ trên xuống dưới đều mạnh cùi cụi, còn khi hữu sự có lẽ chính bác sĩ Huấn cũng không giúp được chúng tôi nhiều nhặn gì. Tôi nghĩ đến con số thống kê cứ hai chục hay ba chục ngàn người Việt, mới có được một bác sĩ. Tôi tiếc những năm học này, bởi lẽ tôi lêu lổng từ nhỏ, xong trung học đã nghĩ rằng mình tài giỏi rồi giang hồ vặt, đúng là nhỏ mà không học lớn làm... Đại Úy. Tôi không thể chính thức nói bác sĩ Huấn ở lại trong đó, nhưng tôi nghĩ rằng Huấn đã đậu tới Bác sĩ chắc phải hiểu ý tôi muốn gì: "Ông không cần gấp, cứ từ từ, kiếm chỗ để cho bà ấy trú ngụ xong, lo thuốc men càng nhiều càng tốt rồi hãy ra đơn vị. Có khi cũng cả tuần lễ." Tình hình này làm gì có được một tuần lễ.

*

Ngày N + 11, 11 giờ đêm

Tôi lái xe chậm rãi trên vòng đai phòng thủ, hệ thống ánh sáng tốt, lính gác đầy đủ. Thiếu úy Đại đội phó cùng đi với tôi, anh có vẻ là một thư sinh, một thầy giáo hơn là một quân nhân.

Qua khỏi hàng rào là một bãi đất trống, dĩ nhiên đây là bãi mìn nhằm ngăn chặn Việt cộng len lỏi, đột kích vào đơn vị tôi để giải thoát tù binh. Tôi nghe những tiếng động ồn ào từ các đơn vị bạn. Tiếng động cơ xe gầm rú. Trong bóng đêm, phải nhìn qua bãi đất trống thế mà tôi vẫn thấy sinh hoạt ở hai đơn vị phải, trái của tôi rất nhộn nhịp. Tôi hỏi bâng quơ:

"Họ làm gì bên đó?"

"Chắc họ cũng sửa soạn di tản đó, Đại úy."

"Mình lái xe sang họ coi được không?"

"Bây giờ giới nghiêm rồi. Dĩ nhiên là mình đi được nhưng không biết ai sẽ tiếp Đại úy bây giờ."

"OK sáng mai tôi muốn qua các đơn vị bạn để thăm hỏi tình hình."

*

Ngày N + 12, 1 giờ sáng

Gấp tất cả các báo cáo chi tiết của ban lại, tôi đọc hờ hững những tập "Nhật ký đơn vị", lật qua lật lại đọc những biến cố lớn nhỏ đến với đơn vị từ ngày thành lập. Tôi đọc để mà đọc, bởi không biết để làm gì. Lạ nhà khó ngủ, lo sợ, đủ mọi chuyện. Những tiếng động ồn ào từ các đơn vị bạn càng lúc càng dữ dội.

Tôi ngồi dậy, đi xuống ban quân xa. Thượng sĩ Trưởng ban cùng cả tiểu đội lính đang quần thảo với chiếc xe GMC có citern nước.

Họ đã tháo được hết các đai sắt. Bây giờ là lúc trục nó xuống. Thấy tôi người hạ sĩ già hơn hai mươi năm quân vụ chạy lại chào, tôi hỏi thêm về những chiếc xe còn lại, ông ta trả lời:

"Chiếc này coi như xong. Còn chiếc kia hơi rắc rối, nhưng tôi hứa với Đại úy chiều mai mình có ba chiếc GMC chạy ngon lành, không thua gì xe của Quân vận."

*

Ngày N + 12, 8 giờ 30 sáng

Tôi choàng tỉnh dậy, mặt trời đã lên cao, đêm qua tôi trằn trọc mãi, tới gần sáng mới thiếp đi một giấc dài đầy nặng nhọc.

Mới tháng ba mà nắng đã đổ lửa trên đầu. Đơn vị lại nằm lọt giữa một khu thấp, nên nóng dữ dội. Đã từ gần tháng nay, tôi quen ngủ với quân phục trên người. Những hôm nằm gần đập Đồng Cam, có hôm còn không cởi cả giầy. Đánh răng, xúc miệng xong tôi bước ra bàn giấy. Một tờ báo để ngay ngắn bên cạnh chồng hồ sơ trình ký. Ngay trang đầu hình ảnh tơi tả của đoàn người về từ liên tỉnh lộ 7. Một bài thật dài về vụ rút lui này, một bài khác về tình hình vùng I, và sau cùng một bài nữa về tình hình vùng IV.

Nói chung tình hình vô cùng đen tối. Tôi để ý một bài nhỏ nhưng nó không kém quan trọng tới Việt Nam, đó là quốc hội Mỹ đang biểu quyết ngân sách viện trợ. Quốc hội Mỹ thông qua một ngân khoản ba trăm triệu Mỹ kim mà họ gọi là "viện trợ nhân đạo", nhưng viện trợ quân sự thì còn đang bàn cãi chờ biểu quyết. Đây là lần đầu tiên tôi thấy danh từ "viện trợ nhân đạo". Trước giờ chỉ có "viện trợ kinh tế và quân sự". Nam Việt Nam ngoài những bất lợi quân sự đối với kẻ địch là Việt cộng, đang chịu một trận chiến nữa với những người bạn, đó là trận chiến của những từ ngữ ngoại giao. Tôi e rằng trong khu rừng từ ngữ ngoại giao này chúng ta lại một lần nữa thất bại. Lại một lần nữa chúng ta lạc nẻo đường về.

Trung úy Đại đội trưởng đại đội Quân cảnh Chuyên trách Tù binh bước vào với vẻ mặt hốt hoảng:

"Đại úy hai đơn vị bên cạnh mình họ rút hết rồi. Dân chúng đang hôi của ở đó. Để tôi đưa Đại úy đi một vòng chung quanh các đơn vị bạn."

"Không cần nữa. Ông gọi ngay hộ tôi ông Tiếp liệu và Quân xa lên gặp tôi. Mời cả bác sĩ Huấn nữa. Riêng ông thông báo cho đại đội của ông tôi sẽ cho di tản vợ con binh sĩ vào Nha Trang đúng 1 giờ trưa nay. Chỉ thị cho binh sĩ chỉ mang quần áo mà thôi."

*

Ngày N + 12, 9 giờ sáng

Tất cả sĩ quan có mặt đầy đủ nơi phòng tôi. Tôi không rào đón gì cả, nói ngay:

"Tiếp liệu còn bao nhiêu gạo dự trữ, chia đều ra các bao cát, mỗi đầu người mười ký gạo."

"Mình còn nhiều hơn số đó, Đại úy."

"Càng tốt, phát cho mỗi người mười lăm ký. Nghĩa là mỗi người một bao cát đầy và một túi hành lý gồm quần áo, chăn màn v.v...Ông cấp sự vụ lệnh cho bác sĩ Huấn Trưởng đoàn xe vào Nha Trang liên lạc với kho y dược trong đó. Chọn cho tôi bốn tài xế để lái hai xe GMC và hai xe Dodge, với một sự vụ lệnh khác trở về vào ngày mai. Tôi muốn một sĩ quan đi vụ này, dẫn đoàn xe về trại tị nạn Cộng sản ở Nha Trang xong trở về vào ngày mai. Đừng quên là cả đơn vị chờ xe về mới có xe đi tản. Bất cứ thiếu úy nào đi cũng được ngoại trừ Đại đội trưởng, Điều hành và Tiếp liệu. Ban Điều hành thảo cho tôi một phúc trình về tình hình địa phương, xin lệnh Bộ Chỉ huy Quân cảnh cho phép rút toàn đơn vị vào Qui Nhơn. Ở Phú Tài bây giờ mình trống hai mạng sườn, sẽ là cái đích thu hút địch tấn công. Tôi không nghĩ là mình sẽ có công điện trả lời. Không một ai dám trả lời thuận đâu. Nhưng một cách gián tiếp, tôi muốn trong Bộ Chỉ huy biết tôi đang làm gì, định làm gì. Tôi cũng không nghĩ là phúc trình mình gửi về trong đó kịp. Bây giờ tôi vào Tiểu khu để xin rút lui vào trong đó."

"Mình sẽ giải quyết hai bẩy tù binh như thế nào?"

"Ngay bây giờ tôi sẽ xin Tiểu khu giải tán trại Quân kỷ. Giờ này phải tống mấy ông nội say rượu, vô kỷ luật, trễ phép, đào ngũ v.. v.. đó ra ngoài mặt trận. Ít nhất mình có chỗ trống để nhốt tù binh an toàn. Đồng thời quân số tham chiến tại chỗ có thể tăng lên cả tiểu đoàn, nếu tôi thuyết phục được Tiểu khu mở cửa cả Quân lao ra. Tôi sẽ về lại trại trước một giờ. Đích thân tôi sẽ kiểm soát đoàn xe chở vợ con binh sĩ di tản trước khi khởi hành."

*

Ngày N + 12, 10 giờ 30

Trung tá Tham mưu trưởng Tiểu khu Bình Định tiếp tôi tại văn phòng. Sau khi nghe trình bầy lý do thăm viếng. Tôi đi thẳng vào vấn đề:

"Xin Trung tá tăng phái cho đơn vị tôi một Đại đội Điạ phương quân, để có thể phòng thủ đơn vị hữu hiệu đồng thời giữ an ninh được một phía cho Tiểu khu Bình Định."

"Ông tưởng là tôi nặn ra người được à?"

"Nếu vậy Trung tá cho tôi rút vào trong Qui Nhơn, tôi sẽ có cách tăng cường cho Tiểu khu Bình Định một tiểu đoàn."

"Quân số của ông có bao nhiêu?"

"Hơn một đại đội, Trung tá."

"Thế thì ông nặn ra người à?"

"Thưa Trung tá không. Nhưng tôi đề nghị với Trung tá mình giải tán đám binh sĩ bị thọ phạt tại Đồn Quân cảnh Qui Nhơn, ở đó có cả trăm binh sĩ bị thọ phạt, cũng như những binh sĩ bị bắt vì quân phong quân kỷ ngoài phố. Nếu mình thả cả các binh sĩ đào ngũ, cũng như cưỡng bách những thanh niên trốn quân dịch trong quân lao ra, thì con số một tiểu đoàn đâu có thấm gì. Nhưng điều quan trọng nhất là vãn hồi trật tự và kỷ luật. Cả thành phố giờ này hỗn loạn vô cùng, phải đem một chút sinh khí lại cho dân chúng biết rằng quân đội còn hiện diện ở đây, phải trấn an mọi người. Tôi tin rằng đồn Quân cảnh Qui Nhơn không đủ sức để làm việc này, họ còn đang điên đầu lên ở ngoài bến tầu cũng như ở phi trường."

"Anh theo tôi vào gặp Đại tá Tiểu khu trưởng."

Ngày N + 12, 10 giờ 30

Tôi ngồi chờ ở phòng đợi. Trung tá Tham mưu trưởng vào gặp Đại tá Tiểu khu trưởng một mình. Mười phút sau, tôi được mời vào. Đại tá Tiểu khu trưởng hỏi ngay:

"Anh còn tù binh không?"

"Thưa Đại tá còn, tôi còn 27 tù binh mới bị bắt trong những vụ chạm súng gần đây."

"Anh xử bắn họ hết xong rồi tôi cho rút vào trong này."

"Thưa Đại tá tôi không thể làm vậy được. Đó không những vi phạm qui ước Genève về tù binh chiến tranh, mà cũng không giải quyết được gì. Đó là việc riêng của đơn vị tôi. Xin Đại tá để tôi được phép tự lo liệu."

"Nếu anh rút vào sẽ nhốt họ ở đâu?"

"Thưa Đại tá, như tôi đã trình bầy với Trung tá Tham mưu trưởng. Tôi sẽ nhốt họ ở phòng giam của đồn Quân cảnh Qui Nhơn. Nếu thiếu an toàn tôi sẽ nhốt họ ở quân lao, trong trường hợp Đại tá quyết định đẩy các đào binh ra ngoài mặt trận."

"Anh cho tôi biết qua kế hoạch vãn hồi trật tự lại thành phố?"

"Thưa Đại tá chúng tôi có đủ người và xe để đi tuần 24/24, mỗi lần đi là sáu xe jeep do một sĩ quan đi trên xe dẫn đầu, và một xe gắn đại liên M60 đi sau cùng, chạy với tốc độ thật chậm đồng thời phóng thanh một nội lệnh, một nhật lệnh hay thông cáo gì đó do Đại tá ký. Nội dung trấn an dân chúng, kêu gọi đồng bào bình tĩnh và kêu gọi quân nhân đào ngũ, cũng như thanh niên bất phục tùng trình diện tại đồn Quân cảnh Qui Nhơn. Cuối ngày tôi sẽ cho dẫn sang phòng 1 Tiểu khu làm thủ tục nhập ngũ. Ngoài ra kể từ bây giờ, tôi cắt một xe Jeep hộ tống lúc nào cũng đi theo Đại tá. Đã đến lúc mình phải xử bắn tại chỗ những binh sĩ đào ngũ cũng như những quân nhân cướp bóc dân chúng. Binh sĩ của tôi sẽ làm việc này, giúp Đại tá củng cố lại cái uy vũ của quân đội. Phải chặn đứng sự hoảng sợ. Phải đứng lại chiến đấu chứ không bỏ chạy nữa."

"Rồi ông về thu xếp đơn vị đưa vào trong này, nhưng ông sẽ đóng ở đâu?"

"Thưa Đại tá tôi sẽ tạm đóng ở đồn Quân cảnh Qui Nhơn. Tôi đã cho người liên lạc về việc đó rồi. Thưa Đại tá một nửa tiếng nữa tôi sẽ cho xe Jeep hộ tống Đại tá trình diện ở đâu?"

"Cho họ trình diện ở đây được rồi."

*

Ngày N + 12, 11 giờ sáng

Tôi tạt vội qua nhà, Phúc đương giúp vợ tôi và má tôi thu xếp nhà cửa, có một người lính nữa phụ với Phúc dùng những thanh gỗ đóng bít các cửa sổ và cửa sau. Mặt trước là cửa sắt kéo ra kéo vào, được trang bị với bốn, năm cái khóa to tướng. Vợ tôi mắt rướm rướm, chạy vô chạy ra nhưng chẳng làm gì ra hồn. Tôi thấy bà cụ xách theo một cái quạt máy, chắc định dùng đỡ khi vào Nha Trang. Tôi định cản nhưng lại thôi. Lát nữa mới đúng là lúc bỏ cái quạt lại.

*

Ngày N + 12, 1 giờ trưa

Đoàn xe đã nổ máy, một số vợ con binh sĩ đồn Quân cảnh Qui Nhơn và Đại đội D2 Quân cảnh cũng có mặt đi ké. Họ mang theo một số đồ cồng kềnh, tôi bảo họ bỏ xuống, vài người xuống xe, họ không muốn đi nữa. Tôi thầm cám ơn các binh sĩ của tôi, vợ con họ không một ai mang theo cái gì ngoài ít quần áo và mỗi người một bao gạo nhỏ. Ai nấy đều mang theo lương khô mới được cấp phát sáng nay. Mỗi người trên xe chỉ có một túi đồ. Tôi dịu dàng bảo vợ tôi:

"Em để cái quạt lại cho anh dùng, ở đây nhà tôn nóng quá. Vào trong đó em chỉ ở nhà bác Năm một, hai ngày mà đã có quạt trần."

Vợ tôi biết ý giao ngay cho Phúc mang xuống.

Tôi dặn bác sĩ Huấn:

"Đoàn xe sẽ trở về ngày mai, ông cứ yên trí lo thuốc men dụng cụ cho đầy đủ."

Quay sang Thiếu úy Đại đội phó tôi nói:

"Chậm lắm là bốn giờ chiều mai tôi muốn thấy ông mang bốn chiếc xe này về. Nó là sinh mạng của cả đơn vị trong những ngày sắp tới. Đồn Quân cảnh Qui Nhơn chỉ có toàn xe Jeep thôi. Chỉ trừ trường hợp ông bị phục kích, bị giật mìn thì không kể. Ông nhớ là chậm trễ lắm là bốn giờ chiều ngày mai phải có mặt. Đừng để mọi người thất vọng."

"Anh Ba yên tâm. Em sẽ về đúng giờ."

Xiết tay vợ tôi, hôn các con tôi xong, tôi trở về đứng ở đầu thềm, nhìn đoàn xe khuất dần, khuất dần về phương nam cho tới khi khuất hẳn. Tôi quay vào bảo Phúc:

"Chú lái xe cho anh ra đồn Quân cảnh."

"Anh ăn hủ tíu xong sẽ đi. Hồi nãy chị đi mua phở cho anh không được. Em đã hâm nóng rồi. Anh ăn xong mình đi ngay."

Trong lúc tôi ăn, Phúc loay hoay với một khẩu súng M18. Đây là súng M16, nhưng có gắn thêm một khẩu M79 và dùng hai cò khác nhau. Tói hỏi Phúc:

"Cái này ở đâu?"

"Súng của Thiếu tá Thanh để ở trong tủ quần áo. Hồi sáng nay em dọn lại tủ để có chỗ cất đồ cho anh thì thấy nó."

"Thiếu tá Thanh còn gì trong đó không?"

"Còn toàn đồ lặt vặt em lấy xếp lại một chỗ rồi. Bác có đưa em năm ngàn bảo lo đồ ăn cho anh. Em không cầm song chị Hải cứ bắt em cầm. Bác muốn đưa nhiều nữa nhưng em nói sao Bác không đưa thẳng cho anh? Bác với chị thương anh dễ sợ đó."

"Ông già vợ tôi có hai vợ, bà cụ không hẳn đã thương tôi đâu. Lo tôi giống ông cụ thì có lẽ đúng."

*

Ngày N + 12, 2 giờ 30 chiều

Trung úy Trần Thanh Kiệm, Đại đội trưởng Đại đội D2 Quân cảnh kiêm Trưởng đồn Quân cảnh Qui Nhơn đón tôi tại đơn vị. Kiệm vốn là nhân viên cũ của tôi từ năm 1964 ở Quảng Ngãi. Cả hai cùng ra trường một dịp, Kiệm xuất thân khóa 1 Hạ sĩ quan Điều tra Tư pháp, còn tôi khóa 15 Sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức, kế đó năm 1965 Kiệm cũng theo tôi đi Trung đội Kiểm soát tài nguyên ở Hậu Nghĩa. Sau cùng mỗi người một ngả, anh được theo học khóa 1 Sĩ quan Điều tra Tư pháp, ra khỏi ngành tư pháp về lại tiểu đoàn tôi từ khoảng một năm nay. Tôi cảm thấy an tâm khi gặp Kiệm ở đây hơn là một người khác. Tôi hỏi Kiệm:

"Anh có nhận được công điện bổ nhiệm tôi của Bộ Chỉ huy gửi cho anh một bản không?"

"Có Đại úy. Nói nào ngay không có công điện đó, tụi tôi cũng vốn là nhân viên cũ của Đại úy, huống hồ trong tình trạng này. Không biết mấy anh em trong Trại giam có trình cho Đại úy biết không? Tôi cũng nóng ruột chờ ông ra mãi. Ngày nào cũng hỏi thăm. Mãi tối hôm qua mới biết là Đại úy ra ngoài này rồi. Lúc đó đã chín giờ tối, muốn xuống đó gặp Đại úy lắm, nhưng nói thật Đại úy đừng cười. Đây xuống đó cả chục cây số, mà tình trạng này đi đêm cũng ngại lắm. Sáng nay tôi lại phải có mặt ở bến tầu. Tình hình bi đát quá. Tôi sợ mình thua mất. Mùa hè 72, tôi ở Sài Gòn, nên không rõ các nơi khác như thế nào, nhưng mấy hôm nay tôi quan sát ở bến tầu chỗ Bộ Chỉ huy Tiếp vận, di chuyển một số quân dụng nặng vào Nam, tôi thấy mình hết thuốc rồi, Đại úy."

"Nếu tôi hỏi qua tình hình đơn vị của anh có gì trở ngại không."

"Không Đại úy. Vả lại bây giờ theo công điện Đại úy là cấp Chỉ huy của tôi ở ngoài này rồi. Bây giờ mà giao được luôn cho Đại úy tôi còn mừng nữa là khác."

"Tôi không muốn xen vào nội bộ của anh. Tôi chỉ muốn biết để phối hợp hoạt động với anh mà thôi. Chậm lắm là sáng mai tôi sẽ dọn cả đơn vị tôi ra ngoài này. Tôi đã trình với Đại tá Tiểu khu trưởng, anh cho phóng thích mấy thằng ôn vật bị giam quân kỷ trong đồn ra, không cần biết họ ở đâu. Ở đâu cũng là lính. Cho người dẫn họ sang phòng 1 tiểu khu, họ sẽ được tái võ trang, phân phối tới các đang vị tại đây, đưa ra tham chiến tại mặt trận Bồng Sơn ngay chiều nay."

"Đại úy để tôi làm tờ trình về Bộ Chỉ huy đã."

"Tôi chịu trách nhiệm về việc này. Mình đâu có thả họ lấy tiền. Mình mang họ qua phòng 1, giờ này là lính thì phải chiến đấu. Mình có bao nhiêu quân phạm cả thấy?"

"Còn cả hơn trăm người. Đủ mọi thành phần. Mà tôi sợ rằng mình có giao cho phòng 1 đưa họ ra mặt trận họ cũng sẽ chuồn luôn. Đã mất người lại mất luôn cả súng nữa."

"Đó không phải việc của mình. Tiểu khu khi giao cho các đơn vị tác chiến chắc họ cũng có cách của họ. Vả lại mình sẽ lập một tuyến trì binh (Tuyến trì binh là một danh từ hoàn toàn có tính cách quân sự. Trì binh tức là những binh sĩ trì hoãn ra mặt trận. Tuyến trì binh là một hoạt động của quân cảnh nhằm bắt những binh sĩ lén lút ở lại đằng sau mặt trận) ở đằng sau mặt trận. Kể từ ngày mai anh sẽ có thêm cả trăm nhân viên do tôi cung cấp. Vả lại súng mất nhiều rồi, mất thêm ít nữa cũng không sao."

"Đại úy còn bao nhiêu tù?"

"27 người, tôi sẽ nhốt ở trại quân kỷ của ông. Tôi sẽ xin với Đại tá phóng thích cả quân phạm ở trong quân lao ra mặt trận. Nếu ông ấy đồng ý tôi sẽ nhốt tù ở đó an toàn hơn. Và nếu phải rút lui thì còng họ ở lại đó. Chiều nay tôi muốn nói chuyện với toàn thể binh sĩ của ông được không? Vào khoảng sáu giờ. "

"Được Đại úy. Đại úy định nói về vấn đề gì vậy?"

"Tôi cho họ một ít kinh nghiệm về cuộc rút lui liên tỉnh lộ 7 về đây. Tốt nhất là đừng rút lui. Mà nếu phải rút lui, tôi muốn đơn vị của ông và tôi đã được sửa soạn kỹ lưỡng, và tốt nhất là đoán đúng ngày giờ để rút trước. Chỉ cần ba tiếng đồng hồ thôi. Những hỗn loạn phút ban đầu là địa ngục. Tôi đã thấy địa ngục một lần kéo dài cả tháng rồi. Tôi không muốn thấy nó nữa. Thà đứng lại chiến đấu tới phút chót. Tôi thật nản cái cảnh kéo lê súng mà chạy mà chạy như một con chó cụt đuôi. Bây giờ tôi về lại Trại giam. Tối nay anh soạn thảo cho tôi một kế hoạch tuần tiễu đặc biệt. Anh dành hết binh sĩ của anh ở bến tầu để điều hòa ngoài đó. Số còn lại nhập với đơn vị tôi chia làm ba toán. Một toán đi tuần, một toán trừ bị ở tại trại, một toán hạ phiên được nghỉ, đi ăn uống lo thu dọn đồ đạc v.. v... Ngày mai tôi sẽ dọn hẳn ra và mình làm việc chung."

Phúc vừa nổ máy, xe dợm chạy thì Trung úy Kiệm chạy ùa từ trong văn phòng ra. Xe ngừng lại. Kiệm đưa cho tôi một gói giấy miệng nói:

"Anh em ở Đồn Qui Nhơn định mời anh Ba Râu đi ăn một bữa, nhưng giờ này chắc không được. Biếu Đại úy cặp rượu uống chơi."

"Cứ giữ ở đây, mai tôi ra mình uống suông cũng được."

"Kệ nó, ông cầm xuống đêm nay thỉnh thoảng tu một hớp đâu có chết ai mà Đại úy sợ. "

*

Ngày N + 12, 5 giờ chiều

Thượng sĩ Trưởng ban Quân xa lên gặp tôi tại văn phòng, và báo cáo là đã sửa được thêm hai xe nữa. Nhưng ông chỉ bảo đảm một chiếc chạy tốt thôi. Chiếc còn lại ông ta không dám chắc.

Tôi thở ra nhẹ nhõm. Nếu ngày mai, ngày mốt xe ở trong Nha Trang về không kịp cũng có cái để mà lết đi. Suốt hai hôm nay tôi chạy đua với cái đồng hồ, bây giờ mới có một chút an ủi nhỏ. Tôi vỗ vai người hạ sĩ quan già đầy thân ái, miệng nói:

"Đâu có cần bốn ngày phải không ông? Chỉ sợ mình không có lòng làm công việc đó, đừng có nói bốn ngày, nếu ông không muốn sửa nó sẽ nằm đó thiên thu. Vợ con ông đi hết chưa?"

"Đi rồi Đại úy. Tội nghiệp bà ấy với mấy đứa nhỏ. Tói ở lính đã hai mươi lăm năm, nhưng chưa bao giờ phải sống xa vợ. Hồi xưa đi thụ huấn thì đương nhiên ai cũng phải xa gia đình. Đi công tác nhiều lắm là vài ba ngày."

"Đừng có mong gặp sớm. Gặp sớm ngày nào là chạy ngày đó. Tôi muốn đứng lại. Đứng lại để chiến đấu như một người lính."

Tôi rủ ông xuống câu lạc hộ đơn vị kiếm một chai bia uống chơi.

Mấy binh sĩ đang ngồi chơi domino cho qua chuyện thấy tôi vào đều có vẻ mất tự nhiên. Tôi sà xuống ngồi gần ngay họ, và hỏi:

"Đánh ăn tiền hay ăn chơi."

Dĩ nhiên họ đánh ăn tiền song vài ba chục một ván domino một trăm điểm đâu có thể coi là cờ bạc. Một thiếu úy và một chuẩn úy thật trẻ đến ngồi bàn tôi. Họ cũng có vẻ lúng túng. Tôi nói chuyện bâng quơ với mọi người. Tôi rủ cả hai đi theo tôi ra Đồn Quân cảnh Qui Nhơn. Tôi dặn Trung úy Đại đội trưởng thay mặt tôi tập họp điểm danh quân số 100%. Kể từ bây giờ mỗi quân nhân phải có trong túi quân trang hai bộ quân phục, lương khô được cấp phát và vũ khí đạn dược đầy đủ.

Còn quá sớm để tới đồn Quân cảnh Qui Nhơn, tôi đi đường vòng hướng đông qua ngả kho đạn, qua những cánh đồng trống, qua một con sông nhỏ và ruộng hai bên đường lấp lánh ánh mặt trời. Cảnh tịch mịch một cách kỳ lạ. Vắng người, vắng cả chó, mèo, trâu bò, xe cộ. Bầu không khí sặc mùi ảm đạm thê lương. Xa về hướng tây, những ngọn núi đầu tiên của quận lỵ Phú Phong nhô lên ngạo nghễ. Tôi nghĩ đến ngọn cờ đào của anh em Tây Sơn. Tôi nhớ đến bài thơ của Ngọc Hân công chúa khóc chồng, tôi nhớ đến tướng Võ Văn Dũng, một tướng của Quang Trung Hoàng Đế trên đường đi sứ Trung Hoa về đã khóc chủ soái mình bằng bốn câu thơ tự đáy lòng:

Bố y phất tích ngũ niên trung.

Kim cổ tri vi sự bất đồng.

.................................................

Bất ư Đường Tống thuyết anh hùng.

Tôi giận mình không làm sao nhớ hết được bốn câu thơ chữ Hán này, nhưng tôi biết chắc ý của nó: "Từ áo vải phất cờ nổi lên có năm năm. Trước và sau không có ai như thế. Nếu Trời cho vua ta sống thêm một giáp nữa. Thì bọn Đường, Tống đâu có đáng xưng hùng." Bối cảnh lịch sử hiện nay cũng Nam Bắc chiến tranh. Đằng sau lưng miền Bắc, chẳng những con cháu của bọn Đường, Tống, Hán, Mãn lại còn thêm bọn bạch quỉ Nga la tư. Đằng sau lưng miền Nam, bọn tài phiệt tư bản đang bỏ của chạy lấy người. Chiến tuyến của miền Bắc bây giờ là quận Bồng Sơn. Mắt tôi hoa lên, tôi nhìn những đám mây nổi cuồn cuộn giữa trời. Những đám mây tạo thành những hình thù kỳ lạ trên trời cao, có lúc những đám mây này trông giống như hình ảnh đoàn quân của vua Quang Trung hai thế kỷ trước, với voi lồng phía trước, ngựa hý đằng sau, những binh sĩ nằm cáng chạy lúp xúp trong đêm tối. Hãy đốt lửa lên, nổi tiếng trận lên, tôi muốn nghe tiếng trống thúc vang hồi, tôi muốn nghe nhạc võ Tây Sơn.

"Anh có muốn ghé qua nhà không? Em đưa anh về nghe."

"Nhà với cửa gì, chỉ sợ không còn mạng mà về nhà thôi."

Tôi sờ vào túi, chẳng còn một điếu thuốc lá, quay xuống dưới tôi hỏi:

"Có cậu nào còn thuốc lá cho tôi một điếu."

"Còn sớm mà anh, Bác với chị Hải dặn em là mỗi chiều ghé qua nhà vài phút thôi."

"Cái thằng này gặp bà cụ có hai ngày nay mà suốt ngày Bác với chị Hải. Cho anh lại đồn."

Tôi thấy mình vô lý, có thể vì Phúc hỏi đúng vào lúc tôi đang như thiếp đi và tưởng chừng như tôi đã lạc bước trở về hai thế kỷ trước, làm một tên lính chạy lúp xúp với cái cáng đè nặng trên vai, nhưng lòng vui bão táp. Tôi ân hận nên quay sang nói với Phúc dịu dàng:

"Mày cho anh với hai ông này xuống đồn Quân cảnh, rồi tạt qua nhà một chút độ nửa tiếng quay lại đón anh được rồi."

"Anh có muốn ăn gì không? Bác nói trong tủ lạnh có nhiều đồ ăn Bác mua sẵn cho anh đó."

"Lại Bác với chị Hải nữa rồi. Anh không thấy đói, nhưng có chai rượu ông Kiệm mới cho. Mày kiếm cái gì nhậu được đem về trại tối nay mấy anh em mình lai rai chơi."

*

Ngày N + 12, 9 giờ tối

Tôi chán chả muốn xuống câu lạc bộ ăn cơm nữa. Có chai rượu của Kiệm cho, tôi rủ một số lính cũ, cùng tất cả sĩ quan về phòng tôi nhậu. Phúc không biết đào ở đâu ra một con gà quay, câu lạc bộ mang lên một thố tôm khô, củ kiệu. Ly tách không có, tôi bảo mọi người uống bằng cái nắp chai vậy. Chuyền nhau mỗi người một tua. Hết tua này tới tua khác. Ai có việc thì đi làm, xong việc hãy trở lại. Đây là đêm cuối cùng của đơn vị này. Ông sĩ quan Tiếp liệu hỏi toàn những câu lẩn thẩn về sổ sách kế toán giải quyết làm sao v.v.. Tôi bảo một chuẩn úy trẻ:

"Cậu chạy ra ngoài, lấy cái xe của tôi đi một vòng coi lính gác, rán giữ vững đơn vị cho tới sáng mai. Cũng chả có gì lo đâu, Việt cộng thì còn đang lo tấn công cỡ đại đơn vị, họ không thèm tấn công các doanh trại đâu, nhưng cứ cẩn thận là hơn."

"Đại úy, mai mình rút vào trong Qui Nhơn, có phải phá hủy những máy điện không?"

"Phá hủy làm gì, máy điện để cung cấp ánh sáng chứ Việt cộng có dùng nó để cho điện giật bọn mình chết đâu mà sợ. Có mấy khẩu đại liên 50, anh đem hết hộp cơ bẩm, vất xuống giếng, đạn cũng bỏ xuống giếng luôn. Biết đâu mình có ngày về trại còn biết chỗ vớt lên mà xài."

"Mai mấy giờ mình đi Đại úy?"

"Mình không rút luôn một lần đâu, cứ thong thả mỗi lần đi như đi chợ mười, mười lăm người một chuyến GMC, dẫu sao mình chỉ thực sự bỏ khi đoàn xe ở Nha Trang về. Sáng mai cho thiêu hủy hết những hồ sơ không cần thiết. Dặn lính đứng có từ biệt người quen, chủ nợ gì cả. Cứ tà tà mà đi. Sáng mai bẩy giờ đại đội cho tôi một trung đội tăng phái đồn Quân cảnh Qui Nhơn trước. Trung úy Kiệm sẽ giao cho ông năm chiếc xe Jeep để đi tuần, cộng với một chiếc của mình là sáu. Ông Thiếu úy ở ban Nhân viên là trưởng toán này. Tôi có đặn Trung úy Kiệm ở ngoài đó rồi. Anh gắn cho tôi hai khẩu M60 trên xe chạy đầu và xe chạy cuối. Giữ tốc độ tuần tiễu độ mười cây số giờ. Đi khắp hang cùng ngõ hẻm."

"Hết rượu rồi Đại úy."

"Hết thì đi ngủ. Đào đâu ra nữa bây giờ?"

*

Ngày N + 13, 8 giờ 30 sáng

Xuất phát từ đồn Quân cảnh Qui Nhơn, một toán tuần tiễu gồm sáu xe Jeep. Một xe có gắn đại liên M60 đi đầu và một xe gắn đại liên đi đoạn hậu. Mỗi xe bốn nhân viên quân cảnh trang bị sắc phục Quân cảnh hành sự, băng Quân cảnh tay trái, nón sắt hai lớp có lưới, đi thật chậm quanh những khu đông đúc nhất. Viên thiếu úy ngồi trên xe đầu, dùng loa phóng thanh đọc một bản thông cáo:

"Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý! Đây là thông cáo đặc biệt của Đại tá Tiểu khu trưởng Tiểu khu Bình Định kiêm Thị trưởng thị xã Qui Nhơn:

"Cùng toàn thể đồng bào của thị xã Qui Nhơn. Như toàn thể đồng bào đã biết, Bắc quân đang dốc toàn lực để xâm lăng miền Nam. Sau những bất lợi ban đầu Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã củng cố lại hàng ngũ, chúng ta đang chận đứng đà tiến của Bắc quân tại Bồng Sơn. Chúng ta sẽ phản công để chiếm lại những phần đất đã mất. Tôi kêu gọi toàn thể đồng bào hãy bình tĩnh, giới hạn các di chuyển không cần thiết. Lệnh giới nghiêm bắt đầu từ 8 giờ tối tới 6 giờ sáng hôm sau. Tôi tha thiết kêu gọi toàn thể đồng bào triệt để thi hành thông cáo này, ngõ hầu mang trật tự về cho thị xã chúng ta, để quân đội rảnh tay chận đánh những đạo quân tiền phong của Cộng sản Bắc Việt đang xuất hiện ở ngưỡng cửa thị xã chúng ta.

Qui Nhơn, ngày... tháng... năm...

Đại tá Tỉnh trưởng Qui Nhơn, kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Bình Định."

Từ một xe Jeep khác, một giọng đặc biệt Bình Định vang lên, tôi chọn Trung úy Đại đội trưởng để đọc bản văn thứ hai này, bởi lẽ ông là người Bình Định, sinh ra và lớn lên ở đây:

"Cùng toàn thế thanh niên của thị xã Qui Nhơn nói riêng và tỉnh Bình Định nói chung. Chính nơi đây hai thế kỷ trước Quang Trung Hoàng Đế đã phất ngọn cờ đào để dựng lên nghiệp lớn. Chính nơi đây ca dao tục ngữ đã xác định tinh thần thượng võ của chúng ta:

Ai về Bình Định mà coi

Đàn bà cũng biết múa roi đánh quyền.

Hỡi các con cháu của Quang Trung Đại Đế. Chúng ta không thể để cho phương Bắc, tay sai của con cháu Tôn Sĩ Nghị đặt chân chúng lên phần đất của Quang Trung Hoàng Đế. Chúng ta phải chận đứng bọn tay sai của đế quốc Cộng sản lăm le thôn tính chúng ta. Đất nước đang lâm nguy, và Qui Nhơn, Bình Định thân yêu của chúng ta đang nằm trong tầm đại bác của bọn Cộng sản vô thần.

Hỡi thanh niên của Bình Định, các bạn là con cháu chẳng những của Quang Trung Đại đế, lại còn là hậu duệ của những Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu, những danh tướng xa xưa đã từng đem máu xương mình, trộn vào mảnh đất cắt rốn chôn nhau. Hỡi các quân nhân còn đang nghỉ phép tại nhà, hỡi các thanh niên bất phục tòng và đào ngũ. Các bạn hãy mạnh dạn đứng lên bảo vệ chính đất đai của các bạn, chính gia quyến của các bạn. Hãy mạnh dạn đứng lên, những lỗi lầm cũ nếu có sẽ được xóa bỏ. Hãy đứng lên an nguy của tỉnh nhà không phải chỉ nằm trong tay quân đội mà thôi. Nó còn nằm ngay trong tay của chính các bạn. Phòng tuyển mộ nhập ngũ của Tiểu khu Bình Định cũng như Quân trấn Qui Nhơn lúc nào cũng mở cửa để đón các bạn tình nguyện trong đoàn quân chống giữ tỉnh nhà."

Tôi chưa bao giờ viết diễn văn, thông cáo, và đã phải mất bốn tiếng đồng hồ đêm qua, viết và xé không biết bao nhiêu lần mới thành hai bản văn tương đối tàm tạm này. Đọc lại nó tôi rất ngượng, dầu thế nào cũng phải làm một cái gì. Ít hay nhiều tôi rất thành thực trong hai bản thông cáo đó, tôi không bưng bít sự thật, Cộng sản hiện mới chỉ ngấp nghé ở Bồng Sơn, tôi không nói láo là quân ta đang chiến thắng. Tôi ngượng ở chỗ không nói hết sự thật là chúng ta đang bại. Tôi có ý tìm ông sĩ quan Trưởng phòng 5 của Tiểu khu Bình Định, nhưng không thể gặp được ông ta. Chính ra loại văn chương thông cáo này là nhiệm vụ của phòng Tâm lý chiến. Lẽ ra họ phải có một xe phóng thanh đi với chúng tôi, cực chẳng đã tôi đành phải viết hai bản thông cáo này và sử dụng máy phóng thanh xách tay của đơn vị.

*

Ngày N + 13, 11 giờ sáng

Trung tá Tham mưu trưởng Tiểu khu Bình đinh muốn gặp tôi ở đầu dây điện thoại. Ông ngỏ ý khen ngợi và kêu tôi tiếp tục như vậy, ông ghi nhận thành phố có vẻ có trật tự lại. Ông đã chỉ thị cho Cảnh sát Dã chiến gác trên các cao ốc trong thành phố.

Ông hỏi có cần ông giúp gì không? Được dịp tôi xin ông lương khô và nhiên liệu càng nhiều càng tốt. Ông cho biết nhiên liệu thì nhiều vô số kể, nhưng lương khô thì ông không biết có hay không. Tuy nhiên ông cũng vẫn ký giấy cấp phát cho đơn vị tôi 500 khẩu phần lương khô. Lãnh được hay không là do còn hay hết.

*

Ngày N + 13, 12 giờ 30 trưa

Tôi và Trung úy Kiệm gặp nhau riêng trong văn phòng của Kiệm, bây giờ tôi đang ở nhờ làm gì còn văn phòng. Tôi nói với Kiệm:

"Tôi có chuyện tối quan trọng muốn bàn với ông."

"Bộ mình rút ngay bây giờ hở Đại úy."

"Không phải, nhưng có liên quan đến chuyện rút lui."

"Đại úy chạy từ Pleiku rồi về tới đây. Thấy cái gì phải làm Đại úy cứ ra lệnh."

"Bây giờ cậu cho tôi một chiếc Jeep tuần tiễu quanh Ty ngân khố, nếu cần thì cho một người túc trực ở đó."

"Bộ mình định làm một cú đặng có tiền chạy hay sao?"

"Cậu điên rồi, nội cái ý đó không cũng đủ mười năm tù, còn thực hiện nó thì phải bắn. Nhưng ý cậu cũng không sai ý mấy xếp bự là mấy. Người ta sẽ ẵm bạc trước rồi mới dọt. Mình cho người túc trực ở đó, hễ các xếp bự đến đây là sắp dọt đó. Tôi cho một xe Jeep đi bên cạnh Đại tá Tiểu khu trưởng, ngoại trừ việc để củng cố uy quyền, cũng có vụ này luôn. Bây giờ mình phải có hai tần số để liên lạc. Một tần số chung với tần số của Tiểu khu. Nhưng khi nào phải báo động cho đơn vị thì dặn các toán tuần tiễu vào máy xin đổi sang tần số làm việc riêng của mình. Thế là đủ hiểu."

"Đại úy đã nói vậy thì cứ như thế mà làm."

"Bây giờ cậu dặn riêng cái toán tuần tiễu ở kho bạc cho tôi, còn toán đi với Đại tá Tỉnh trưởng tôi đã dặn họ rất kỹ rồi. Tuyệt đối kín và tuyệt đối tỉnh táo. Tình hình ở bến tầu ra sao?"

"Nản lòng lắm đại ca, quân dụng đi cũng lắm và điếm dọt theo cũng nhiều. Em nào cũng nói là vợ con quân nhân."

"Lính của mình có đủ để làm việc ở ngoài đó không?"

"Dư nữa là khác Đại úy."

"Chiều nay tập họp binh sĩ, cậu thay mặt tôi phổ biến một nội lệnh thông báo cho mọi người biết kể từ giờ phút này mỗi người trong lúc hành sự, thi hành công tác v.v... phải mang đủ hai bộ quần áo, lương khô và súng đạn đầy đủ. Tất cả những thứ này để ngay trên xe tuần tiễu. Cậu họp với mấy sĩ quan bên đại đội chuyên trách, phân phối trước xe cộ cho từng toán, từng tiểu đội, chớ có làm ồn lên. Về phương tiện tôi có ba GMC, hai xe Dodge cùng năm xe Jeep. Nhập quân số hai đơn vị lại, cộng chung số xe cộ và phân phối cho hợp lý. Bây giờ tôi về lại Phú Tài. Xế chiều tôi sẽ ra."

*

Ngày N + 13, 2 giờ 30 chiều

Mãi hai ngày nay, bây giờ mới có chút thì giờ để thở. Tôi nói Phúc lái xe tạt qua nhà. Căn nhà vô chủ nào cũng lạnh lẽo, cũng vô duyên. Phúc làm như quen thuộc căn nhà hơn tôi. Hắn lôi ra đủ thứ để ăn được, để gói được mang đi, những thứ ăn tại chỗ, những thứ ăn dọc đường, gã thấy tôi nhìn chăm chú gã nói:

"Những thứ này chị Hải làm sẵn, dặn em lo cho anh, chị với Bác lo cho anh quá trời. Chi dặn em đủ thứ việc nào là anh không thích ăn cá, anh thích ăn phở, không thích mì, thích hủ tíu bò viên có gân, sách v.v..."

Tôi bâng khuâng, không biết giờ này vợ con tôi đang làm gì? Còn ở Nha Trang hay đã vô được Sài Gòn. Sáng nay liên lạc với Đại úy Vũ đồn Quân cảnh Nha Trang, song không dược gặp. Tôi liên lạc với Võ Ý cũng không được, chỉ gặp Trung tá Trang của Sư đoàn 2 Không quân, ông cũng không hứa hẹn được điều gì. Ông chỉ nói là sẽ cố để giúp vợ con tôi một chỗ ngồi trong phi cơ quân sự.

"Hôm qua em hỏi thằng Quang nó đi với mẹ hay ở với bố. Nó nói với em nó muốn ở với bố. Thằng nhỏ trông giống anh như hai giọt nước. Con Hằng cũng giống anh, nhưng có vẻ giống chị Hải nhiều hơn. Nếu không có giặc giã chắc anh chị hạnh phúc lắm."

"Chú làm gì vậy?"

"Em nấu bậy bạ nồi cơm, có thức ăn sẵn anh em mình làm một bụng. Nói dại có chết bất đắc kỳ tử thì mình cũng no, không có làm ma đói khổ lắm."

Tói bỏ lên lầu. Càn nhà bốn tầng này là kết quả buôn tần, bán tảo của một đời bà mẹ vợ tôi. Ông già có vợ hai ở trên Pleiku, một tay bà cụ gây dựng cho các con, tôi nhìn quanh các phòng. Trên bức tường phòng chính của lầu hai, hình vợ chồng tôi hôm đám cưới, hình hai đứa nhỏ. Đây chắc là phòng bà cụ dành cho vợ tôi. Tôi lên lầu ba, một căn phòng để thờ Phật Tổ, có hình bà cụ ngoại của vợ tôi, mới mất được hai năm, có hình cô em vợ tôi mới chết vì đau màng óc được mấy tháng. Tôi leo tuốt lên sân thượng.

Từ trên vị trí cao này nhìn được bao quát cả thành phố Qui Nhơn. Biển vẫn trong và xanh, nhưng cái chợ ồn ào náo nhiệt khi trước chỉ có vài người lèo tèo qua lại. Tôi đã thấy những thành phố chết: Pleiku, Phú Bổn và bây giờ là Qui Nhơn, mỗi nơi chết một cách khác. Pleiku nơi có cả trăm ngàn quân, hàng trăm đơn vị lớn nhỏ chết như mãnh hổ trúng ngọn lao chí tử, nó lồng lên, sải bốn vó trên đường chạy trốn. Phú Bổn lại giống như một con nai trúng đạn, nằm thở dốc chờ chết. Nhưng Qui Nhơn thì khác hẳn, nó cũng là mãnh thú, chưa bị trúng lao, chưa bị trúng tên, nhưng đang bị dồn tới đường cùng. Hẻm núi ở trước mặt lại bị chặn, nó đang co cái thân thể khôi vĩ lại. Nó biết được những gì sắp đến nên trông rõ sự đau đớn tuyệt vọng nơi mỗi con đường, mỗi ngõ hẻm, mỗi căn nhà, và mỗi người dân. Tôi thèm được nghe tiếng ngựa hí, voi lồng, quân reo, trống thúc. Nhưng tôi chỉ nghe dược tiếng chân rón rén của Phúc lên gọi tôi xuống ăn cơm.

*

Ngày N + 13, 3 giờ chiều

Đích thân tôi lái xe tới nhà Nguyễn Mộng Giác. Nhà đóng im ỉm, gọi cửa mãi không thấy ai trả lời. À thì ra tên thầy giáo trông có vẻ lù đù hiền hòa này không chậm chạp như tôi nghĩ, lại thêm một Từ Thứ nữa thoát thân. Tôi lái xe tới nhà Lữ Quỳnh, gã còn ở trong trại chưa về, gặp vợ Lữ Quỳnh mới biết Giác đổi về Sài Gòn khá lâu, thế mà hồi nẫy tôi nghĩ sai về Giác, dẫu sao cũng được, còn ai là bạn tôi ở thành phố này, tôi đều muốn họ có cánh mà bay cho hết.

*

Ngày N + 13, 3 giờ 30 chiều.

Phúc vừa lái xe lọt vào trong cổng trại tôi đã thấy ông bác sĩ Huấn đứng thơ thẩn nơi hành lang. Tôi giận điên người lên. Cái ông này chậm hiểu thế mà lại đậu được bác sĩ. Tôi đã dặn kỹ ông ta là không vội ra ngoài này. Có ai phạt vạ gì đâu mà ra sớm thế. Tôi cố giữ giọng hòa nhã hỏi:

"Sao ra sớm thế ông Đốc? Có lo được thuốc men cho đầy đủ không?"

Huấn cười, cái cười không ai có thể giận được, anh nói nhỏ nhẹ:

"Thưa Đại úy không. Ở trong đó cũng như ngoài này, chẳng có ai làm việc, tôi có chờ thêm vài ngày nữa cũng thế thôi. Nha Trang cũng thế, Qui Nhơn cũng vậy. Tôi muốn ra ngoài này với đơn vị."

Tôi nhìn thật sâu vào mắt Huấn, tôi thấy rõ là Huấn hiểu những ý ngầm của tôi. Có thể anh muốn ra đây chia sẻ với mọi người, anh như có mặc cảm phạm tội nếu ở lại Nha Trang, đây không phải là phạm kỷ luật của quân đội, bởi lẽ anh đọc rõ ý tôi là ở lại trong đó. Anh muốn ra ngoài này đó là tình đồng đội, tình Người, và cũng có thể đó là lương tâm của một y sĩ trẻ. Đột nhiên tôi nhớ lại lời vợ tôi nói hôm nào:

"Người ta chết nhiều quá. Lại chết toàn người tốt bụng không à?"

Tôi vỗ vai Huấn hỏi thân ái:

"Ông Đốc ăn gì chưa? Chú Phúc ơi, làm cái gì ăn đi có chết cũng thành con ma no. Bảo mấy ông ở Nha Trang mới về lại ăn luôn một thể. Ăn xong là bọn mình dọt, ăn xong là giã biệt Phú Tài."

*

Ngày N + 13, 4 giờ chiều

Chuông điện thoại reo vang, tôi cũng không buồn nhấc, Phúc cầm lấy ống nghe, gã nói:

"Anh ở bên ban Truyền tin gọi anh xuống, có một ông Thiếu tá nào ở Cục An ninh Quân đội Sài Gòn muốn nói chuyện trực tiếp với anh trên máy siêu tần số. Tôi đứng dậy ra ngoài. Thì ra bố mẹ tôi ở Sài Gòn quá nóng ruột, đã nhờ một ông chú họ liên lạc với tôi. Tôi nhờ chú thưa với bố mẹ tôi là vợ con tôi đã vào Nha Trang, ở nhà đừng lo cho tôi lắm."

Bây giờ tôi mới nhớ mẹ tôi. Dường như trong đời tôi hiếm khi nào tôi nhớ tới mẹ. Tôi nhớ bà cụ lo cho tôi từng lọ chà bông khi tôi học ở Thủ Đức. Hồi đó khi nói chuyện quân trường tập diễn binh cho cả nhà nghe, bọn sinh viên sĩ quan chúng tôi hay đếm bò, gà, cá, heo thay vì đếm một hai ba bốn. Bà cụ hỏi tại sao lại đếm bò, gà, cá, heo. Tôi giải thích đó là thực đơn của trường cứ một bữa ăn bò, một bữa gà, một bữa cá, một bữa heo. Bà cụ biết tôi không ăn cá, nên tuần sau về phép tôi có một hũ chà bông, khi thì giò kho khô. Tôi nhớ tới bố tôi, tôi nhớ tới bài thơ làm riêng cho ông cụ:

...Chúng con đem xương máu đắp đường,

Nâng gót chân cha trở về nhàn hạ...

Đường về chắc chắn lại không có trong đời bố tôi. Đường đi cho đời tôi rồi lại cũng không có nốt. Không biết đời các con tôi sẽ ra sao?

Tôi ngồi thừ ra ở trong phòng truyền tin, tiếng rè rè của cái loa khuếch âm của hệ thống siêu tần số đều đều liên tục, Phúc liến vào nói:

"Anh về ăn cơm, bác sĩ Huấn và mọi người đang đợi anh."

*

Ngày N + 13, 5 giờ chiều

Thế là chúng tôi bỏ lại đơn vị, chúng tôi đi trong lặng lẽ, ông sĩ quan Tiếp liệu trước khi đi còn khóa cổng đơn vị bằng ba cái khóa tổ chảng. Doanh trại này tôi mới ở có ba ngày. Thế mà tôi nhớ từng pháo đài, từng vọng gác, từng cái bóng đèn hàng rào phòng thủ. Nói chi tới sân cờ, tới phòng hội, câu lạc bộ. Phải chi tôi đổi về đây vài tháng trước, có một ít ngày thần tiên với vợ con. Phải chi... ước chi... Nếu mà...

*

Ngày N + 13, 5 giờ 30 chiều

Xe rẽ vào đồn Quân cảnh Qui Nhơn, tôi đã thấy lố nhố một đám thanh niên quân phục lẫn thường phục. Tôi hơi ngạc nhiên vì sự hiện diện của đám người này, thì Trung úy Kiệm đến chào và nói:

"Kết quả mấy cái thông cáo của Đại úy đó. Anh Ba giỏi thật, làm những việc ít người làm, văn chương cũng hay nữa."

Tự nhiên bụng tôi quặn lại. Sao mà nhiều oái oăm thế này, muốn ông Huấn ở Nha Trang thì ông lù lù vác xác ra, viết hai cái thông cáo phần chính để dân chúng bớt dao động, hoảng hốt, lại vồ được vài chục ông đi trình diện. Miền Nam đâu cần vài chục người, cần trăm ngàn người nữa kìa. Thật ra cũng không cần thêm người, chỉ cần những người chỉ huy, quyết tâm đánh. Quang Trung Hoàng Đế đâu có nhiều quân. Tôi nói với Kiệm:

"Không phải vì văn chương đâu, vì họ sợ bị bắt đó. Chưa bao giờ Qui Nhơn lại được tuần tiễu kinh hoàng như vậy, họ trình diện là vì sợ đó thôi. Ngày mai ông cho đọc một cái thông cáo kêu gọi dân giữ trật tự thôi. Tôi không muốn đọc cái thông cáo số hai nữa. Nướng thêm một số người cũng chẳng ích gì. Ông vẫn cho người thường trực ở Kho bạc phải không?"

"Dạ, ngoài ra tôi có tăng cường thêm nhân viên của trại giam để lập tuyến trì binh phía bắc thành phố. Tôi không muốn đưa nhân viên đi quá xa. Tôi chỉ tăng cường thêm nửa tiểu đội nhân viên ở Trạm kiểm soát phía bắc."

"Vậy đủ rồi. Từ giờ trở đi đào binh trình diện thì giữ lại chuyển qua phòng 1, còn thanh niên tình nguyện thì kiếm cớ cho họ về nhà."

"Đại úy, tôi nghe tin đồn là mình sẽ nhường cho Mặt trận Giải phóng từ vĩ tuyến 14 ra nghĩa là cỡ từ Nha Trang ra. Đại úy nghĩ coi có lý không?"

"Tôi cũng muốn tin như thế lắm. Nhưng giả thử nếu ông có thể đớp được cả tô phở trong lúc đói mờ người, ông có sẻ cho thằng khác nửa tô không?"

"Không, nhưng chuyện này đâu có giống tô phở, Đại úy."

"Nó vậy đó, chúng ta chỉ là dăm cọng giá trong tô phở đó mà thôi."

*

Ngày N + 13, 8 giờ tối

Vài sĩ quan bên Quân cảnh Tư pháp lại thăm, họ hỏi tôi về dự tính thế nào trong những ngày sắp tới. Phần lớn họ cùng khóa với Trung úy Kiệm, đôi người là học viên của tôi ở trường Quân cảnh. Cũng như Kiệm họ có được thông báo một bản về vị trí của tôi: "Cái chức vụ Chỉ huy trưởng Quân cảnh khu chiến miền bắc" nghe vừa giễu, vừa nhà quê. Họ nửa như muốn nhập chung chạy với tụi tôi khi rút lui, nửa họ lại muốn độc lập. Họ dò ý kiến, tôi thì sẵn sàng nếu họ ngỏ ý, nhưng tôi không muốn tự mình gánh thêm một chút trách nhiệm bâng quơ. Tôi có cả ngàn mối lo. Họ thì chỉ muốn biết lúc nào tôi dọt, để dọt theo, nhưng không muốn đi cùng đoàn. Do đó hai bên nói chuyện nhạt nhẽo, gượng gạo. Kiệm nói với tôi:

"Mặt trận Bồng Sơn chắc sẽ vỡ không chịu nổi. Hôm nay ở Trạm kiểm soát mạn bắc dân chạy về lũ lượt anh Ba à."

"Tôi không sợ Việt cộng tấn công, tôi chỉ lo đêm nay nó tung một tiểu đoàn án ngữ quốc lộ 1 chỗ đồi núi hiểm trở như đèo Đại Lãnh là bọn mình như cá ở trong rọ rồi."

"Ngày mai mình dọt đi anh Ba."

"Tôi cam đoan với cậu mình sẽ dọt ngay khi nào những xếp lớn dọt. Tôi không muốn dọt. Tôi muốn đứng lại chiến đấu như những người LÍNH."

"Anh Ba à, lính của mình người ta gọi trại đi quân cảnh là quân kiểng đó, mình là lính kiểng mà nhập cả hai đơn vị lại chưa được hai trăm mống. Đánh chác cái gì anh Ba."

"Từ hôm ra ngoài này tới giờ, tôi chưa bao giờ có ý định đánh nhau, tử thủ gì cả, bởi tôi biết rõ phẩm chất đơn vị mình, biết rõ những người lính của mình. Cái mà tôi toan tính phần lớn là chuyện rút lui, nhưng không thể bỏ chạy nhục nhã như thế. Hễ còn những người chiến đấu phía trước mặt, thì tôi còn ở lại đây. Chẳng để làm gì cả. Nhưng phải ở lại cho tới khi không thể ở lại."

"Thôi kệ mẹ mọi chuyện, anh Ba cho mời mấy ông kẹ của anh Ba lại nhậu vài ly chơi."

"Ông đã cho di tản vợ con binh sĩ của ông chưa? Tôi nản cái cảnh lúc hữu sự vợ bìu, con díu lắm."

"Tụi tôi đâu có xe GMC như anh Ba. Nhưng mà tụi nó cũng cho vợ con về nhiều lắm rồi. Những người nào ở lại phần lớn là người địa phương."

"Tôi báo trước cho ông biết, lúc phải đi là sẽ đi liền trong năm phút, mười phút không có chờ đợi bất cứ ai."

"Được rồi anh Ba. Kệ mẹ nó, đi nhậu anh Ba."

*

Ngày N + 13, 11 giờ đêm

Tôi nói với Phúc:

"Chú lái xe cho anh đi xem toán tuần tiễu làm ăn ra sao." Phúc và tôi chưa kịp leo lên xe thì đằng sau đã có tiếng người:

"Anh Ba cho tôi đi với."

Tôi quay lại, bác sĩ Huấn ngượng ngập khi gọi tôi là anh Ba, nhưng tôi đọc trong mắt anh, tất cả những gì quí mến. Có hai sĩ quan trẻ nữa cũng nói theo:

"Anh Ba cho tụi em đi với. Ở đồn này muốn điên lên."

Tôi nói với Phúc:

"Thôi chú để anh lái, chẳng lẽ bắt ông Đốc ngồi đằng sau. Mày có buồn ngủ ở nhà mà ngủ, anh đi với ba ông kẹ này được rồi."

"Không em muốn đi, để em vào mang cây súng "Đại Cồ Việt" theo hễ có thằng Việt cộng mả mẹ nào em quạt cho nó về với Bác Hồ luôn."

Thành phố không một bóng người, những con chó nhớ chủ lang thang trong các ngõ hẻm, tụ tập nơi những đống rác. Những con chuột chạy nhởn nhơ trong bóng tối. Qui Nhơn như một con mãnh thú, đã lọt lưới thợ săn, nhưng chưa bị một cái lao, một mũi tên nào. Nó vùng vẫy trong cái lưới cứ mỗi lúc mỗi thu hẹp. Bây giờ nó đang thở dốc. Nó đang thở dồn dập chờ người ta xỏ một cái đòn luồn dưới bụng nó, trói bốn chân lại thế là xong.

Tôi bắt gặp toán tuần tiễu đang chạy vòng khu chợ, thấy xe tôi, họ ngừng lại. Tôi nói với Thiếu úy trưởng toán tuần tiễu cứ tiếp tục, tôi cho xe chạy vào hàng thứ hai, bản thông cáo số 1 tôi viết đại thay lời ông Tỉnh trưởng kêu gọi dân chúng giữ trật tự được đọc vang lên trong bóng đêm. Tôi ra dấu cho ngừng lại, tôi bảo người sĩ quan trưởng toán:

"Thôi ông đừng đọc nữa. Nghe nản bỏ mẹ, ông không thấy là người ta đã giữ trật tự rồi đó sao, có ai di chuyển nữa đâu mà ông cứ đọc hoài. Phải biết lúc nào cần làm gì thì làm chứ cứ như cái máy ấy."

Xe tiếp tục chạy trong thành phố như đi trên mây. Tôi quay lại hỏi hai người ngồi sau:

"Mấy ông có vợ con gì chưa?"

"Chưa anh Ba. Tụi em còn là con bà phước."

"Thế là tốt rồi. Vợ con lúc nào có chả được. Còn trẻ mà, tàn cơn chinh chiến rồi tha hồ mà vợ con."

"Còn ông Đốc gởi bà ấy ở đâu?"

"Nhà tôi có bà cô ruột ở Nha Trang. Tôi biết Anh Ba có ý muốn tôi ở lại Nha Trang, nhưng thú thật với anh Ba, tôi thấy ở trong đó nản quá. Giá chạy được vào Sài Gòn ngay thì tôi đưa vợ tôi về Sài Gòn rồi mới mò ra, nhưng mà đâu có phương tiện để đi. Vợ tôi nó cũng đòi ra lại ngoài này. Sáng nay nó đi chợ mua cả đống đồ ăn cho tôi. Nó biếu Đại úy chục nem với một cây giò, nãy giờ tôi đâu có dịp đưa cho anh Ba."

"Thôi ông cứ giữ lấy, bà xã tôi mua cả đống đồ ăn để trong tủ lạnh ở nhà. Thằng ma gà Phúc này cứ vài tiếng lại về nhà vồ ra ăn. Nó sợ làm ma đói lắm."

"Trung úy Kiệm có đưa một cô nào đó vô trong đồn Quân cảnh đó anh." Phúc góp vào.

"Kệ ông ấy, mình ở nhờ nhà người ta mà."

"Còn hai ông kẹ ngồi sau có ông nào cần dẫn cô nào chạy không? Nếu là người tử tế, người yêu của các ông thì tôi chấp nhận được. Còn bán ba hay là cà chớn thì đừng có mang theo, xui cả đám đó."

"Không có đâu anh Ba."

"Về nhà nhậu đi anh, bác sĩ Huấn nói bà ấy gởi biếu anh nem thì về cho rồi. Thành phố gì mà như nghĩa địa ấy."

"Mày chỉ sợ là ma đói thôi. O.K. về nhậu."

*

Ngày N + 14, 9 giờ sáng

Trung úy Kiệm lái xe đưa tôi đi quan sát bến tầu. Quân dụng, cơ giới xếp hàng chờ xuống tầu dài cả cây số. Tôi nói với Kiệm:

"Anh check lại máy truyền tin của họ hộ tôi. Tôi không muốn còn sót lại dù chỉ là một người lính."

"Đừng lo anh Ba, máy truyền tin ở đây có hư cũng còn có điện thoại. Chỉ sợ ở trạm kiểm soái phía bắc thôi."

"Tôi nghĩ đến chuyện này rồi. Khi phải rút thì toán tuần tiễu đương phiên vòng lên Trạm kiểm soát bắc bốc hết nhân viên ở đó. Toán ở bến tầu thì đã có xe cơ hữu, trạm kiểm soát mặt nam thì đương nhiên đoàn xe của mình sẽ ngang qua đó."

"Anh Ba mà không về thì tụi tôi không biết đường nào mà mò."

"Ông nói vậy thì biết vậy, chứ ông đâu có vừa gì. Đã cho vợ con về trước, phút chót nẩy ra một cô bồ ở trong đồn. Có mình ông tôi nghĩ ông dám vồ ty Ngân khố lắm."

"Anh Ba nói vậy tội nghiệp. Vồ ty Ngân khố để mà bị xử bắn à."

"Thôi về đi ông."

*

Ngày N + 14, 12 giờ trưa

Đang ăn cơm ở đồn Quân cảnh Qui Nhơn với Kiệm, Huấn v.v... bỗng tôi nghe cái loa của máy truyền tin vang lên rõ mồn một:

"Phú Quốc gọi Đống Đa Hồng Hà."

Phú Quốc là danh hiệu tôi đặt cho toán hộ tống của Đại tá Tiểu khu trưởng. Hồng Hà là danh hiệu của tôi. Tôi nuốt vội miếng cơm vừa và, bước tới bục điều hành chỗ để máy.

"Phú Quốc gọi Hồng Hà trả lời."

"Hồng Hà nghe đây."

"Phú Quốc đang vào tần số liên lạc stop. Hồng Hà trả lời."

Năm phút trôi qua, tôi chuyển sang tần số riêng, giọng Thượng sĩ Điệp một nhân viên cũ của tôi ở Pleiku, nhanh nhẹn, tháo vát, một hảo thủ bóng chuyền của cả Quân đoàn 2 được tôi cử đi trưởng toán này. Qua tần số mới giọng Điệp vang lên:

"Phú Quốc gọi Hồng Hà. Trả lời."

"Không cần phải ngụy thoại nữa. Cứ nói thẳng rõ. Hồng Hà tôi nghe đây."

"Trình anh Ba, mặt trời lên con chim, có cả sao hai nữa. Mọi khi đi tôi đều được chỉ thị, kỳ này không."

"Anh đang ở đâu?"

"Cách anh Ba bốn sải phía trước mặt."

Vậy là họ ở cách đây bốn mươi cây số về phương bắc. Vậy là họ đang ở Bộ Tư lệnh Tiền phương Sư đoàn 22, có sao hai nữa tức là có cả Thiếu tướng Tư lệnh Sư đoàn 22. Như vậy là Bồng Sơn vỡ rồi, không biết họ có lập phòng tuyến mới ở phía sau không? Nếu lập phòng luyến mới ở Phù Cát thì Qui Nhơn còn đứng vững được hai, ba ngày nữa. Nếu không Qui Nhơn sẽ vỡ ngay chiều nay. Tôi nói với Điệp:

"Anh cứ Zu-lu đi, tôi cho người lên thế."

"Tôi nghe Hồng Hà năm."

Rời máy truyền tin, tôi quay vào bàn ăn nói với Kiệm và Trung úy Đại đội trưởng của tôi:

"Rồi, không có gì cuống quít cả. Người nào đội nấy, Kiệm cho gọi người của mình ở bến tầu về, chỉ thị toán tuần tiễu đương phiên cứ đi tuần như thường lệ, tiến lên phía bắc đón toán kiểm soát trì binh của mình rồi tiếp tục đi tuần trong thị xã. Khi nào có lệnh sẽ không quay về đồn. Hẹn gặp họ ở trạm kiểm soát phía nam rồi từ đó mình đi luôn. Tôi còn chờ báo cáo của toán tuần tiễu ngoài ty Ngân khố. Còn ông cho tập họp 27 tù binh lại."

Tôi muốn nói chuyện với họ. Tôi nghe một giọng nói bâng quơ ở ngoài vọng vào:

"Bắn mẹ nó hết đi anh Ba."

Ngày N + 14, l 2 giờ 30
Đây là lần đầu tiên và có lẽ là lần cuối cùng tôi nói chuyện trực tiếp với tù binh. Họ có vẻ lo sợ trong đáy mắt. Dĩ nhiên họ cũng đánh hơi được cái gì bao quanh họ. Họ sợ tôi bạo hành, ngược đãi họ. Không một ai già cả trong đám này. Họ đều là tù binh Bắc Việt xâm nhập. Tôi từ tốn nói với họ:
"Tôi là Chỉ huy trưởng mới của các anh. Thiếu tá Đèo Ngọc Thanh đã đổi đi đơn vị khác. Ở đây ai có cấp bậc cao nhất?"
Thái độ cố hữu của tù binh Cộng sản là không bao giờ trả lời.
"Tôi nắm hồ sơ của các anh trong tay. Tôi biết ai là người có cấp bậc cao nhất. Nhưng tôi muốn xem thái độ cộng tác của các anh mà thôi. Cốt cách của các anh tôi biết rất rõ. Hiện tình hình chiến sự bất lợi cho chúng tôi. Tôi được lệnh di chuyển các anh tới chỗ an toàn hơn. Tôi muốn bảo vệ sinh mạng các anh. Nhưng các anh phải tự bảo vệ các anh trước bằng cách tuyệt đối thi hành những mệnh lệnh do toán áp giải của tôi ban ra. Khi di chuyển trên xe phải ngồi, không một ai được đứng. Không được nói chuyện. Nói tóm lại càng giữ im lặng càng tốt. Tôi sẽ có lệnh riêng cho toán áp giải các anh." Quay qua ông Đại đội trưởng chuyên trách tù binh tôi nói nhỏ:
"Ông đã cho chỉ thị đặc biệt cho nhân viên đi xe này chưa? Còng tay họ lại, nếu cần bịt mắt. Về kỹ thuật giải giao trên xe chắc tôi không phải nhắc các anh phải không?"
"Tôi có ra lệnh rõ ràng chi tiết cho họ rồi. Cũng không cần phải bịt mắt vì xe đó tôi có cho chăng bạt kỹ lưỡng rồi. Chỉ có người tò mò tới tận nơi mới biết xe đó chở tù thôi."
"Mấy giờ rồi ông Kiệm?"
"Mười hai giờ ba lăm, anh Ba."
"Ông đã gọi toán hành sự ở bến tầu về chưa?"
"Họ về rồi."
"Toán tuần tiễu đã bốc người của mình ở trạm kiểm soát chưa?"
"Để tôi lên máy check lại."
Từ máy truyền tin vang lên:
"Kinh Kỳ gọi Hồng Hà."
Mọi người căng lên. Kinh Kỳ là danh hiệu tôi đặt cho chiếc xe tuần đặc biệt chung quanh Ty Ngân khố. Ai cũng biết cái gì phải đến đã đến.
"Hồng Hà nghe."
"Mặt trời vừa mới mọc."
"Kinh Kỳ zu-lu đến nhà mới sẽ có người đổi phiên. Trả lời."
"Tôi nghe Hồng Hà năm."
"Ông Kiệm đâu rồi, check cho tôi toán tuần tiễu đương phiên. Bây giờ là mười hai giờ bốn lăm. Tất cả có mặt ở trạm kiểm soát phía nam thành phố lúc một giờ ba mươi. Xuất phát từ đây ông Kiệm đưa toán tuần liễu hạ phiên chạy vòng vòng trong phố một chút rồi hãy trở xuống hướng nam. Nhớ là tôi không muốn thấy có những người không phải là lính trong đoàn xe. Khoan đã, mình có bao nhiêu xe có gắn đại liên."
"Đồn có bốn, mình có hai anh Ba."
"Đây là thứ tự đoàn xe: toán tuần tiễu thượng phiên đi đầu, kế đó hai xe GMC, một xe chở tù có một xe đại liên chạy kế. Rồi tới toán tuần tiều hạ phiên của ông Kiệm, kế đó là một xe Jeep gắn đại liên, rồi hai xe Dodge, rồi hai GMC còn lại, sau cùng là toán tuần tiễu chót. Mình có bao nhiêu Jeep cả thấy?"
"Đồn và đại đội D2 Quân cảnh có chín, mình có năm, anh Ba."
"Giữ cho tôi một Jeep đại liên đi sau chót."
"Trong trường hợp bị phục kích thì sao anh Ba?"
"Thường thường khi phục kích đoàn xe bao giờ địch cũng đánh cắt ra làm hai, ba khúc. Những xe nào đi đầu thoát khỏi dọt đi luôn. Tuyệt đối không quay lại. Những xe bị kẹt lại dĩ nhiên là phải chiến đấu rồi. Bình tĩnh là yếu tố duy nhất để tìm đường sống. Nhẩy ngay xuống xe, nấp vào hố, mương, gò đất, gốc cây... Tất cả những xe đại liên nào không trúng đạn giây phút đầu là phải khai hỏa ngay lập tức vào hai vệ đường, đừng có hốt hoảng cứ đằng trước mà nã đạn thì bắn lộn vào quân nhà đó. Phải nhớ là bình tĩnh, bình tĩnh, bình tĩnh."
"Tôi đi được chưa anh Ba?"
"Rồi, anh có năm phút để dặn lính mấy điều vừa rồi, anh đi ngả kho đạn tới trạm kiểm soát nam chờ tôi."
"Bao giờ em đi anh Ba?"
"Toán của ông đi với tôi, chờ ông Kiệm đi trước độ mười phút, toán của ông có hai GMC cứ tà tà đi thẳng quốc lộ 1 không phải vòng vèo đâu."
"Xe anh Ba đi ở chỗ nào?"
"Kế chiếc xe đại liên sau cùng. Kể từ giờ tất cả các máy truyền tin phải mở 24/24."

*

Ngày N + 14, 1 giờ 30 phút
Tôi nói Thiếu úy Cảm cứ dẫn đoàn xe đi từ từ tới điểm hẹn, tôi muốn nhìn thành phố Qui Nhơn lần chót. Chính nơi đây vợ tôi đã sinh ra, và đã lớn lên. Chính nơi đây ngay sau khi thành hôn tôi phải về ra mắt cả họ ngoại vợ tôi. Vì tôi là một anh Bắc Kỳ, mấy người anh em họ với vợ tôi lúc đầu nhìn tôi hơi kỵ, nhưng rồi họ thân với tôi ngay. Chính nơi đây qua Nguyễn Bắc Sơn tôi giao tình với Nguyễn Mộng Giác, Lữ Quỳnh. Từ liên hệ này lan sang những Lữ Kiều, Nguyên Minh, xem chừng ra Qui Nhơn tặng cho tôi nhiều hơn nhưng nơi khác. Những nơi khác tôi đến với lòng phiền muộn và đi với lòng buồn bã, ở đâu đâu tôi cũng làm rơi vãi tuổi trẻ, ở đâu đâu tôi cũng chỉ thấy cái không khí thời chiến hủy hoại chúng ta đến tận cỗi rễ. Chỉ nơi đây Qui Nhơn cho tôi được đôi điều ấm cúng của tình người, để sau cùng hết sức oái ăm, hết sức oan trái, tôi đến đây ba ngày nhìn thấy Qui Nhơn rồi cũng chẳng còn gì? Có còn chăng chỉ là mấy cái tháp của dân Chàm đã dựng cách đây vài thế kỷ. Rồi những tháp Chàm này sẽ đứng vững được bao lâu?
Tôi đi ngang qua một cây cầu nhỏ ở đầu thị xã, mấy người nghĩa quân già vẫn giữ an ninh đầu cầu. Tôi nhìn thấy những cánh bèo của mùa hè đầy hoa tím, tôi nhìn thấy những ngọn lúa ngã rạp dưới gió. Và đây những cao ốc đầu tiên của thành phố, những người cảnh sát dã chiến còn đang đứng gác trên các cao ốc, những bầy sẻ vẫn bay lên, xà xuống, những con én lạc đàn của mùa xuân đang chao mình trong nắng. Tất cả có biết không? Những người có trách nhiệm với Qui Nhơn đang tìm cách đào tẩu. Những người mới mấy tháng trước đây còn khệnh khạng ra vào, còn quyền uy ngập mặt, họ đang cúi đầu xuống, giấu mặt đi, len lén đào tẩu không một lời báo động với thuộc hạ. Cả tôi nữa, tôi đã dàn ra một số những xen kịch đủ để làm cho những người dân yên tâm ở trong nhà, đủ cho những người nghĩa quân già gác trên đường vào thị xã, những người cảnh sát dã chiến phòng thủ trên các cao ốc. Tôi cũng bỏ đi như một tên ăn cắp. Phải chi tôi được chỉ huy bởi những tiểu tướng của Quang Trung. Những tiểu tướng ít tài nhưng có dư lòng quyết chiến. Đất Qui Nhơn ơi? Sao cay nghiệt thế này.

*

Ngày N + 14, 1 giờ 45
Bây giờ thì xa hẳn rồi. Qui Nhơn ở đằng sau lưng mười cây số. Trong suốt mười cây số vừa qua, có những lúc tôi giận mình đến nghẹt thở, muốn bảo Phúc thắng xe lại, để tôi xuống, đưa cho tôi khẩu "Đại Cồ Việt" của ông Thanh. Tình hình này rồi sớm hay muộn cũng có lúc mình là cá nằm trên thớt. Tại sao không nhân cơ hội cái lưới chưa chụp xuống thì làm bậy một vài đường gươm.
Phải đổi máu của mình lấy một chút gì chứ? Phải đổi thịt của mình lấy một chút gì chứ? Nhưng rồi tôi vẫn ngồi bất động trên xe và bây giờ là đoàn xe trước mặt, Qui Nhơn mười cây số sau lưng.
Tôi biết phẩm chất lính của tôi. Họ đều có người thân ở Nha Trang, Sài Gòn. Và cả tôi nữa. Trăm tay súng của hai đơn vị gộp lại chúng tôi cũng chỉ là một con chốt nhỏ. Bõ bèn gì. Phúc vừa lái xe vừa liên lạc, gã nói vào ống liên hợp:
"Hồng Hà gọi."
"Phú Quốc nghe năm."
"Kinh Kỳ nghe năm."
"... nghe năm."
"Hồng Hà đã nhìn thấy nhà mới." Tôi giằng lấy cái ống liên hợp nói không ngụy thoại gì cả:
"Kiệm, Cảm cho khởi hành đi, giữ tốc độ đều, khoảng cách đều. Xe đi đầu đừng có chạy nhanh quá."

*

Ngày N + 14, 3 giờ 20
Qua con dốc này là tôi đã có thể nhìn thấy những cánh đồng đầu tiên của tỉnh Tuy Hoà. Từ cuối đoàn xe tôi thấy chiếc đầu tiên đã lên tới đỉnh. Tự nhiên tốc độ phía trước chậm lại. Tôi nghe báo cáo từ cái loa truyền tin:
"Kinh Kỳ gọi Hồng Hà."
"Tôi nghe."
"Trình anh Ba một GMC bị hư không chạy được."
"Đẩy nó sát vệ đường, san người sang những xe khác. Tôi lên đó ngay bây giờ."
Chiếc xe đã bò lên được đỉnh đèo, tôi bảo Phúc mời mấy sĩ quan lại hội ý với họ một chút. Vài phút sau mọi người hiện diện đủ. Tôi nói:
"Tôi muốn có ý kiến chung về một việc. Bây giờ là ba giờ rưỡi. Mình nghỉ đây nửa tiếng rồi lên đường. Mình có thể tới Tuy Hoà vào lúc hơn năm giờ, nếu mình đi luôn tối nay thì mới có hi vọng tới Nha Trang. Trong trường hợp phải đi đêm tôi muốn biết ý các ông đi thẳng hay ghé Tuy Hoà nghỉ mai đi."
Một phút nặng nề trôi qua. Trung úy Kiệm lên tiếng trước:
"Nghỉ đêm ở đây đi anh Ba. Mình dọt khỏi Qui Nhơn rồi. Thế là an toàn tương đối rồi. Đi đêm tôi sợ đường không bảo đảm.
"Ý kiến các ông kia sao?"
"Anh Ba quyết định sao cũng được. Tụi em không có ý kiến."
"Tôi thấy đã đi thì đi luôn. Mình sẽ vượt đèo Đại Lãnh vào lúc sáu giờ rưỡi. Trời hãy còn sáng. Nhỡ đêm nay họ chỉ cần có một đại đội mò được đến đây, rồi đóng chốt bít khúc đèo Đại Lãnh lại thì mình công cốc."
Thế là mấy người nhao nhao lên:
"Đi luôn đi anh Ba."
Đúng lúc dó tôi thấy còi xe inh ỏi. Một đoàn xe lẫn lộn năm chiếc vừa Jeep cảnh sát, vừa xe du lịch dân sự lại có thêm một chiếc Jeep nhà binh bắt đầu leo dốc. Đó là đoàn xe của Đại tá Tiểu khu trưởng tiểu khu Bình Định, cùng Trung tá Trưởng ty Cảnh sát. Tôi quay mặt đi, giấu một nụ cười, không có lẽ giấu một hạt lệ thì đúng hơn. Tôi cười vì tôi đã tính đúng giờ khắc phải bỏ. Tôi khóc cho những người ở lại vẫn tin rằng giờ này cấp chỉ huy của họ còn đang hiện diện đâu đó trong nhiệm vụ. Tôi không sợ phải chạm mặt Đại tá ở đây, nhưng không muốn nhìn thấy ông khi đi ngang chỗ tôi, nên cố tình ngồi quay lưng lại. Dầu sao thì tôi cũng chẳng hơn gì ông ta. Nói cho cùng tôi cũng chỉ là một sĩ quan đào nhiệm, dù cho tôi có mang hết được binh sĩ của tôi, tôi vẫn là một cấp chỉ huy hèn nhát không hơn kém. Tôi nghe giọng một người sĩ quan trẻ nói bâng quơ:
"Anh Ba Râu nhà mình giỏi thật."

*

Ngày N + 14, 6 giờ 40
Tuy Hoà ngay trước mặt, có một giây tôi muốn rẽ vào, nhưng xe tôi chạy gần đoạn hậu, tự nhiên tôi thấy nóng ruột kỳ lạ, máy mắt, tim đập loạn xa. Trong suốt một tháng nay, nhiều lần cái chết xảy ra ngay trước mắt, nhưng chưa bao giờ gặp hiện tượng này. Tôi nói với Phúc:
"Tự nhiên anh linh tính như có chuyện bất trắc sắp xảy ra. Anh muốn trở lại Tuy Hoà đêm nay."
"Chắc tại anh suy nghĩ nhiều quá đó, bây giờ mình trở đầu đoàn xe không kịp đâu anh."
Lúc đó tôi mới để ý tới trên đường thiên lý, không phải chỉ có một đoàn xe của tôi. Một đoàn xe khá đông, nhưng tôi đoán chắc là gồm rất nhiều đơn vị, họ qua mặt đoàn xe tôi dễ dàng vì tốc độ của chúng tôi tương đối chậm. Tôi muốn đoàn xe của mình không bị chen kẽ bởi những xe lạ. Tất cả cứ trôi về phương nam trong lúc nắng chiều lịm dần. Ban đầu tôi còn nhìn thấy những xe chạy đầu, dần dần chỉ thấy vài xe trước mặt. Xe đã phải lên đèn, những chiếc xe đầu đoàn đã bắt đầu leo dốc đèo Đại Lãnh. Đúng vào lúc đó tôi thấy một bó lửa túa ra từ bụi cây ven đường, một chiếc xe chạy bên hông đoàn xe tôi bị trúng đạn, nó chạy nghiêng hai bánh vài chục thước nữa trước khi lật xuống bên vệ đường. Đoàn xe của tôi bị cắt khúc trên đầu bốn chiếc Jeep của toán tuần tiễu một, cùng với chiếc GMC chở tù binh và một chiếc Jeep đại liên đi kế lồng lên chạy về trước. Phúc thắng xe thật gấp, liếc mắt lại đằng sau, thấy đường trống, bẻ quặt tay lái, chân đạp thắng, chiếc xe như oằn lại, chồm lên vệ cỏ bên đường rồi trở mũi ngược lại hướng Tuy Hoà không đầy chớp mắt. Tôi hét to:
"Stop lại." Tôi nhẩy xuống núp vào một mô đất ngay bên đường. Cả đoàn xe còn lại của tôi đã dừng lại kip thời, những binh sĩ trên xe nhẩy xuống. Một số người chạy ngược lại phía tôi. Tôi thấy đã đến lúc phải đứng dậy. Tôi xách khẩu "Đại Cồ Việt" chạy lên phía trước. Súng nổ ran ở phía đầu đoàn xe. Hai chiếc xe đại liên phía trước khai hỏa không ngừng dọc theo hai vệ đường. Vài binh sĩ xách súng chạy lúp xúp theo tôi. Địch chỉ bắn có một trái B40 rồi thôi. Tôi nói với Kiệm và ông Đại đội trưởng của tôi:
"Đi tiếp hay quay lại?"
"Quay lại đi anh Ba."
"Tôi nghĩ là mình nên đi bừa đi, hiện giờ nó mới có chỉ ít người bắn một trái B40 rồi thôi. Đợi đêm nay nó về đây đông hơn là mình bỏ mẹ."
"Tôi chỉ sợ mình lên được nửa đèo nó lăn đá xuống mình cũng đủ lật xe mà chết."
"O K. mình quay lại. Bây giờ xe tôi đậu đầu, đường hiện trống, các ông ra lệnh cho trở đầu đoàn xe mình về lại Tuy Hoà."

*

Ngày N + 14, 8 giờ 20 tối
Thiếu úy Huy đồn Quân cảnh Tuy Hoà tới gặp tôi với vẻ mặt lo sợ:
"Ngày mai tôi rút theo Đại úy được không?"
"Ra lệnh cho anh rút không thuộc vào thẩm quyền của tôi. Nhưng nếu anh hỏi tôi giúp cho anh một số ý kiến. Trước tiên là phải tuyệt đối bình tĩnh. Sửa soạn đơn vị kỹ càng. Cắt một người lúc nào cũng đi theo hộ tống Đại tá Tỉnh trưởng để có thể biết lúc nào phải rút."
"Cả ngày nay tôi không thấy ông Tiểu khu trưởng."
"Còn ông Tham mưu trưởng thì sao? Tiểu khu ngày hôm nay có làm việc không?"
"Có Đại úy. Buổi trưa nay tôi có họp với toàn thể các sĩ quan trưởng phòng của tiểu khu. Đại tá Tiểu khu trưởng ra một số chỉ thị xong rồi đi từ lúc đó tới bây giờ tôi không thấy."
"Anh có chắc là ông ấy còn ở đây không?"
"Chắc còn Đại úy. Chắc ngày mai tôi dọt theo đoàn xe của Đại úy cho rồi."
Chúng tôi ngồi bó gối nhìn nhau. Đồn Quân cảnh Tuy Hoà nhỏ bằng cái lỗ mũi, quân số của nó vỏn vẹn trên dưới có mười bẩy, mười tám người. Đột nhiên nó phải chứa hơn trăm người từ Qui Nhơn về, lính ngủ la liệt khắp nơi. Nhưng tôi biết họ nhắm mắt chứ chưa một ai ngủ thật. Tôi, Kiệm, Cảm, bác sĩ Huấn, Huy và mấy người sĩ quan trẻ tôi chưa thuộc hết tên của trại giam Qui Nhơn đều im lặng hút thuốc. Phúc chạy lăng xăng. Nó mang ớ đâu về mấy đòn bánh tét. Phúc cắt ra mời mọi người ăn. Mỗi người cầm một miếng chiếu lệ, Phúc nói với tôi:
"Em kê cái ghế bố cho anh trong phòng Thiếu úy Huy đó, khi nào anh buồn ngủ đã có chỗ sẵn."
"Chú ngủ ở đâu?"
"Em ngủ ở đây."
"Còn mấy ông kẹ này thì sao?"
"Lo gì anh Ba, kê mấy cái ghế sát lại với nhau, kéo mấy cái bàn ráp lại. Thiếu gì chỗ."
"Ngày mai mình đi lúc nào Đại úy."
"Càng sớm càng tốt. Tôi nghĩ là mình dậy độ sáu giờ, sắp xếp đoàn xe xong bẩy giờ là vừa. Thôi đi ngủ đi mấy ông kẹ."

*

Ngày N + 14, 12 giờ 30 đêm
Tôi không sao ngủ nổi, ngồi dậy quờ quạng trong bóng đêm. Tôi thấy Huấn cũng không ngủ được, tôi rủ Huấn ra ngoài. Cả hai đi lặng lẽ. Đồn Quân anh Tuy Hoà tọa lạc ngay bên cạnh Tiểu khu. Từ quốc lộ 1, nếu lấy hướng nam bắc làm chuẩn, khu vực buôn bán, dân chúng ở nằm bên tay trái, bên tay phải phần lớn là các ty sở và đơn vị quân đội. Một con đường khá rộng dẫn từ quốc lộ 1 ra tới sát biển. Con đường dài chừng hơn một cây số, hai bên đường là những hàng phi lao thẳng tắp. Cảnh đêm cũ ở Phú Bổn lại tái diễn. Người ta ngủ ở khắp nơi, xe nhà binh, xe dân sự nằm dài theo hai vệ đường và đều quay đầu ra quốc lộ 1. Không ai bảo ai, họ đều hướng về một phía. Phía đó là sinh lộ duy nhất đưa họ xuôi nam. Phía đó là phía duy nhất giúp họ tránh khỏi nơi dầu sôi lửa bỏng, nơi tên bay, đạn lạc và mạng con người rẻ hơn bèo.
Cảnh chinh chiến ở đâu cũng vậy, thời nào cũng thế. Huấn nói với tôi:
"Anh Ba à, tôi nghi ngày mai mình có thể bị đụng nặng. Anh Ba có tin vào số mạng không?"
"Ông Đốc ơi, suốt đời tôi, tôi không bao giờ tin vào số mạng, tôi không tin cả Phật, Chúa, tôi chỉ tin ở tôi thôi."
"Từ hôm có công điện cử anh Ba ra ngoài này, tôi nghe lính bàn tán về anh Ba nhiều lắm. Cứ theo cách họ nói thì anh có vẻ là một sĩ quan của đoàn quân Lê dương, nên lúc đầu tôi không mấy thiện cảm với anh Ba. Đến khi gặp anh rồi mới thấy lính nói về anh Ba không đúng."
"Ông nghĩ tôi như thế nào?"
"Mới có bốn ngày kể từ lúc anh Ba bước chân vào đơn vị, tôi không thể nói gì cho đúng về một cá nhân. Nhưng chắc chắn bọn lính nói sai về anh Ba. Ít nhất là nói không đủ. Ở Phú Quốc anh Ba hay đánh tù lắm phải không?"
"Không. Tôi hay đánh lính của tôi mỗi khi họ bỏ đơn vị đi cả mười, mười lăm ngày khiến người khác phải gác thay. Tôi đánh lính như anh đánh em vậy."
"Anh Ba bị các xếp ghét lắm phải không?"
"Họ không ghét tôi đâu, họ sợ thì đúng hơn."
"Anh Ba bị phạt nhiều lắm phải không?"
"Độ tám mươi ngày trọng cấm đâu có nhiều so với mười hai năm quân ngũ. Mỗi năm trung bình có bẩy ngày."
"Anh Ba ghét Mỹ lắm phải không?"
"Không. Tôi ghét da trắng, mắt xanh, tóc vàng, mũi lõ."
"Tôi thấy anh Ba có vẻ nghệ sĩ hơn là chiến sĩ."
"Thế là ông cũng lầm về tôi luôn. Suốt đời tôi chỉ mê dậy học, tôi cũng thích văn chương lắm. Nhưng văn chương không phải cứ làm vài bài thơ là thành thi sĩ, hay viết một hai cái truyện ngắn lèm bèm mà là văn sĩ đâu. Hãy nhìn trước mặt ông coi. Chúng ta có biết bao nhiêu điều phải nói, thế mà các ông văn nghệ sĩ hàng đầu của chúng ta còn mải thai nghén trong các tháp ngà. Văn chương của tôi chính là đời sống của tôi. Tôi sẽ là nhà văn. Bây giờ thì chưa."
"Tụi nó nói anh Ba có in sách, dường như là hai quyển thơ phải không?"
"Đúng, thật ra nó cũng chưa phải là thơ. Đó là những phẫn nộ, những bất công, những dồn nén không có lối thoát nên tôi để nó bùng lên trong vài trang giấy. Mình về đi ông Đốc."
Gió thổi từ biển về luồn qua những rặng phi lao, tạo nên những tiếng thì thầm, tiếng oán than, đôi lúc nó rít lên, trong lúc những cọng phi lao rơi lả tả xuống mặt đường.

*

Ngày N + 15, 3 giờ sáng
Tôi vẫn không sao ngủ được, càng suy nghĩ càng thấy cuộc chiến đang đi vào hồi kết cục. Tôi sinh ra ở miền Bắc, lớn lên ở miền Nam. Tôi nhớ như in ngày lên mười một tuổi, vừa đậu tiểu học xong thì cha tôi có một quyết định lớn, ông bỏ hết gia tài, sản nghiệp, bỏ cái dinh cơ đã được tạo dựng từ nhiều thế hệ trước, tay trắng dẫn anh em chúng lôi vào Nam. Bởi lẽ đó đối với tôi cả miền Bắc, ngoại trừ căn nhà tôi, còn tất cả là phát nguyên của máu và thù hận. Những năm cơ cực ở miền Nam qua đi, các anh chị tôi trưởng thành, mỗi người gây dựng cho mình một tiểu gia đình ấm cúng, hòa thuận. Chúng tôi lớn lên trong sự cần mẫn của cha tôi, trong sự lương thiện của một gia tộc thấm nhuần Nho giáo. Do sự lương thiện này mà các anh tôi mỗi người có được một căn nhà đơn sơ, nằm trong các ngõ hẻm ở Phú Nhuận, ở Bàn Cờ, ở Phú Thọ v.v... Các anh tôi đi làm bằng những phương tiện khiêm nhường, những chiếc xe Mobylette hay Honda. Nhưng không phải vì vậy mà tôi không yêu miền Nam vô vàn. Tôi yêu từng con đường, từng ngõ hẻm, từng sân banh, từng xóm điếm.
Năm hai mươi tuổi tôi nhập ngũ tình cờ, nhưng không phải vì vậy mà tôi không yêu quân đội. Chính quân đội đã cho tôi thỏa mãn trọn vẹn cái máu giang hồ vặt của tôi. Do đó trong hồ sơ quân bạ của tôi người ta đã phải đóng thêm vài tờ giấy để phụ ghi về mục thuyên chuyển. Những xáo trộn về chính trị đã thay đổi dần bộ mặt miền Nam. Cha tôi một công chức đã về hưu, sau cùng đã đi gác đêm cho những cơ sở tư nhân Mỹ. Mỗi lần thay đổi guồng máy cai trị, miền Nam lại tiến xa hơn trên vũng lầy tồi tệ. Những năm gần đây nhất, càng lúc tôi càng có cơ hội để chứng nghiệm những nhân vật cao cấp của miền Nam, tiêu máu xương thuộc hạ như tiêu bạc giả. Ngay cả quân lực miền Nam, cái xương sống của chế độ, cái tập hợp kỳ diệu này đã chống đỡ miền Nam qua những thời điểm đẫm máu nhất của nội bộ dân Việt, cái tập thể kỳ lạ đã giúp miền Nam đứng vững trong Tết Mậu Thân 68, đã chống đỡ miền Nam suốt một mùa hè 72. Bây giở cái tập thể kỳ diệu đó đang tan ra, cái khối vững chắc đó, do những thẩm thấu của chính tri, đã chia ra thành những mảng nhỏ. Và bây giờ mùa xuân năm 75 những mảng nhỏ này dang vỡ vụn ra từng phần.
Trong bóng đêm đầy đặc, giữa tiếng muỗi vo ve, thạch sùng tắc lưỡi, đột nhiên tôi nghe được những âm thanh kỳ lạ, hỗn tạp. Những âm thanh của sắt thép chém vào nhau, của bom đạn, của những đường đạn đạo đi qua thân người, có lúc tôi còn nghe được cả tiếng ngựa hí, quân reo, voi lồng, đường tên xé gió. Tất cả vang lên trong đầu tôi, tôi tưởng chừng như sắp chết giữa những âm thanh kinh hoàng đó, thì đột nhiên những tiếng động đó chấm dứt. Trong bóng đêm một hai tiếng tiêu nổi lên. Khúc tiêu dồn dập hơn, hình ảnh người lính Biệt động quân ngày nào đang thổi khúc tiêu chót trong cơn tàn chinh chiến. Bóng anh rõ hơn, cặp mắt anh sâu thẳm như bóng đêm, và tôi thiếp đi trong tiếng tiêu kỳ diệu đó.

*

Ngày N + 15, 6 giờ 30 sáng
Tôi giật mình choàng dậy bởi những tiếng lách cách của bàn ghế thu dọn lại. Phúc đã nai nịt gọn gàng từ hồi nào. Sáng nay tôi mới nhìn thấy rõ Phúc tuy hơi mập, nhưng rất điển trai, trông lại phúc hậu, đúng là típ người mà vợ tôi mô tả là "tốt bụng". Bỗng nhiên tôi ghét, sợ cái chữ "tốt bụng" này. Những lời nói của vợ tôi mấy bữa trước như ám ảnh tôi: "Người ta chết nhiều quá, lại chết toàn người tốt bụng không à!" Mới sáng ra đã có những ý nghĩ không hay. Phúc lăng xăng thu dọn đồ đạc. Nó nói với tôi:
"Anh đánh răng rửa mặt. Em đã pha sẵn cho anh một phin cà phê. Để em ra ngoài kia kiếm bậy bạ cái gì anh em mình ăn sáng rồi đi là vừa."
Lại một ý nghĩ không tốt nữa. Tôi lại sợ cái chữ "ma đói" của Phúc. Tôi xót xa nhìn Phúc như nhìn một đứa em nhỏ sắp rơi xuống hố mà không làm gì để giúp được. Tôi không hiểu tại sao Phúc lo cho tôi nhiều thế. Mấy năm trước khi Phúc làm việc với tôi ở Biên Hoà. Tôi còn bận mờ người để chống đỡ những thủ đoạn vặt vãnh của một anh xếp, mà binh sĩ Quân cảnh gọi trại tên anh thành ra "MA SANH QUỈ", vì cái tên thật của anh này khi dịch ra tiếng Việt là ngựa sanh rùa. Sáng nay tôi hiểu ra, quân lực miền Nam bên cạnh những người đã chết rất trẻ, đã anh hùng tới phút chót của đời, bên cạnh những Nguyễn Đình Bảo Nhẩy dù, Lê Hằng Minh Thủy quân Lục chiến, Lưu Trọng Kiệt Biệt động quân, cùng hàng vạn những người anh hùng khác đã chết không nêu danh tánh, chúng ta có không thiếu loại hai anh em ma sanh ra quỉ, ngựa sinh ra người này. Chúng ta có không ít những người mà binh sĩ gọi là thượng đội hạ đạp, nịnh trên nạt dưới, tham nhũng, hối lộ, lạm quyền v.. v... Những người anh hùng thật sự không sớm thì muộn cũng đã trở về an nghỉ thật sâu trong lòng đất. Mùa chinh chiến đang ở vào hồi kết cục, cảnh cuối của một giai đoạn lịch sử nào mà không kết thúc bằng những bãi tha ma?
Huấn, Kiệm, Cảm và mọi người khác đã lục tục dậy tất cả, họ cũng khăn áo kỹ càng, tôi nói với Cảm:
"Cậu ra check lại mấy cái xe, bảo mấy ông tài lo xăng nhớt, nước nôi cho cẩn thận. Hôm nay mình phải leo đèo Đại Lãnh."

*

Ngày N + 15, 7 giờ sáng
Thiếu úy Huy đồn Quân cảnh Tuy Hoà đang xem lại giấy tờ sổ sách của đơn vị. Huy nói với tôi:
"Tình hình này chắc tôi cũng rút luôn hôm nay, Đại úy. Sáng nay tôi dậy sớm, vào Tiểu khu thấy trống trơn, có một ông sĩ quan trực đêm qua, nhưng sáng nay ông ấy biến từ sớm."
Đúng lúc đó tôi nghe tiếng depart của súng cối. Cái tiếng depart này làm tim tôi muốn vỡ ra từng mảnh. Nó cho tôi linh cảm thấy trước tôi không phải chạy đâu xa, họ đã có mặt ở đây. Có nhiều đủ để cầm chân chúng tôi ngay tại cái rọ này. Chắc chắn họ sẽ đóng một chốt thật lớn trên đầu đường ra quốc lộ 1, chúng tôi có cả ngàn người lính ở đây, nhưng chúng tôi không có người chỉ huy. Không ai có thể bảo ai lúc này. Một tiếng nổ lớn kinh hoàng vọng lại từ phía quốc lộ. Một cụm khói bốc cao. Đám đông ùa chạy lại phía tôi, rồi tiếng depart thứ hai, thứ ba. Dường như trong gió, có tiếng rít của đạn súng cối, hai quả đạn sau này có điều chỉnh kỹ hơn, nên nó nổ ngay giữa đoàn xe, không biết có ai tử thương không. Tôi đảo mắt một vòng, một chiếc xe Dodge trúng đạn bốc cháy, đám đông kinh hoàng chạy ngược lại phía tôi, đàn bà, con nít khóc như ri, còn những người mang quân phục, người thì có súng, người thì tay không.
Giữa đám đông hỗn loạn này tôi thấy một người lính vừa chạy vừa thay áo, cởi được cái áo lính gã vứt xuống đường, vừa chạy vừa moi trong túi xách một cái quần dân sự. Gã ngừng lại ngay giữa đường, cởi nốt cái quần. Đôi giầy nhà binh làm gã không kéo được cái quần ra, gã ngồi xuống vừa cởi giầy, mặt như là mếu.
Tôi muốn bắn gã ta nhưng ngừng lại kịp thời. Tôi nhân danh cái gì mà bắn người lính này, vốn từ lâu rồi là lính kiểng. Cứ trông bộ mặt gã ta, giữa đất Tuy Hoà, một chân trên bờ, một chân dưới biển, mà mặt trắng như sữa, lại còn cái kính Ray Ban gọng vàng. Cái quần vẫn còn kẹt ở đầu gối, cứ nhìn những tảng mỡ bụng trắng nhễ nhại, cứ nhìn cái bắp vế nhẽo nhẹt, tay chân run lẩy bẩy, thì tôi biết đây không phải là lính của vua Quang Trung. Những người lính của vua Quang Trung thường mặt xạm đen vì nắng gió, hai thế kỷ trước cũng thế, bây giờ cũng vậy. Hai thế kỷ trước họ cứ đi mỗi nhóm ba người, hai người võng một người, thay phiên mà đi, hễ cứ ngồi võng là ngủ, xuống đất là đi. Cứ đằng trước mà tiến. Cứ thế trong mười ngày tiến một mạch từ Phú Xuân tới Thăng Long, trong một đêm đánh đồn Ngọc Hồi, Hà Hồi, bắt sống không còn một mạng giặc. Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự sát. Thừa thắng quân kéo tới bổ vây Thăng Long. Cứ hai mươi người khiêng một cái tạm gọi là lá chắn, phủ đầy rơm rạ ướt để đỡ tên, đạn, và quân có đoản đao, đoản kiếm nương theo đó mà tiến đến chân thành. Người này ngã kẻ kế tiến lên. Như sóng dâng, như vũ bão. Tôn Sĩ Nghị phải mở cửa sau, bỏ quân, bỏ lính, bỏ ấn tín, phù hiệu mà chạy. Hậu duệ của những người lính này, hai thế kỷ sau cũng vậy. Mặt vẫn xạm đen vì nắng gió, thân thể dẫu có nhỏ bé nhưng chắc nịch. Họ vẫn thường đội nón đỏ, nón xanh, nón nâu, vẫn mang hai mươi kí vừa vũ khí, đạn dược, lương thực trên người. Họ đã chống đỡ miền Nam suốt hai chục năm, chỉ tiếc thay những tướng quân không phải là những Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Vũ Văn Dũng, Ngô Văn Sở v.v...
Bởi chúng ta có quá nhiều tướng kiểu "Quế tướng quân" nên mới có cái hạng lính mới nghe tiếng súng mà đã cởi giầy, tụt áo. Bây giờ thì gã đã cởi xong giầy, đá cái quần lính ra xa, xỏ vào người một cái quần thường, bây giờ trông gã bảnh trai, diêm dúa. Gã nhập vào đám đông. Bây giờ tôi trông thấy rất nhiều người cởi giầy, bỏ áo. Có những cái áo có lon mai bạc, mai vàng trên cổ. Chưa bao giờ tôi thấy nhục nhã thế này. Địch còn cách đây cả cây số, mới có ba trái bích kích pháo mà cả đoàn quân đã tan. Tôi nhìn thấy từ quốc lộ 1, hai chiếc chiến xa dĩ nhiên của địch, lù lù tiến tới. Hai chiếc chiến xa đậu lại, bóng chúng đen sậm trên nền trời mỗi lúc mỗi tỏ. Hai họng súng đại bác quay về phía chúng tôi. Một trái đạn nổ trong tiểu khu. Đám đông từ trong Tiểu khu túa ra. Từ sáng tới giờ, từ lúc Thiếu úy Huy nói chuyện với tôi thì tiểu khu hầu như đã bỏ trống. Những trái đạn bích kích pháo ban đầu làm cho người ta chạy vào trú ẩn trong đó, bây giờ phát đại bác nổ trong Tiểu khu, nên đám đông lại chạy ngược trở ra. Tôi nói với Kiệm, Cảm và những sĩ quan của đơn vị tôi:
"Mình bị chận đầu rồi. Tập họp toàn thể lính lại, chúng ta vào trong tiểu khu cố thủ." Kiệm hốt hoảng rõ rệt, anh không hô nổi một cái khẩu lệnh tập họp. Bởi chính Kiệm bây giờ cũng đã áo quần dân sự. Tôi nhìn thấy lính của tôi, lác đác đã có người trút bỏ quân phục. Tôi buồn bã hỏi Thiếu úy Huy:
"Sau Tiểu khu có ngả nào đi được không?"
"Không Đại úy. Kế tiểu khu là một xóm chài, mình sát ngay bờ biển rồi Đại úy. Chạy dọc theo bờ biển mình còn phải qua hai nhánh sông. Mà rốt cuộc mình vẫn phải ra quốc lộ 1. Mình có thể thoát thân bằng đường biển. Nhưng đào đâu ra thuyền lúc này."
"Vậy thì mình phải rút vào Tiểu khu. Địch đâu có nhiều. Nếu nhiều, họ đã tấn công vào đây rồi. Họ chỉ bắn vài phát là vì họ cũng không có đủ lực lượng. Dồn thú tới đường cùng còn nguy hiểm huống hồ dồn cả ngàn người có vũ khí trong tay. Tập họp lại. Anh em mình vào Tiểu khu, ở đó có hàng rào, có lũy đất bao quanh, có địa thế rõ ràng để phòng thủ. Tập họp lại."
Đích thân tôi ra lệnh tập họp. Quân số của tôi và Kiệm cộng lại là một trăm sáu mươi lăm người. Một số thoát đi tối hôm qua, bây giờ ít nhất cũng còn một đại đội đầy đủ. Vũ khí thì không bao giờ thiếu, người ta đã vứt xuống đường như củi khô.

*

Ngày N + 15, 7 giờ 15 phút
Kiệm, Cảm, Huy đưa lính của ba đơn vị: Trại giam Tù binh Qui Nhơn, Đồn Quân cảnh Qui Nhơn, Đồn Quân cảnh Tuy Hoà vào trong Tiểu khu xong. Tôi thấy đám đông hỗn loạn bên ngoài chạy tới chạy lui, tiến ra quốc lộ 1 thì không được, Việt cộng có hai chiến xa đậu ngạo nghễ ở đó, chạy lui ra phía xóm chài, rồi cũng không có ngõ thoát. Cảnh tượng trong Tiểu khu còn làm tôi não lòng hơn nữa. Bốn chiếc xe V100 (giống thiết giáp nhưng chạy bằng bánh cao su) nằm im lìm với đại liên 30 trên pháo tháp, quân phục vất la liệt. Tôi nhìn thấy một áo có lon trung tá, nếp hồ ủi còn láng bóng. Bảng tên trên cái áo này là "Hung" không biết là Hưng hay Hùng. Trên cái áo này, tôi nhìn thấy một cái "lục quân huân chương" trơ trẽn trên nắp túi áo trái. Cái huy chương này dùng để tưởng thưởng cho những người hội đủ điều kiện nghĩa là mười năm "sĩ quan" đổ lên. Ông Hưng hay Hùng ơi, ông giả đò khiêm tốn chỉ đeo "Lục quân huân chương" làm gì, mang tới lon trung lá thì tối thiểu cũng phải mười năm quân vụ. Đến tôi là đại úy quèn mười hai năm quân vụ có tới tám mươi ngày trọng cấm mà cũng còn có "Lục quân huân chương" như ông, thì có danh giá gì cho cam.
Nhưng phải công nhận rằng ông không "hùng" bằng tôi, hay ít ra gọi cho đúng: ông "hèn" hơn tôi. Giờ này áo ở đây mà người "hùng" biến đâu. Tôi nhìn quanh, tưởng chừng như bất cứ ai mặc dân sự lớn tuổi cỡ bốn mươi trên hay dưới một chút, đều có thể là trung tá Hùng hay Hưng này. Nhưng chỉ bắt gặp những khuôn mặt sợ hãi, hốt hoảng. Tôi thấy phải chặn đứng tình trạng này. Tôi nói với Phúc:
"Chú chạy ra xe GMC của mình lấy cho anh cái máy phóng thanh xách tay lại đây."
"Anh làm gì với cái đó?"
"Kêu gọi mọi người bình tĩnh. Kêu gọi mọi người chống cự chờ tiếp viện của quân đoàn."
Năm phút sau Phúc mang về cho tôi một máy phóng thanh xách tay. Đứng trên đầu một xe GMC đậu ngang cổng Tiểu khu Tuy Hoà, tôi kêu gọi mọi người hãy tỉnh cơn mê sảng lại. Từ trên nóc xe cao này tôi nhìn thấy một chiếc trực thăng đậu im lìm sau những lùm cây, trong một bãi đất trống phía sau Tiểu khu.

*

Ngày N + 15, 7 giờ 30 phút
Giữa đám đông hỗn độn ngược xuôi, giữa những tiếng kêu gọi ầm ĩ, giữa những tiếng súng cá nhân vọng từ đầu quốc lộ lại, giọng tôi cất lên. Qua cái máy phóng thanh xách tay, tiếng tôi nghe rõ mồn một:
"Các quân nhân thất lạc đơn vị chú ý. Các quân nhân thất lạc đơn vị chú ý. Chúng ta đã bị địch chận đầu trên đường ra quốc lộ 1, chúng ta đã bị bao vây ở đây. Chúng ta chỉ có một đường sống duy nhất là chiến đấu. Bây giờ còn quá sớm để Không quân có thể yểm trợ chúng ta. Chúng ta có cả ngàn tay súng ở đây, địch cũng không có nhiều. Tôi Đại úy Nguyễn Vinh Hiển Chỉ huy trưởng Trại giam Tù binh Việt cộng Qui Nhơn, đơn vị tôi quyết định rút vào cố thủ trong Tiểu khu Tuy Hoà. Tôi kêu gọi mọi quân nhân thuộc các đơn vị hãy ở lại chiến đấu cùng đơn vị chúng tôi. Chúng ta phải kháng cự lại trong lúc chờ không quân tới giải tỏa quốc lộ 1. Phải bình tĩnh chiến dấu như một người LÍNH."
Tôi kêu gọi lần thứ hai, một đại úy khác đứng lại, anh đeo phù hiệu quân cụ, anh nói với tôi: "Đại úy cho tôi mượn cái máy phóng thanh." Anh nhảy lên mũi xe đứng kế tôi, anh xưng tên họ, cấp bậc, đơn vị, anh cũng kêu gọi binh sĩ thuộc đơn vị anh ở lại chiến đấu.
Rồi một trung úy thuộc Tiểu khu Bình Định, anh cũng mượn máy phóng thanh kêu gọi các quân nhân khác hãy ở lại chiến đấu. Trong máy phóng thanh anh lập lại tên tôi và nói: Tôi kêu gọi mọi người ở lại chiến đấu, và nhận sự chỉ huy của Đại úy Nguyễn Vinh Hiển.
Cả ba chúng tôi đứng chơ vơ trên mũi xe, một phút trôi qua, tôi thấy một số binh sĩ súng cầm tay đi vào Tiểu khu, một vài chuẩn úy, thiếu úy thật trẻ, tiến vào đứng lớ ngớ bên trong vòng đai phòng thủ. Tôi nói với ông Đại úy Quân cụ:
"Ông kêu gọi thêm độ vài lần nữa, tôi phải vào trong tổ chức phòng thủ."
Tôi bắt tay ông ta, chúng tôi xiết tay nhau thật chặt, mắt nhìn mắt, diện đối diện. Gió từ biển thổi vào tóc anh và tóc tôi dựng lên. Tôi nhẩy xuống xe bước vào Tiểu khu.

*

Ngày N + 15, 7 giờ 45 phút
Tôi nói với dám đông:
"Địa thế đây rất dễ cho chúng ta phòng thủ. Có hàng rào, lũy đất sẵn sàng, vuông vức bốn cạnh. Bây giờ các anh đứng bốn hàng dọc, các sĩ quan đứng trước. Hiện thời binh sĩ của đơn vị tôi đã chia đều trên bốn mặt của Tiểu khu. Mỗi một hàng sẽ lo một mặt. Tôi cũng đã có sĩ quan của tôi ở đủ bốn nơi, các anh sẽ nhận lệnh trực tiếp từ mấy trung úy của tôi."
Trong chớp mắt đám đông chia ra làm bốn hàng, có cả chục sĩ quan, cao nhất là một đại úy. Một đại úy già chắc cũng sắp đến tuổi về hưu. Tôi nói với ông ta:
"Đại úy phụ với tôi coi tổng quát. Ông nhiều tuổi hơn tôi, nhiều kinh nghiệm nhà binh hơn, ông thấy gì phải làm cứ việc ra lệnh. Kể từ giờ phút này, lính trong đơn vị tôi sẵn sàng nghe lệnh của ông."
"Tôi là sĩ quan tài chánh có biết đánh nhau bao giờ. Đại úy cứ chỉ huy đi."
Bây giờ tôi có tới hơn ba trăm tay súng. Dễ chừng đến bốn trăm người. Quân số này tương đương với một tiểu đoàn. Nhưng súng ống thì nhiều vô kể. Tôi nói với Kiệm bây giờ đã khoác thêm một chiếc áo Jacket nhà binh, có hai mai trên cổ áo:
"Ông cho câu công tắc hai chiếc V1OO này lại, chạy đậu bít cổng ra vào cho tôi. Mời ông Đại úy Quân cụ vào. Ai muốn chiến đấu nãy giờ đã hiện diện trong Tiểu khu. Xong rồi ông ra kiểm điểm lại coi tất cả có bao nhiêu đại liên M60 và bao nhiêu súng phóng lựu M79."
Kiệm xem chừng đã bình tĩnh trở lại. Anh hăm hở chạy đi, hai chiếc V100 phun một lớp khói đặc, trước khi nổ máy. Bây giờ tôi có một ban chỉ huy tiểu đoàn gồm bốn sĩ quan trời ơi: tôi, một Đại úy Tài chánh, một Đại úy Quân cụ, một Trung úy Địa phương quân. Súng đạn nhiều vô số kể. Không kể bốn ụ đại liên 30 trên bốn lô cốt bốn góc Tiểu khu, trên các lũy đất phòng thủ, ngoài trừ mặt tiền là nhà dân chúng, chúng tôi đã bố trí hai xe V100 với hai ổ đại hên bên trên, ba cạnh còn lại, một phía là biển, hai phía là đồng trống lác đác có vài căn nhà dân. Trên ba cạnh này cứ mỗi mười lăm, hai mươi thước tôi lại có một M60 và cứ mỗi M60 lại có một M79 phóng lựu đi kèm. Lác đác đó đây tôi thấy một vài ống phóng hỏa tiễn chống chiến xa loại cá nhân. Tôi thầm nghĩ trong bụng với quân số thế này, với vũ khí đó, và vị trí phòng thủ kiên cố Việt cộng muốn xơi tái chúng tôi cũng cần phải có quân số đông gấp đôi, và cũng phải bỏ xác lại không ít. Tôi nói thầm với mình: Phải đổi máu mình lấy cái gì chứ.

*

Ngày N + 15, 8 giờ 30 phút
Một tràng đạn AK nổ chát chúa phía đằng sau Tiểu khu, tôi chạy lại đó. Trên lũy đất phòng thủ, hàng trăm khẩu súng đủ mọi loại trả lời, hàng trăm người lính bắn xối xả về phía trước. Tôi chưa nhìn thấy bóng dáng một địch quân, chỉ là một cánh đồng lúa xanh rờn. Bốn năm khẩu M60 rung lên, đất bay mù trời dưới nhịp bắn tự động. Tôi hỏi Kiệm, người phụ trách mặt này:
"Cái gì vậy? Địch đâu?"
"Bọn nó núp ở bờ ruộng trước mặt đó, Đại úy."
"Đông không?"
Để trả lời tôi một tràng AK nổ ròn rã. Địch núp ngay trước mặt, khoảng 100m. Tôi chợt nghĩ ra họ không có nhiều, họ chỉ có vài người ở phía này, họ muốn dò thử lực lượng chúng tôi. Chỉ năm phút qua, họ đã biết phẩm chất của những người lính bên trong hàng rào. Cứ tình hình này họ cứ việc nằm dưới ruộng, bắn bâng quơ vào trong này, rồi hàng trăm khẩu súng khai hỏa, chả mấy chốc mà núi đạn cũng hết. Chả mấy chốc mà họ tiến vào với tiểu đội đủ bắt một tiểu đoàn lính đầu hàng. Tôi hét lớn:
"Không được bắn bừa bãi, chỉ khai hỏa khi thấy rõ địch quân. Đại liên bắn nhịp ba, nhịp bốn. Phúc đâu. Lấy cho anh cái máy phóng thanh."
Một tràng AK nổ phía tay phải, thềm bắn bên đó cảnh cũ tái diễn, tôi nghe cả tiếng M79 bắn đệm cho M60. Tôi nhìn thấy lính phòng thủ mặt mày tái mét. Tôi quay lại hội ý với ông Đại úy Quân cụ và ông Đại úy Tài chánh. Bây giờ chúng tôi chia ra mỗi người một mặt. Tôi nói với hai người bạn đồng cảnh:
"Ra lệnh cho họ bắn cầm chừng phải tiết kiệm đạn." Phúc đã mang máy phóng thanh về. Tôi mặc áo giáp, đội nón sắt, đứng thẳng trên lũy đất. Dĩ nhiên tôi cũng sợ, nếu bên ngoài kia địch chỉ có một người bắn giỏi, có một chỗ nấp bắn thì tôi là một cái bia không chối cãi được.

Tôi nghe giọng tôi vang lên trong lúc cả hai phía đều im tiếng súng:

"Các quân nhân chú ý! Các quân nhân chú ý! Chỉ khai hỏa khi thấy rõ địch. Tôi nhắc lại chỉ khai hỏa khi thấy rõ địch quân. Đại liên bắn nhịp ba, nhịp bốn, không được bắn bừa bãi, phí đạn."

"Bên phải nghe rõ."

"Bên trái nghe rõ."

Bây giờ thì dường như mỗi sĩ quan phụ trách một ổ đại liên. Cảnh tượng hệt như trên thềm bắn ở các quân trường. Chỉ cần có sĩ quan giám xạ, hạ sĩ quan phụ trách thềm bắn để sửa thế bắn cho những người bắn tập trên xạ trường. Đây không phải là những người lính đối diện với địch quân, mà là những đại đội khóa sinh, đang thực tập tác xạ. Trên bờ mấy thửa ruộng ở bên ngoài chắc địch quân đang tìm một cách khác để tấn công. Lợi dụng lúc cả hai bên ngưng tiếng súng, tôi đi một vòng tuần hành quan sát cả trong lẫn ngoài. Không biết địch sẽ làm gì. Tôi thắc mắc nhất là tại sao hai chiếc chiến xa của địch lại án binh bất động. Chúng vẫn đậu im lìm trên đầu quốc lộ. Chúng cũng không thèm sử dụng hai khẩu đại bác trên pháo tháp. Tôi thầm nghĩ mình cần vài người can đảm. Với hàng trăm chiếc xe đậu thành hàng dài trên con đường dẫn ra quốc lộ 1, chỉ cần vài người men theo hông những chiếc xe này tiến ra. Chỉ cần một tiểu đội không sợ chết. Tôi không nghĩ là "cảm tử", cảm tử có nghĩa là mười phần chết đến chín, nhưng tình cảnh này không đến độ như thế. Chỉ cần một tiểu đội không sợ chết, trang bị ống phóng M72, tiến ra hạ được hai chiến xa này thì chúng tôi thoát. Ít nhất cũng thoát được ra quốc lộ 1, nếu không chúng tôi hoàn toàn bị vây khổn. Tôi nhìn lại chung quanh, chắc chắn phải là một tiểu đội có sự thuần nhất về chỉ huy, có sự thuần nhất về đơn vị. Tôi nói với Phúc:

"Tìm cho anh Thượng sĩ Điệp lại đây"

*

Ngày N + 15, 9 giờ sáng

Phúc dẫn Điệp lại chỗ tôi. Tôi cho Điệp biết ý định muốn triệt hạ hai chiếc thiết giáp của Việt cộng. Tôi nhìn thấy thật rõ những giao động trên nét mặt Điệp. Tôi biết Điệp khá lâu. Anh là một hạ sĩ quan thật trẻ với cặp bậc thượng sĩ, anh đã làm việc với tôi hơn một năm trời ở Pleiku. Anh đã có vợ và hai con. Tôi nói rõ ràng:

"Đây không phải là lệnh. Đây là yêu cầu, nhưng tôi biết anh có thể làm được."

Một phút nặng nề trôi qua. Điệp nói với tôi:

"Anh Ba cho em vài phút, em kiếm mấy khẩu M72 với vài người nữa chịu chơi đi với em".

"Cứ kiếm người đi, kiếm trong đơn vị mình được rồi. Kiếm mấy cậu còn độc thân nghe Điệp"

"Anh Ba yên trí. Em ở đây lâu rồi, em biết thằng nào chịu chơi, thằng nào chơi chịu."

*

Ngày N + 15, 9 giờ 15 sáng

Một trái bích kích pháo nổ ngay sân cờ Tiểu khu Tuy Hoà, một người chết ngay, một người bị thương nặng và vài người bị thương nhẹ. Cùng lúc đó tiếng hô xung phong vang lên từ mấy bờ ruộng. Hàng chục khẩu M79 và hàng chục khẩu M60 khai hỏa. Rõ ràng địch vẫn chỉ khiêu khích để binh sĩ trú phòng hao tổn đạn dược. Họ bắn không kể trời đất gì nữa. Tôi gào vào máy phóng thanh xách tay:

"Bên phải ngừng bắn!"

"Bên trái ngừng bắn!"

Bây giờ các sĩ quan chỉ còn là khẩu đội trưởng của một ổ súng đại liên. Tôi thầm cám ơn Huấn vô cùng. Anh đã làm tất cả những gì một y sĩ trẻ mới ra trường có thể làm được. Anh băng bó cho mấy người bị thương nhẹ, chích một liều thuốc an thần cho người bị nặng. Kẻ chết thì đã chết rồi. Chúng tôi khuân xác người vừa nằm xuống tới một căn phòng trống trong tiểu khu. Trong suốt một giờ liền, địch bắn bâng quơ vài quả đạn súng cối, nổ nhiều tràng AK vào trong Tiểu khu. Số tổn thất nhân mạng không bao nhiêu, nhưng tôi không làm sao kiểm soát nổi binh sĩ. Trong vòng đai tiểu khu, những khẩu M60 và M79 đua nhau nổ, lác đác đã có vài khẩu hết đạn. Khói súng và cát bụi bay mờ trời, mùi thuốc đạn khét lẹt. Tình trạng này chỉ kéo dài một tiếng nữa, địch chỉ cần tiếp tục khiêu khích thêm một tiếng nữa, tôi e rằng đến cả những khẩu colt cũng hết đạn.

Thượng sĩ Điệp dẫn một bán tiểu đội đến gặp tôi, trong số này kể cả Điệp là bốn quân nhân Quân cảnh. Hai binh sĩ còn lại không thấy mang phù hiệu binh chủng bên tay áo. Tôi đoán có lẽ họ là lính Tiểu khu Tuy Hoà. Tôi nói với Phúc:

"Em đưa khẩu Đại Cồ Việt cho Thượng sĩ Điệp."

Tôi dặn Điệp:

"Đừng có liều mạng quá, anh không nghĩ là phá nổi được hai chiếc tăng này mình sẽ vượt nổi Đại Lãnh hôm nay. Hay là thôi. Em đi kiếm cho anh vài cái thuyền lại đây. Chắc chắn quanh đây phải có thuyền của dân biển."

"Anh Ba cứ cho em chơi thử một chuyến. Nếu không được mình tính kế chuồn cũng chưa muộn."

Đúng lúc đó, tôi nhìn thấy họng súng đại bác trên chiến xa chuyển động. Từ xa tôi thấy chiếc xe như nhẩy giật lùi về phía sau, tôi hiểu cái gì sẽ đến trong vòng nửa phút. Viên đạn nổ ngay cổng Tiểu khu, cách một chiếc jeep không đầy 20m. Tôi nấp ở ngay đuôi chiếc xe V100 đậu chắn ở cổng ra vào, thế mà còn cảm thấy luồng ba động của tiếng nổ như muốn hất tôi ra ngoài. Thêm vài người lính nữa bị mảnh đạn văng phải, nằm la liệt ngay cổng Tiểu khu. Đám đông nhốn nháo chạy tìm chỗ nấp. Một người lính chúi đầu xuống đống cát cứu hỏa, lấy tay moi cấp kỳ một cái lỗ đủ để dấu đi cái đầu, trông giống một con đà điểu chúi đầu trong cát. Trái đại bác thứ hai nổ, trái này là loại đạn WP (White Phophorite), nó tạo một lớp khói trắng dầy dặc, mảnh của nó văng tới đâu lửa cháy, khói tuôn tới đó. Rất nhiều người bỏ vị trí chạy hẳn ra ngoài, trốn vào trong xóm nhà dân trước mặt tiểu khu. Tôi liếc mắt nhìn chung quanh hàng rào phòng thủ, loáng thoáng có những khẩu súng đại liên không xạ thủ. Không có thì giờ để kiểm điểm quân số, nhưng tôi biết chắc bây giờ cái quân số tiểu đoàn vá víu cấp kỳ buổi sáng chỉ còn quá nửa. Đơn vị tôi tuy chưa tan rã, song tôi biết chắc một số ít đã tự động bỏ vị trí phòng thủ. Tôi gọi Kiệm đang định dợm chạy ra ngoài:

"Kiệm, anh mời cho tôi ông sĩ quan Quân cụ lại đây, mình tính cách rút lui."

Kiệm đi ngay và trở lại tức thì. Tôi nói với ông Đại úy Quân Cụ:

"Tình cảnh này chắc mình phải chạy đường bộ, rồi kiếm thuyền để rút khỏi đây. Những người đã bỏ đi mình cũng không thể cản nổi. Bây giờ Đại úy muốn rút cùng với tụi tôi hay ông sẽ đi riêng?"

"Tôi sẽ sát cánh với Đại úy cho tới phút chót."

"Trung úy Kiệm, Thượng sĩ Điệp lấy một tiểu đội đi trước về hướng nam kiếm cho tôi vài cái thuyền. Tôi chắc dân ở đây sẽ neo thuyền ở một chỗ nào đó. Tôi với Đại úy tập họp lính dẫn đi sau. Ông Kiệm đem theo một máy truyền tin để liên lạc với tôi."

*

Ngày N + 15, 9 giờ 45 sáng

Tôi hạ lệnh cho Thiếu úy Cảm:

"Anh tập họp đơn vị cho tôi nói chuyện vài phút."

Chỉ năm phút sau các binh sĩ của tôi đã tập họp xong, tôi biết chắc có nhiều người đã tự động tan hàng, trước khi tôi có ý định tuyên bố tan hàng. Chỉ còn không đầy ba trung đội lính, ai nấy mặt mày sớn xác.

"Cùng toàn thể các anh em thuộc Trại giam và Đồn Quân cảnh Qui Nhơn: Tôi đã giữ đúng lời hứa với các anh em khi đến đáo nhậm đơn vị này. Tôi đã "CÓ MẶT" với đơn vị cho tới phút chót. Bây giờ phút chót đó đã đến. Tôi cho phép bất cứ ai muốn đơn độc thoát hiểm. Tôi vẫn "CÓ MẶT" với bất cứ ai giờ này vẫn còn muốn rút lui như một đơn vị. Nếu thoát thì thoát cả, nếu bị bắt thì bị bắt cả."

Một vài người tách khỏi hàng quân. Đúng lúc đó, tôi nhìn thấy từ ngoài cổng Tiểu khu, một bóng người cao lớn đi trước, đằng sau là ba người khác cũng cao lớn không kém. Tôi tưởng là hoa mắt, nhưng không phải, đích thị Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, sĩ quan phụ tá hành quân Quân đoàn II, đi cùng một đại tá, và hai trung tá tiến vào Tiểu khu. Một đám đông quân nhân đi theo mấy sĩ quan cao cấp này. Chuẩn tướng Cẩm vẫy tôi lại và nói:
"Hiển, ở lại phòng thủ Tiểu khu đi, tôi gọi máy bay sẽ đến giải vây cho mình."

Tưởng cũng nên nhắc lại, Chuẩn tướng Cẩm biết tên tôi, vì thời gian tôi ngồi chơi xơi nước ở Pleiku, thỉnh thoảng có dịp tôi đánh mà chược tại nhà ông. Lúc đó phong trào mà chược đương lên, tôi cũng tập tễnh đua đòi. Tôi khựng lại, đã cả tháng nay thất vọng, đã cả tháng nay thấy sao khó như thấy ma quỷ. Hôm nay, giờ thứ hai mươi lăm ma quỷ hiện hình giữa ban ngày. Thành thực mà nói, ông Cẩm không phải là type chỉ huy tôi chịu. Miền Nam có hơn một trăm ông tướng, tướng sạch có đếm chưa đủ đầu ngón tay, tướng không sạch không bẩn bao nhiêu? Còn lại tướng bẩn có bao nhiêu? Thời gian tôi ở Pleiku, ông Cẩm làm phó cho "Quế tướng công Nguyễn Văn Toàn", chính ông theo "Quế tướng công" từ vùng I vào, đó là điểm tôi không thể nào quên được, mặc dù ông Cẩm chưa có điều gì quá đáng về nhân cách cũng như về phong cách chỉ huy. Dù sao ông Cẩm xuất hiện đột ngột làm tôi quên cả thắc mắc, mấy người lính dợm bỏ hàng quân lại trở về. Không một ai chối cãi được, ông Cẩm xuất hiện như mang một luồng sinh khí mới cho đoàn quân đang tan rã. Không ai bảo ai, mọi người đều ra vị trí phòng thủ. ông Cẩm nói với tôi:

"Chú ra đốc chiến anh em đi, tôi gọi máy bay ở Nha Trang rồi, họ sẽ lên yểm trợ mình. Rán đi kỳ này về anh chạy cho chú một bông mai bạc."

Tôi khựng lại, nhìn ông Cẩm một cách soi bói. Đây là cung cách chỉ huy của "Quế tướng công". Tôi quên sao được chiến sự của mùa hè 72, tôi ở Pleiku một mình, vợ con đã di tản vào Sài Gòn để tránh tên bay đạn lạc. Rỗi rảnh tôi hay la cà khắp nơi, có hôm ngủ trong phi trường, hôm thì ngủ ở Câu lạc bộ sĩ quan quân đoàn, có hôm ngủ tại Liên đoàn 72 Quân y. Lần đó địch quân vây một căn cứ Biệt động quân Biên phòng, tôi tình cờ ngủ đêm trên quân đoàn, nhân tiện xuống coi binh sĩ tôi gác phòng Trung tâm hành quân. Tôi đi với Đại úy Bảo Đồng, sĩ quan trực Trung tâm Hành quân. Qua máy truyền tin siêu tần số, tôi nghe giọng viên sĩ quan chỉ huy trú phòng như lạc đi, địch quân cỡ hai trung đoàn vây đánh một căn cứ. Quân số phòng thủ là một tiểu đoàn Biệt động quân Biên phòng. Gọi là tiểu đoàn cho oai, thực ra chỉ gồm hai đại đội, phần lớn binh sĩ người Thượng, Bảo Đồng nói với tôi:

"Căn cứ chắc đỡ không nổi, một là quân trú phòng quá ít, lại không có ý tử chiến, hồi chiều Trung tâm Hành quân đã điều động một tiểu đoàn Bộ binh của trung đoàn 47 đến giải vây, nhưng chắc cũng không thấm gì. Họ còn cách căn cứ quá xa, và công đồn đả viện vốn là chiến thuật sở trường của địch. Chính tiểu đoàn Bộ binh cũng đang bị vây khổn ở bên ngoài."

Tôi nghe tiếng kêu cứu thảm thiết của hai cánh quân nhà. Giọng người chỉ huy căn cứ nghe rất quen, quen ghê lắm, không hiểu đã gặp ở đâu. Tôi hỏi Bảo Đồng và được biết đó là Thiếu tá Đồng Đăng Khoa, một người bạn học của hơn mười năm trước, của Đệ Nhất B Chu Văn An niên khóa 1961. Tôi không thể nào ngờ đã nghe được tiếng bạn mình trong hoàn cảnh tuyệt lộ.

Đúng lúc đó "Quế tướng công" bước vào Trung tâm Hành quân mang theo đầy mùi rượu thịt, mặt đỏ gay, cổ bạnh ra, khệnh khạng bước tới máy truyền tin, nói qua ống liên hợp không ngụy thoại gì hết:

"Trung tướng tư lệnh đây, mấy cũng vào. Mai qua xuống gắn lon thiếu tá cho em."

Tôi bỏ ra ngoài, về phòng nằm thao thức nhớ bạn cho tới sáng. Tới chiều Bảo Đồng cho tôi hay, Không quân đã dội bom cầy nát căn cứ, Đại úy Tiểu đoàn trưởng Bộ binh được vinh thăng cố Thiếu tá. Địch quân tràn ngập căn cứ lúc hai giờ sáng, người bạn thiếu thời của tôi đã mở một đường máu, dẫn được không đầy trung đội thoát thân. Anh đang bị thẩm vấn trên quân đoàn chờ ra tòa quân sự. Giờ đây ông Cẩm cũng không khác gì, mới ba phút trước ông mang đến cho tôi một trời hy vọng, qua một câu nói ngắn ngủi ông đã cho tôi một niềm cay đắng ê chề.

*

Ngày N + 15, 10 giờ 15 sáng

Địch bắn vào tiểu khu một quả bích kích pháo nữa. Từ mé sau Tiểu khu có tiếng động cơ trực thăng nổ. Tôi mừng rỡ nghĩ rằng đã có không quân tới yểm trợ, nhìn lên trời không thấy bóng dáng những con chuồn chuồn sắt đâu, cát bụi bay mù. Tôi nhớ ngay tới chiếc trực thăng tảng sáng nay đậu ở bãi đất trống, khuất sau những hàng cây. Tôi thấy một người trung tá đi theo Chuẩn tướng Cẩm dợm chạy ra ngoài, tôi nghe giọng một người nói lớn:

"Đù mẹ thằng chả bỏ mình lại rồi anh Hai."

Đến bây giờ tôi mới thấy ngoài Chuẩn tướng Cẩm, một Đại tá, hai Trung tá, phái đoàn của tướng Cẩm có thêm một người nữa cũng cao to béo trắng không thua ông Đại tá là mấy. Người này mặc quân phục không đeo lon, tướng mạo hao hao ông Cẩm.

Vẫn người này to tiếng:

"Em đã nói anh Hai đừng xuống. Chết thì chết hết, đù mẹ thằng chả bây giờ ẵm trọn gói..."

Tôi lấy làm lạ, cứ theo cấp bậc người dám nói to sau ông tướng Cẩm phải là ông Đại tá, rồi mới tới hai Trung tá, nhưng cả ba người này nín lặng. Ông Cẩm lui vào một chỗ khuất ít người, nói liên hồi vào cái máy truyền tin nhỏ xíu. Giọng ồm ồm của người không đeo lon lại nổi lên:

"Anh Hai gọi làm chi mất công. Đù mạ nó đã dông thì trời gọi. Đã nhắc anh Hai vụ thằng cha tỉnh Kontum đâu có chết vì đạn Việt cộng, mà chết vì đạn ở Pleiku đó."

Tôi thấy một Trung tá đưa mắt cho người đó như ngầm bảo im đi, nhưng người đó như lơ đi không thấy, giọng anh ta nhỏ đi như rên:

"Anh Hai tin người ta làm chi cho khổ tui. Thằng chả không muốn dọt, con mẻ cũng muốn dọt. Con mẻ không muốn dọt thì mấy thằng chó đẻ đàn em thằng chả cũng đòi dọt. Anh Hai ơi là anh Hai."

Rồi cao giọng gã tiếp:

"Mấy ông nội lính cụ, lính kiểng này mà đánh chác cái gì? Tử thủ cái gì? Nó mới nã có mấy trái pháo mà bắn té đái vãi phân không kể trời đất. Nó chưa tấn công là vì nó chưa muốn đó thôi. Đù mẹ tử thủ cái con cặc."

Tôi vừa xấu hổ, vừa tức, vừa buồn cười. Gã nói đúng, địch chưa tấn công vì chưa muốn đó thôi. Dẫu sao cho tới lúc này ông tướng Cẩm cũng làm cho tôi yên tâm được phần nào. Có tới một ông tướng phụ tá hành quân Quân đoàn ở đây, có máy truyền tin liên lạc thẳng được với Quân đoàn vẫn còn hơn không.

*

Ngày N + 15, 10 giờ 30 phút

Suốt nửa tiếng vừa qua, địch chỉ bắn vu vơ vài tiếng A.K. Có một lúc tôi mong họ tiến vào, tấn công biển người càng tốt. Tôi hiểu lính của tôi, cho dù đây là phần đất của vua Quang Trung thuở xưa, nhưng người bây giờ không phải là người của hai thế kỷ trước. Do đó tôi mong họ tràn tới, càng đông càng tốt để binh sĩ của tôi có cơ hội đổi máu mình lấy một chút máu địch. Từ lúc mờ sáng tới giờ, chúng tôi có thấy địch xuất hiện, nhưng trong một tầm xa, lại núp dưới các bờ ruộng, họ chỉ khiêu khích chúng tôi, chỉ pháo ít trái đạn đủ để tinh thần chúng tôi giao động, kết quả của những trái pháo này quả tình là hữu hiệu dẫu chỉ có vài người chết, vài người bị thương nặng và không đầy mười người bị thương nhẹ. Nhưng cái khí thế thoi thóp ban đầu tôi qui tụ được xem chừng đã hết.

Ngoài cổng Tiểu khu, trong cái xóm nhà dân trước mặt, người ta ẩn núp mỗi lúc mỗi đông, quần áo dân sự mỗi lúc mỗi nhiều và ngoài bãi biển người ta lố nhố như đi trẩy hội, bắt cá. Trong vòng đai phòng thủ bây giờ chỉ còn lác đác người. Tôi nhẩm đếm đơn vị của tôi còn không đầy một đại đội một trăm hai chục người. Một vài sĩ quan biến mất, cộng chung với lính không phải cùng đơn vị tất cả không quá một trăm năm mươi người. Tôi tiến đến Chuẩn tướng Cẩm:

"Thưa Chuẩn tướng chắc bây giờ là lúc mình phải rút đường bộ. Bây giờ còn có quân, có lính, còn chỉ huy. Nếu không rút bây giờ sợ lát nữa hỗn quan hỗn quân, chỉ còn nước chờ cho địch tiến vào bắt sống."

"Nán thêm chút nữa đi. Tôi gọi máy bay từ sáng tới giờ, chắc Không quân đang trên đường tới đây."

"Tôi hy vọng họ đến giải cứu chúng ta, nhưng tôi nghĩ là đơn vị tôi sẽ chỉ chờ thêm nửa tiếng nữa."

*

Ngày N + 15, 10 giờ 45 phút

Tôi nghe tiếng départ súng cối từ hai, ba phía. Tôi chạy vội tới đuôi của chiếc V100. Chỉ trong vài giây ngắn ngủi, hai trái cối nổ trong vòng đai, đất đá, mảnh đạn văng lên mái tôn nghe rào rào.

Một trái quá tầm nổ ngoài bãi đất trống chừng hai mươi mét. Vài tiếng départ nữa, lính bỏ chạy túa ra ngoài, không một ai cản nổi. Trong chớp mắt, trước sau cả chục trái đạn bích kích pháo nổ trong hàng rào phòng thủ. Vài trái W.P gây nên những đám khói trắng mờ mịt. Cơn pháo vừa dứt, tôi quay lại, trong sân Tiểu khu Tuy Hoà vắng hoe, ngoài phái đoàn của Chuẩn tướng Cẩm, tôi, ông Đại úy Quân cụ, Điệp, Phúc và chừng hơn hai mươi người nữa còn nấp trong các vị trí tác chiến. Một người lính bị thương khá nặng, bị một mảnh đạn lớn văng vào chân, máu ra ướt hết cả một ống quần. Tôi không nhìn thấy vết thương, nhưng thấy anh ta lết người ra ngoài cổng. Đã đến lúc quyết định sống chết, tôi nói với người chiến hữu Quân cụ:

"Chắc phải dông thôi ông."

Chúng tôi bỏ vị trí đi ra ngoài, Chuẩn tướng Cẩm bỏ ra theo tụi tôi, Phúc mang theo một cái túi xách tay, gã moi ra trong cái túi này hai bộ quần áo dân sự, đưa cho tôi và ông Đại úy Quân cụ, miệng nói:

"Anh Ba thay đồ đi để dễ trà trộn trong đám đông."

Tôi cầm lấy bộ quần áo dân sự nửa muốn thay, nửa không. Hình ảnh anh lính kiểng mà tôi muốn bắn sáng nay trở về. Tôi nói với Phúc:

"Không cần, có thay đồ bây giờ nó bắt được nó cũng đâu có thả."

Tôi bỏ cái áo jacket vẫn khoác trên người từ hồi sáng sớm. Chiếc áo có cấp bậc, phù hiệu binh chủng cũng như bảng tên. Sáng nay không hiểu vô tình hay hữu ý tôi mặc một chiếc áo nhà binh trơn không có lon lá gì cả. Trút cái áo jacket bên ngoài ra, tôi cũng chỉ là một binh nhì không hơn kém. Tôi có hơi ngượng về vụ này, nhóm người của ông Cẩm hợp với nhóm của tôi, một trung tá đi theo ông Cẩm kiếm được một cái áo chemise ca rô, trông thật không giống ai, quần lính, giầy trận, áo ca rô bỏ ngoài. Tôi hỏi ông Cẩm:

"Chuẩn tướng có muốn thay quần áo không?"

"Không."

Ít nhất tôi còn kính nể hành vi này, vả lại thành thực mà nói, có muốn thay, Chuẩn tướng Cẩm cũng không thể đào đâu ra một bộ dân sự hợp với khổ người to lớn của ông.

Cảnh tượng ngoài bãi biển làm tôi không tin ở mắt mình. Một đám đông chạy lên, chạy xuống như một đám rồng rồng mất mẹ. Quân phục vũ khí, quân dụng vứt đầy mặt đất. Ông Cẩm vừa đi vừa gọi liên hồi vào máy truyền tin. Đó là một loại máy truyền tin dân sự, chỉ lớn bằng bàn tay. Tôi nghĩ chắc nó tốt hơn, và tầm hoạt động xa hơn những máy truyền tin quân đội. Tôi không nghe tiếng trả lời, chỉ thấy ông Cẩm nói tới tấp vào máy. Nhắm hướng nam, dọc theo bãi biển, chúng tôi đi như chạy. Vài phút sau đó tôi hiểu được tại sao ngoài bãi biển, trong một khoảng bờ biển chật hẹp người ta nhiều như rồng rồng mất mẹ. Vì ngay phía sau tiểu khu có một nhánh sông, có lẽ trên bản đồ nó không có tên.

Trên thực địa phía nam Tiểu khu Tuy Hoà khoảng một cây số, một nhánh phụ của sông Đà rằng ăn ra biển. Bề ngang chưa đầy một trăm mét, nhưng nước chảy xiết vô cùng và cũng rất sâu. Nước chảy với tốc độ của một dòng cuồng lưu. Những người đến trước tụ tập đầy trên bờ. Nhấp nhô theo sóng, trôi ra cửa biển tôi thấy lác đác vài xác người, và ngay trên bờ hai chiếc thuyền lớn neo thật chặt. Con thuyền không chủ đã tan hoang vì những sợ hãi, bực tức, uất ức của đám đông đứng trên bờ. Những vết đạn chạy dọc thân thuyền và một lỗ thủng lớn chắc đã được tạo ra bởi một viên M79 bắn trực xạ trong tầm gần.

Tôi nghĩ thầm thôi xong. Đời tôi chắc kết thúc trong tăm tối, trên bờ sông vô danh này bởi một lẽ rất giản dị: tôi không biết bơi. Cái đám đông cả ngàn người tới trước tôi không lẽ không ai biết bơi, thế mà họ thúc thủ nơi đây là đủ hiểu mức nguy hiểm của dòng nước vô danh này.

*

Ngày N + 15, 11 giờ 00 phút

Tôi tuyệt vọng ngồi xuống cạnh bờ nước, châm một điếu thuốc thở khói lên trời cao. Trời đẹp, trong, xanh, cao vút với những đám mây trắng. Cuối chân trời, hướng nam, những ngọn núi của đèo Đại Lãnh đứng sừng sững. Tôi kiểm soát lại những vật dụng tùy thân. Khẩu "Đại Cồ Việt" đã đưa cho Điệp, tôi cũng không muốn lấy lại. Điệp ở cạnh tôi. Phúc cũng đứng sát đó. Nhóm người của Chuẩn tướng Cẩm cũng có mặt. Và người bạn Quân cụ cũng còn đây, hầu như tất cả đơn vị tôi đều hiện diện, có khác chăng bây giờ không có ai nhận lệnh của ai nữa. Dòng nước này chỉ huy tất cả, nó bắt mọi người ngừng lại, nó bình đẳng mọi người kể từ ông tướng xuống tới người lính. Tôi buồn bã gọi Điệp và Phúc lại. Điệp vốn là một thể tháo gia, tôi hỏi hai người:

"Có cách nào qua sông không?"

Phúc nói liền:

"Anh Ba đợi ở đây, em bơi qua bên kia, chạy vào trong xóm kiếm sợi dây kéo anh qua."

"Em cứ lo cho em đi, anh đợi Chuẩn tướng Cẩm gọi máy bay tới"

Tôi nói để mà nói, tôi nói để Điệp và Phúc khỏi bận tâm về tôi. Điệp nhìn tôi một cách kỳ lạ.

"Em có thể bơi qua được, cứ để cho nước cuốn mình trôi ra ngoài biển, đừng bơi cưỡng lại, nó có cuốn mình ra ngoài đó một cây số là cùng, rồi từ đó mình bơi trở vào bờ bên kia. Nhưng em chỉ có thể bơi nổi một mình thôi."

Tôi thấy Phúc tháo giầy, cởi bỏ cái quần dài, vẫn còn chiếc áo lính, tiến thẳng xuống dòng nước. Phúc đã xuống hẳn dòng nước. Nước tới đầu gối nó. Nước tới đùi. Nước tới bụng... Đột nhiên Phúc hẫng cẳng, chìm xuống. Khi ngoi đầu lên, Phúc đã bị cuốn đi cả mười thước. Tôi thấy Điệp gào to:

"Bơi xuôi dòng. Phúc, cứ bơi xuôi dòng."

Phúc dường như có nghe Điệp mách nước, hắn bơi xuôi theo dòng. Một cơn sóng nhồi Phúc lên cao, rồi nhận Phúc xuống dưới, khi nhô đầu lên Phúc hốt hoảng đổi hướng bơi sang bờ bên kia. Một cơn sóng kế, Phúc lại bị hất lên, nhận xuống. Tôi thấy Phúc cuống quít, đập tay chân loạn xạ. Tôi không biết bơi nên biết rõ những phản ứng Phúc đang làm giống hệt như tôi giỡn sóng mỗi buổi chiều ở Phú Quốc, Vũng tàu. Động tác này không phải là bơi mà là vùng vẫy dưới nước. Đứng trên bờ Điệp kêu gọi rối rít:

"Đừng có phí sức, Phúc. Cứ để nước kéo ra biển, rồi sẽ bơi vào bờ sau. Phúc ơi ! Đừng có phí sức."

Tiếng Điệp không còn gào lên nữa mà như một lời thì thầm, một lời khấn nguyện. Phúc bây giờ đã bị cuốn ra xa khỏi chỗ ban đầu cả một trăm thước, và mới chỉ băng ngang chưa được hai mươi thước.

"Đừng có phí sức Phúc ơi ! " Tôi thấy tôi đang khấn thầm trong miệng như vậy "Đã bảo là đừng có lo cho anh. Anh đâu đáng để cho chú phải bơi qua bên kia, kiếm sợi dây kéo anh qua."

Dòng nước đã đưa Phúc ra xa, nhấp nhô theo từng cơn sóng, ban đầu tôi còn thấy Phúc vùng vẫy tay chân, bây giờ tôi hy vọng quá xa tôi không trông thấy, nhưng Phúc vẫn còn cử động, vẫn bơi, vẫn còn tỉnh táo thực hiện điều Điệp nhắc.

*

Ngày N + 15, 11 giờ 15 phút

Nhóm người của Chuẩn tướng Cẩm và tôi vẫn thúc thủ bên bờ. Điệp đã để lại khẩu "Đại Cồ Việt" chỗ tôi. Anh chạy đi hồi nào tôi không biết. Cái hình ảnh của Phúc bị nước nhồi lên nhận xuống làm tôi hết can đảm xuống mé nước. Kể từ lúc không còn thấy Phúc nhấp nhô theo sóng, tôi như người mất hồn. Ngồi xuống bãi cát, quay lưng lại dòng sông, tôi nhìn về phía Tiểu khu Tuy Hoà. Nhiều cột khói bốc lên ở đó, tiếng người lao xao chung quanh tôi hầu như cả đơn vị tôi, cả đơn vị của Kiệm, Huy đều hiện diện đủ, súng ống đầy bãi biển. Tôi quay nhìn về phía những người sẽ tới bắt tôi. Khẩu "Đại Cồ Việt"còn đây. Trong bụng một khẩu Colt 9. Cái ý tưởng của mấy hôm trước khi bước lên xe đò trở về lảng vảng trong óc tôi: "Chắc chắn không thể để bị bắt, trong trường hợp tồi tệ nhất, nếu không đủ can đảm để tự kết liễu tôi cũng có thể ép những người anh em bên kia khai hỏa." Tôi ngồi quay lưng lại con nước đợi chờ điều tồi tệ nhất có thể xẩy đến.

Tôi nhìn thấy một người lính vừa chạy vừa nghển cổ tu những giọt nước cuối cùng trong bi đông. Rồi anh quăng cái bi đông đã cạn nước xuống bãi cát không thương tiếc. Một ý nghĩ vừa lóe lên trong óc tôi. Chỉ cần năm, bẩy cái bi đông tôi có thể nổi trên nước một cách dễ dàng.

Tôi vùng dậy, chạy ngược lại đường cũ, đảo mắt tứ phía. Tôi định kiếm mấy cái bi đông, đổ hết nước ra, đậy nắp chặt lại, chỉ cần năm bẩy cái rồi lấy dây giầy cột quanh người là tôi sẽ nổi, rồi cứ thế để cho nước cuốn ra hẳn ngoài xa, khi đà của dòng nước yếu đi sẽ bơi vào bờ bên kia. Tôi lục lọi các túi đồ người ta vứt lại đầy trên bãi cát, cả mười phút trôi qua, tôi chỉ kiếm được vỏn vẹn hai cái bi đông nhà binh và một cái bình nhựa độ ba lít, tôi ngồi xuống loay hoay cởi giầy, cột tất cả thành một chùm. Đúng lúc đó tôi thấy Điệp đi tới, một tay xách cái can đựng xăng nhà binh đã sơn mầu dân sự, tay kia Điệp xách hai cái nệm xe hơi có bọc vải nhựa ở ngoài, khẩu M16 vẫn đeo ngang vai. Điệp dáo dác tìm tôi. Thấy tôi loay hoay với đống đồ nghề vượt sông, Điệp cười tươi tỉnh:

"Để em dìu anh Ba bơi qua sông."

"Em tìm ông bạn Quân cụ lại đây, rủ ông ấy bơi qua một thể"

"Người ta đông như thế này, ông ấy lại biến mất từ hồi nào, làm sao tìm được bây giờ?"

"Liệu có thể dìu thêm một người nữa được không?"

"Được chớ anh, mình chỉ cần nổi, không bi nhận chìm là được rồi. Anh đừng có vùng vẫy, đập loạn xạ, chắc chắn là sẽ qua được"

Rồi Điệp giễu:

"Anh đập chân nhịp ba, nhịp năm như anh dặn người ta bắn đại liên là được rồi."

"Chắc chắn mình dìu thêm được một người nữa không?"

"Chắc chắn."
"
Vậy để anh rủ ông Cẩm bơi qua, bề gì ổng cũng là ông tướng."

"Chỉ sợ mấy ông tá đi theo ổng bu lại là mình chết chìm cả đám."

"Đừng lo, họ không dám vọng động đâu."

*

Ngày N + 15, 11 giờ 45 phút

Chuẩn tướng Cẩm, tôi và Điệp xuống tới mé nước, phải chi tôi được chụp ảnh lúc này thì chắc là đẹp giai lắm: Hai bi đông cột hai mạng sườn, ngực độn cao bới cái bình nhựa ba lít dưới lớp áo trận. Ông Cẩm to con ở giữa, tôi và Điệp hai bên, cả ba đều chân trần. Một ý nghĩ khôi hài chợt đến, đồng thời một tin tưởng mãnh liệt cũng thoáng qua: Tôi sẽ thoát hiểm. Chắc chắn tôi sẽ thoát hiểm.

Nước đến bụng, chúng tôi mới cách bờ không đầy mười thước, rồi tôi hụt cẳng, nhưng tôi nổi, ít nhất là từ cổ trở lên. Hai chân ông Cẩm đập đùng đùng xuống nước, Điệp và tôi mỗi người giữ một tay vào cái nệm xe hơi, tay kia Điệp khoát nước một cách từ tốn. Nước chẩy mạnh dữ dội, chúng tôi xa bờ từ từ theo một đường chéo. Bề ngang con sông chưa đầy một trăm thước này, chúng tôi qua nó bằng một đường chéo dài gấp bốn lần. Lên được bờ bên kia, tôi mệt muốn đứt hơi, ngồi bệt xuống bãi cát, thở hổn hển.

Tôi chưa bao giờ mệt đến thế, mệt hơn cả những trận banh tôi đá liền một mạch cả hai tiếng đồng hồ, mệt hơn cả lần di hành mãn khóa của trường Thủ đức với hai mươi kí trên lưng, đi bộ liên tục hai mươi lăm cây số dưới trời mưa to, gió lớn. Có lẽ mệt hơn thế nhiều, chúng tôi ngồi đó nhìn những bạn đồng đội bên kia mỗi lúc mỗi gần kề cái lưới.

Chuẩn tướng Cẩm nói:

"Hiển, làm sao cứu thằng em ruột của anh, nó còn ở bên kia bờ."

Trong một thoáng giây, tôi ân hận là mình đã làm một việc thừa. Đáng lẽ tôi phải tìm cho được người bạn Quân cụ, đem qua sông. Dẫu chúng tôi chỉ biết nhau vỏn vẹn bốn năm tiếng đồng hồ. Nếu không tìm được ông ta, cái người đáng lẽ tôi phải rủ đi, phải mang được qua sông phải là Kiệm, Huấn, Cảm v.v... Tất cả họ đều lảng vảng đâu đó. Tôi giận mình đã tự rước vạ vào thân. Tôi quay lại:

"Thưa Chuẩn tướng, bây giờ tôi đi kiếm thuyền. Chuẩn tướng có đi với tôi hay không?"

"Em cứu thằng em của anh hộ anh đi Hiển. Anh chờ ở đây. Để anh gọi máy bay tới."

Để chấm dứt tình trạng lằng nhằng tôi nói:

"Chuẩn tướng cứ gọi máy bay đi. Tôi vào trong xóm kiếm một hớp nước, và kiếm dân chài có thuyền xong tôi sẽ quay lại."

Tôi tin là ông biết tôi nói cho qua chuyện. Mặt ông thẫn thờ nhìn qua con nước. Đến bây giờ tôi mới biết cái người phát ngôn những câu chướng tai đó là em ruột ông. Tự nhiên tôi thương cảm ông vô cùng. Cái ý nghĩ giận lẫy về ông trong vài phút trước tan đi nhanh như một cơn gió. Ít ra ông Cẩm không để cho tôi phục trong cung cách một cấp chỉ huy cao, ông cũng làm cho tôi kính nể cái cung cách người anh của ông đối với em út trong nhà. Điệp đưa mắt nhìn tôi. Tôi hiểu ý anh ta muốn gì.

*

Ngày N + 15, 12 giờ trưa

Tôi và Điệp bước vào một xóm nhỏ có chừng hơn mười nóc nhà, xóm vắng lặng không người, không còn cả súc vật. Chúng tôi uống nước trong một cái phuy dựng đằng trước một căn nhà giữa xóm. Điệp vừa cười vừa nói với tôi:

"Hồi nãy em tưởng anh Ba muốn cứu em ông Chuẩn tướng"

"Anh đâu có điên."

"Bây giờ mình dông về hướng nam đi anh. Cái thằng Phúc giá đừng vội thì giờ này đủ anh đủ em cả."

"Cái xóm không có một bóng người, kỳ cục thật."

"Bọn này cũng chẳng tử tế gì, cho mẹ nó một mớ lửa đi anh"

"Bậy nào, dân chúng ở đâu mà chả sợ tai bay vạ gió. Chú xem có cái gì gặm được không? Đề phòng chuyện phải lội bộ, trốn tránh suốt ngày."

"Không có gì đâu anh Ba. Bọn này mà trốn thì đến củ khoai chúng không mang được, chúng cũng vùi xuống cống, chờ khi nào tan giặc về, moi lên. Mà mình đâu có thì giờ để kề cà. Mình đi anh Ba."

Trở lại bãi biển, chúng tôi nhắm hướng nam tiến bước. Tôi ngó lại chỗ cũ, ông Chuẩn tướng Cẩm vẫn còn đó, đi qua đi lại bên bờ sông. Đám đông bên kia sông vẫn không bớt được chút nào, vẫn vòng lên lộn xuống như rồng rồng mất mẹ. Cát khô rít dưới chân trần, tôi và Điệp đi như chạy. Ít nhất chúng tôi cũng thoát được cái bẫy đầu của thiên nhiên, tôi bước như một cái máy, dường như cái đầu không thuộc vào đôi chân. Đôi chân như của một người nào cho mượn, cái đầu hình như còn ở lại với Huấn, Kiệm, Cảm, với hàng trăm binh sĩ ở bên kia sông. Có lúc tôi nghĩ tới người bạn Quân cụ, Tài chánh, có lúc tôi nghĩ tới những người tôi không có thiện cảm như em ruột ông Cẩm.

"Anh Ba, thuyền nhiều quá. Đù mẹ thuyền thì neo giữa sông, còn bọn thuyền chài thì ở đầy trên bãi."

Tiếng Điệp oang oang mang tôi về thực tại. Đã đến một dòng sông thật rộng: sông Đà rằng. Con sông tỏa rộng ra ở cửa biển. Rộng tưởng chừng không thấy bờ bên kia. Mênh mông, bát ngát. Xa bờ chừng trăm thước, một dẫy thuyền lớn nhỏ cả trăm cái, neo một hàng dọc. Trên bờ dân chài thứ thật, che bạt tránh nắng, moi cát đốt lửa nấu cơm, lầm lì không nói, họ lặng lẽ như những cái bóng, nhưng trong ánh mắt, tôi biết họ lo lắng vô cùng. Họ sợ những người chạy chết như tôi làm ẩu, chỉ cần một người làm ẩu là tất cả những con thuyền đó sẽ lãnh đủ tai họa. Tôi gặp lại thêm sáu người nữa của đơn vị cũng đã đến được đây trước.

Chúng tôi họp lại được một nhóm tám người. Thuyền neo đầy ở trước mặt. Tôi tiến đến hỏi một người đàn ông đứng tuổi đề nghị thuê thuyền của ông ta. Ông ta nói ông không có thuyền, ra ngoài này để tránh hai bên giao tranh, tránh bị đạn lạc. Tôi hỏi một người thứ hai, cũng những luận điệu cũ. Biết có hỏi thêm nữa cũng vô ích, nhưng tôi sẽ có cách biết ai là chủ một cái thuyền. Ít nhất cũng có thể biết ai là chủ một cái thuyền. Tôi nói với Điệp:

"Chú bơi ra ngoài kia, lấy đại cho anh một cái thuyền, càng lớn càng tốt."

"Em đâu có biết lái ghe, anh Ba."

"Anh đâu có bảo chú lái, anh bảo chú cứ chiếm đại một cái ghe. Thằng chủ sẽ xuất hiện để mình nói chuyện."

Điệp và một người nữa đi xuống nước. Sông Đà rằng rộng dễ chừng hơn mười, mười lăm lần con sông cũ, nhưng cũng trái ngược lại, nước làm như không chẩy, nước như đứng im, bởi vì ngay đây đã là cửa biển , nước không còn là nước ngọt, không trong xanh như nước biển nhưng cũng không đục ngầu như nước sông. Tôi thấy Điệp lội một quãng thật xa trước khi phải bơi. Cả hai chọn con thuyền nhỏ gần nhất, thực ra chỉ là cái ghe đuôi tôm. Điệp leo lên trước, còn người kia tìm cách gỡ sợi dây buộc vào thuyền bên cạnh. Một người đàn ông bỏ lều chạy vội ra, miệng la lớn:

"Ghe đó của tôi, không chạy được đâu. Máy hư rồi."

Để trả lời câu nói, tiếng động cơ máy đuôi tôm nổ nổ dòn dã. Ghe đã được tháo dây, tách khỏi hàng, Điệp cố gắng lái cho chạy thẳng vào bờ. Điệp vẫy tôi rối rít, cho máy nổ nhỏ lại, cố giữ cho chiếc ghe đứng lại:

"Anh Ba, có ghe rồi"

Tôi chận người đàn ông lại:

"Ông đưa tụi tôi ra ngoài khơi. Có tầu của hạm đội Mỹ, và tầu Hải quân đón tụi tôi ở ngoài ấy."

"Tôi không đi đâu cả."

Tôi rút khẩu Colt 9 ra, lên đạn:

"Ông có đưa tôi đi không? Nếu tôi chết ở đây, có thể ông sẽ chết. Ít nhất là tôi có thể phá nát ghe của ông. Phá nát tất cả ghe ở đây luôn."

Người đàn ông thách:

"Cứ bắn đi"

Tôi tức đến nghẹt thở. Một người lính lên đạn khẩu M16. Tôi chặn người lính lại kịp thời, rồi tiến tới nắm cổ áo ông ta:

"Có đi không?"

Dí khẩu Colt 9 vào màng tai ông ta, khi bóp cò, tôi chĩa súng lên trời. Tiếng nổ làm ông ta hết hồn, biết là vừa thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, ông ta như muốn xỉu, đứng không vững, miệng líu ríu:

"Thầy Ba để tôi đưa qua sông."

"Tôi không qua sông. Tôi muốn ông đưa tôi ra ngoài xa, sẽ có tầu lớn của Hải quân, sẽ có tầu lớn của Mỹ."

"Ghe của tôi nhỏ lắm không ra ngoài xa được."

"Cứ đưa tôi ra ngoài biển, không gập tầu lớn thì cứ ven bờ mà đi."

Tôi lấy trong túi ra năm ngàn đưa cho ông ta.

"Đây là tiền xăng đưa tôi ra ngoài biển. Nếu không gặp tầu lớn, ông đưa tụi tôi đi thoát, tôi sẽ biếu ông một trăm ngàn."

Chiếc ghe thì quá nhỏ cho chúng tôi tám người, thêm người chủ ghe. Ông ta chắc đã hoàn hồn, có vẻ như vẫn còn ù tai bởi phát súng bắn dọa, nên nhìn tôi gườm gườm, thỉnh thoảng lên giọng nhắc chừng chúng tôi:

"Ngồi yên, đừng có quày người qua lại! Không thấy ghe muốn khẳm rồi sao?"

Mặt nước cách mạn ghe có một gang, mỗi lần sóng lớn, nước chạm vào ngón tay tôi buông thõng ngoài mạn thuyền. Không hiểu vì phải chạy gối sóng hay sao, ông ta cho thuyền chạy ngược lên phía bắc trước khi chuyển hướng chạy ra khơi. Một lần nữa, tôi nhìn thấy những binh sĩ của tôi. Họ kêu gọi tôi vang một góc bãi. Tôi nhìn thấy Huấn, thấy Kiệm, thấy thật nhiều người nữa. Điệp nhắc chừng:

"Anh Ba à, thuyền muốn khẳm rồi đó. Không ghé vào đó được đâu."

Rồi Điệp chửi thề nhỏ để người chủ thuyền không nghe thấy.

"Đù mẹ ngược lên trên này làm gì? Gặp mấy thằng khùng sợ hoảng nó ria cho một tràng thì chỉ có nước ngáp."

Tôi cúi mặt xuống hổ thẹn. Dường như cả đơn vị còn đó mà lời hứa "CÓ MẶT"của tôi đã bị gió thổi xa bay. Lời hứa "CÓ MẶT"của tôi đã bị sóng lôi ra biển.

*

Ngày N + 15, 12 giờ 15 phút

Đám đông trên bãi khuất dần về phía sau, tôi nói với tất cả mọi người:

"Điệp hỏi coi ai còn tiền, gom lại cho anh, để anh thương lượng với ông chủ ghe."

Chập sau chúng tôi góp được hơn năm chục ngàn. Tôi nói với ông chủ ghe.

"Cứ đưa tôi ra xa một chút nữa. Gặp tầu Hải quân chúng tôi cho ông hết."

"Không có tầu Hải quân ở đây đâu thầy Hai."

"Sao ông biết?"

"Có thì có từ hổm rầy, không có thì ngày mai cũng không có chớ đừng có nói bây giờ."

"Ghe của ông có chạy được tới Nha Trang không?"

"Ghe này là ghe câu, đâu có chạy xa được."

"Cứ men bờ mà đi tới đâu hay tới đó."

"Hay là thầy Hai để tôi chở thầy Hai về bến thương lượng với mấy chủ ghe khác, phải có ghe lớn mới đi Nha Trang được."

"Không ông cứ giữ khoảng cách thấy bờ, cứ men theo bờ chạy cho tới lúc nào gặp thuyền lớn thì chúng tôi sẽ thương lượng với họ."

"Điệu này chắc mình chỉ còn đủ dầu chạy 2 tiếng nữa là cùng."

Điệp nổi nóng:
"Đù mẹ còn cỡ nào, chạy cỡ nấy. Hết dầu thì chèo bằng tay. Không có vụ quay lại."

Tôi nói với Điệp nhưng muốn để ông chủ ghe yên tâm:

"Cứ yên trí đi, chút nữa thế nào cũng gặp ghe lớn."

"Thầy Hai với mấy ông đây cứ yên tâm đi. Chút nữa thế nào cũng gặp ghe lớn."

*

Ngày N + 15, 12 giờ 45 phút

Một chiếc ghe lớn từ xa chạy ngược lại. Một người lính lên đạn khẩu M16 bắn chỉ thiên một tràng. Cái ghe lớn hoảng sợ quay hướng khác. Tôi phát cáu chửi thề:

"Bố khỉ chỉ bắn sảng. Sao hồi sáng không bắn hăng như thế. Đưa khẩu súng đây, vứt mẹ nó xuống biển cho rồi Điệp."

Mấy người lính im thím thít.

"Thầy Hai đừng lo, tôi rành mấy người ở đây lắm. Không gặp ghe người này cũng gặp ghe người khác. Ghe hồi nãy của thằng cha Bảy. Thằng chả nhát lắm, không dám ở lại bãi nên đem toàn gia lên ghe chạy lòng vòng ngoài biển chờ hết súng thì về. Có điều thầy Hai nói mấy ông đây đừng có bắn bậy, tới giờ tôi vẫn chưa hoàn hồn."

"Rồi, có ghe nữa anh Ba."

"Đâu hướng nào?"

"Hướng mười giờ đó anh Ba."

Tôi quay lại nhìn theo hướng người vừa nói, thấy một chiếc ghe lớn hơn ghe thằng cha "Bảy nhát" nào đó hồi nẫy. Ông chủ ghe đổi hướng chạy tới chiếc ghe lớn. Vài phút sau chúng tôi nhìn rõ bóng người qua lại trên ghe. Ông chủ ghe gọi ơi ới:

"Phải ghe thằng Quới đó không? Có thằng Quới đó không?"

"Phải chú Sáu không?"

"Tao chứ còn ai nữa? Có mấy thầy này muốn thuê ghe vô Nha Trang. Ghe tao không đủ sức."

"Ở nhà ra sao?"

"Tụi tao trên bãi đâu có biết gì, nhưng chắc không sao đâu."

"Nhà tui có cháy không?"

"Tao ở bãi đâu có biết, nhưng tao nhìn về xóm mình hoài thấy không có khói. Có cháy chỗ Tiểu khu, nhưng không biết xóm đó có sao không?"

"Hết đánh rồi hả chú Sáu?"

"Tao đâu có biết? Có mấy thầy này muốn vô Nha Trang mấy có chở không? Nếu không để tao tìm ghe khác!"

Tôi nói với ông chủ ghe:
"Chú Sáu cứ cập vô ghe anh Quới đi, để tôi muốn thương lượng thẳng với ảnh."

Hai chiếc ghe sáp lại từ từ. Anh Quới người chủ ghe bự đó hỏi tôi:

"Mấy thầy muốn vô Nha Trang hả?"

"Phải. Bao thuê ghe của anh từ đây vô đó bao nhiêu tiền?"

"Mấy thầy tám người cả thẩy phải không? Hai mươi ngàn một người. Thôi tất cả một trăm năm chục ngàn."

"Được rồi. Bây giờ tôi chỉ có năm chục ngàn ở đây, nhưng tôi có chiếc đồng hồ Longine trị giá một trăm ngàn. Nếu anh muốn lấy tiền mặt thì theo tôi về nhà ở Nha Trang, tôi sẽ trả cho anh."

"Rồi mới thầy lên ghe đi."

Tôi bảo Điệp đưa thêm cho chú Sáu năm ngàn nữa. Tôi nói với chú Sáu vài lời cảm ơn, vài lời xin lỗi về phát súng bắn dọa sát màng tang làm chú sợ tới giờ này. Chú Sáu cười nói:

"Tôi biết thầy đâu có dữ dằn gì. Ai mà không có lúc hoảng hốt. Thôi chúc thầy Hai với mấy ông đây vô Nha Trang bình yên."

*

Ngày N + 15, 1 giờ trưa

Tôi quá mệt và buồn ngủ, phần vì đêm qua không chợp mắt được, phần vì gió biển mát, và sau cùng có lẽ ghe nhỏ bị sóng nhồi nên say sóng. Tôi nói với Điệp:

"Chú canh chừng, anh ngủ một chút lấy sức."

"Anh Ba ngủ đi, yên tâm, thoát rồi anh Ba."

Tôi thiếp đi giữa tiếng gió biển hòa với tiếng sóng, ban đầu còn nghe tiếng máy ghe nổ, tiếng sóng vỗ mạn ghe, tiếng gió hú trên cao. Mắt tôi trĩu nặng, nhưng tai vẫn nghe được, những âm thanh hỗn tạp ban đầu thưa dần. Rồi bỗng nhiên thấy tôi đang thơ thẩn giữa phố Pleiku, giữa đồi Đà Lạt, giữa đồn điền Ban Mê Thuột. Rồi người ta đông vô kể, hàng rào kẽm gai trùng trùng lớp lớp. Những bộ áo nhà binh xanh, những bộ áo tù nâu, những chòi canh, những bãi mìn. Những khuôn mặt rõ nét hơn, những bằng hữu cũ, những người thân yêu xưa, tôi không thấy một người nào cười. Tất cả đều lặng lẽ, và có rất nhiều khuôn mặt đẫm lệ. Biết là tôi đang ngủ mơ, nhưng giữa mộng và thực đường như không có gì khác biệt. Giữa con bướm và Trang Tử, bọn hậu sinh như tôi thấy dường như là một.

Biết là tôi đương mơ, nhưng dường như cái thực không có thật. Có lúc đương ban ngày, tôi thấy mình là lính của vua Quang Trung đang vượt đèo Tam Điệp, đang chạy lúp xúp trong đêm tối, đang ngủ mê mệt trên võng. Buổi sáng nay có một lúc ngồi thừ người bên dòng sông, tôi tưởng mình là lính của... Lê Chiêu Thống. Bọn tướng tá của Tôn Sĩ Nghị và của nhà Hậu Lê đâu có phải tìm xa, tôi gặp hàng ngày. Lính của tôi đã tiền hô hậu ủng "Quế tướng công"cả năm trời hay sao? Những mệnh phụ phu nhân có dạo dường như tôi gặp đầy trong các "xóm" bán phấn buôn hương.

Đâu có gì khác biệt giữa một ông dược sĩ cho thuê bằng mở pharmacy, với một cô gái giang hồ bán trôn nuôi miệng. Bởi rõ ràng ông dược sĩ được biểu tượng bởi cái bằng, ông cho thuê cái bằng có khác gì cho thuê cái thân. Khôi hài nhất là chúng ta đang ở vào thời kỳ mạo hóa. Cái gì người ta cũng có thể làm giả được, kể cả nhân cách, kể cả những thứ thật trừu tượng, không trông thấy, không sờ được, không ngửi được, không mó được, không ăn được. Những thứ đó có nơi người ta gọi là độc lập, tự do. Có chỗ gọi là hòa giải dân tộc. Ở chùa nó là đạo pháp. Ở nhà thờ là niềm tin. Trong học đường nó là tương lai. Chính phủ và quốc hội gọi nó là hiến pháp. Những nhà văn gọi nó là tự do tư tưởng. Mấy ông ký giả gọi nó là đệ tứ quyền... Mặc dù xuất hiện dưới hình thức nào, tất cả những món hàng đó trong thời đại của chúng tôi người ta làm giả được tuốt. Có nhiều khi cái giả đẹp hơn cái thật. Những cái giả này góp phần thành xã hội Việt Nam cả hai miền Nam và Bắc. Góp thành bom dội xuống bên này và bên kia dòng sông Bến Hải. Góp thành súng của các nơi gửi về giúp đỡ cả hai nửa phần dân tộc. Góp thành đạn để dân Việt bắn lẫn vào nhau, và máu đổ ra chan hòa mặt đất.

Tất cả những món hàng giả tạo này, sơn phết lòe loẹt, đã làm cho miền Nam mỗi ngày mỗi mất dần đi chính nghĩa ban đầu. Những kẻ lãnh đạo miền Nam mỗi ngày mỗi lộ bản chất nhu nhược, tay sai. Những mệnh phụ của miền Nam trong lúc tô son điểm phấn mỗi ngày mỗi vẽ giúp cho bộ mặt miền Nam những nét nguệch ngoạc, lem luốc, xấu xí. Trong khi đó ở miền Bắc, những kẻ lãnh đạo với tài phù thủy đã nặn ra được cái chính nghĩa không có thực, mỗi ngày mỗi tô điểm cho cái chính nghĩa mạo hóa "dân tộc" này, để đẩy hai thế hệ thanh niên vượt Trường Sơn bằng những đôi chân trần. Từng bước một, từng nấc một, cuộc nội chiến đến với dân Việt êm như một con rắn trườn đi trên mặt đất, êm như một con nước lớn từ từ đang dâng lên cao. .

Càng ngày cái tập đoàn lãnh đạo của cả hai miền Nam Bắc càng để lộ ra cái bộ mặt tay sai, đã dẫn dắt hai nửa phần dân tộc vào một cuộc chiến ủy nhiệm. Nam hay Bắc rồi đây không có ai thắng trận chiến này. Máu xương của dân tộc Việt đổ ra, chỉ đủ cho các cường quốc nghiêng được cán cân quyền lực thêm một nấc, trong các bàn hội nghị.

Tôi biết rõ là tôi đương ngủ mê. Nhưng có gì bảo đảm giữa mộng và thực không phải là một. Hai ngàn năm sau, con bướm của Trang Tử vẫn còn đó. Bây giờ con bướm đó đã sản xuất thành hàng triệu con bướm khác sinh sôi khắp mặt địa cầu "... Chúng ta chẳng qua chỉ là hai quốc gia, nằm trên đầu hai cái sừng của một con ốc sên, và trận chiến diễn ra trên trán của con ốc sên này. Máu chảy thành sông, xương cao thành gò..." (Nam Hoa Kinh). Bãi chiến trường đó giờ đây đang vào hồi cuối. Khi cái màn kéo xuống, chắc chắn chúng ta sẽ có được bóng tối.

Những âm thanh chát chúa lại một lần nữa trở về, những khuôn mặt mờ nhạt dần đi, âm thanh càng lúc càng hỗn loạn. Tiếng bom rơi, đạn rít, tiếng người rên xiết, oằn oại, tiếng xích chiến xa nghiến trên mặt đường, rồi cả tiếng khóc chào đời của các hài nhi. Đầu tôi muốn vỡ ra thành trăm mảnh, thành ngàn mảnh. Đột nhiên tất cả đều im lặng, và sau cùng tiếng sáo của anh lính Biệt động quân mặt rỗ trên đập Đồng Cam ngày nào rõ dần lên. Cả người tôi như một sợi dây bị kéo căng quá độ, sắp sửa đứt, thì sức kéo bỗng nhiên biến mất, sợi dây chùng lại, tôi ngủ yên trong tiếng tiêu huyền hoặc này.

Ngày N + 15, 6 giờ 30 phút

Điệp đánh thức tôi dậy. Tôi không ngờ đã ngủ một giấc dài như vậy.

"Anh Ba, sắp tới Nha Trang rồi."

Dưới ánh nắng chiều thoi thóp, làm như tôi nhìn thấy một thành phố không sức sống. Dường như đây chỉ là điều tôi cảm thấy. Ghe còn cách bến ba, bốn cây số. Dù cho không thể thấy rõ những sinh hoạt của con người, nhưng cũng phải thấy hoạt động máy móc, xe cộ, tầu bè. Ghe chạy ngang qua một hòn đảo nhỏ cách bờ chừng hai cây số, lướt qua vài chiếc ghe neo ngay một chỗ khuất của đảo, người ta đang ào xuống ghe. Đây chắc hẳn là dân Nha Trang chạy loạn. Không biết những bằng hữu của tôi ở Nha Trang giờ này đang làm gì. Vợ con tôi đang làm gì. Hai ngày trôi qua, chiến tuyến đã lui được một khoảng cách từ Qui Nhơn tới Nha Trang. Tôi nói Điệp mời anh Quới xuống đây nói chuyện với anh. Quới nhường tay lái cho một người khác tiến đến chỗ tôi ngồi.

"Anh cho tới Cầu Đá. Trước khi xuống ghe tôi sẽ đưa tiền cho anh."

"Thầy Hai có bao nhiêu tiền mặt?"

"Tôi có khoảng năm chục ngàn. Nhưng không thể đưa hết cho anh được. Phải giữ lại cho mấy người này mỗi người vài ba ngàn."

"Tôi cũng biết vậy, cái đồng hồ của thầy Hai trị giá bao nhiêu?"

"Hồi nãy tôi nói với anh hơn một trăm ngàn, nhưng thật ra có tám chục ngàn thôi. Tôi không muốn nói dối anh nữa, anh đã giúp tôi thoát chết, ít nhất là thoát bị bắt. Tôi cảm ơn anh vô cùng".

"Nhà thầy Hai có ở đây không?"

"Nhà tôi ở Sài Gòn, vợ tôi vô Nha Trang trước tôi vài ngày, không biết đã đi Sài Gòn chưa. Anh theo tôi về, nếu gặp vợ tôi, tôi sẽ giao đủ số tiền cho anh."

"Thầy Hai để tôi nói chuyện với mấy anh em tôi đã."

Trong lúc Quới nói chuyện với mấy người khác trên ghe, tôi bảo Điệp:

"Chú chia cho mỗi người hai, ba ngàn. Phần của anh, chú giữ luôn, còn lại giao cả cho anh Quới. Cái đồng hồ của anh đây, chú đưa luôn cho anh ấy."

"Đù mẹ nó cắt cổ mình đó anh Ba. Giá xe đò chừng bốn trăm lấy gấp mười cũng là quá rồi."

"Kệ nó, nếu không có ghe chắc giờ này mình như ông Kiệm rồi em. Hoặc có thể mình cũng như Phúc rồi. Giữ được mạng về tới đây là khá lắm rồi."

Chập sau Quới trở lại:
"Hồi tôi ra giá sao thầy Hai không trả giá?"

"Anh chịu đi là quá tốt rồi còn trả giá gì nữa."

"Bây giờ thầy Hai đưa tôi nửa tiền, nghĩa là hai mươi lăm ngàn thôi, và chiếc đồng hồ. Lấy hết tiền mặt, mà cô đi Sài Gòn rồi thì thầy Hai và mấy ông đây không xoay trở được. Chỉ lấy cái đồng hồ thôi thì tôi không có tiền mua dầu gasoil."

Đến bây giờ tôi mới hiểu tại sao Y Uyên yêu Tuy Hoà đến thế. Và tại sao Tuy Hoà có tên đường Tản Đà và pho tượng nhỏ của Y Uyên. Tôi quay lại nói với Điệp:

"Chú còn đợi gì mà không trả tiền cho anh Quới. Thôi tụi tôi cám ơn anh Quới với các anh em trên ghe."

"Thầy Hai với mấy ông đi may mắn nghe."

*

Ngày N + 15, 6 giờ 45 phút

Cầu Đá thật giống như một bến đò bỏ hoang, trông tiều tụy đến độ như ở đây chưa có tiếng súng mà trận đánh đã tàn. Không một nhà mở cửa, không một quán bán buôn. Tôi hỏi Điệp và mấy người lính trong đơn vị.

"Bây giờ các chú muốn đi đâu?"

"Tụi em có người quen ở đây, thôi tụi em tự lo liệu lấy."

"Em phải vào trại tị nạn Cộng sản tìm gia đình ở đó rồi dẫn vào Sài Gòn."

"Hẹn gặp các chú ở Sài Gòn."

Tôi đón được chiếc Honda ôm, về tới nhà ông bác của vợ tôi đã tám giờ tối. Cả nhà còn đủ cả. Vợ tôi đã vào phi trường hai hôm trước, một người bạn bên Không quân giúp đỡ có danh sách trên chuyến bay quân sự, nhưng đúng lúc đó một số lính của sư đoàn 23 sau khi thất trận ở Ban Mê Thuột tràn về, phi trường tạm đóng cửa một ngày, sau đó chuyến bay bị hủy bỏ.

Gia đình ông bác đã vào Sài Gòn cả tháng trước, căn nhà rộng thênh thang, đầy đủ tiện nghi. Ngoài lý do chuyến bay bị bỏ, vợ tôi cũng muốn nấn ná thêm vài ngày chờ tin tức của tôi. Chỗ tôi tạm trú gần phi trường, suốt đêm tiếng máy bay lên xuống vần vũ. Tôi ngồi dậy, lên lầu mở cửa sổ nhìn về phi trường. Vợ tôi lên theo, chúng tôi ngồi bên nhau nói với nhau những câu ngắn, bâng quơ. Giọng vợ tôi đầy lo sợ:

"Anh à, trưa nay em vào Đồn Quân cảnh Nha Trang, em thấy trống trơn."

"Em có gặp ông Trung tá Kha hay Đại úy Vũ không?"

"Không. Cửa đồn mở toang hoang, còn vài người lính, có một chú hồi đó làm việc với anh ở Pleiku, chú đó có biết em, em quên tên chú đó rồi. Chú nói Tiểu đoàn 2 Quân cảnh cũng đã di tản sáng nay."

"Sao em không đi xe đò hay máy bay dân sự vào Sài Gòn trước. Bây giờ tình hình quá khó."

"Má muốn mua vé chợ đen, bao nhiêu má cũng mua nhưng không kiếm được chỗ bán. Còn xe đò thì chật như nêm. Nói thật em cũng muốn nấn ná chờ anh."

Trong bóng tối, tôi xiết chặt tay vợ tôi. Tôi hiểu vợ tôi yêu tôi và chỉ lo cho tôi, do đó chẳng biết gì về những khó khăn cấp kỳ đang chụp xuống đầu mọi người. Tôi lờ mờ thấy cái định mệnh khắc nghiệt sắp chụp xuống đầu chúng tôi.

"Mấy ngày nay em có tới thăm anh Trương Hồng Sơn bạn anh không?"

"Em đâu có biết nhà anh Sơn. Có lẽ giờ này anh chị ấy cũng đã đi Sài Gòn rồi."

"Em có đến thăm vợ chồng anh Há không?"

"Há nào? Anh nhiều bạn quá, có người em còn không biết tên nữa làm sao biết nhà?"

"Sáng mai anh đến kiếm anh Sơn, nếu Sơn không còn ở đây anh sẽ đi thuê thuyền. Thôi đi ngủ."

*

Ngày N + 16, 7 giờ sáng

Tỉnh dậy, bước ra cửa sổ nhìn xuống đường, tôi biết lại có thêm một thành phố nữa đang dẫy chết. Điều kỳ lạ là mỗi thành phố chết một cách khác nhau. Pleiku như một mãnh hổ bị lao, Phú bổn như một con nai trúng đạn, Qui Nhơn là một con gấu bị dồn tới đường cùng, gầm gừ một hồi rồi cũng sập bẫy, Tuy Hoà giống như một con cá lớn đã lọt vó, bốn góc nước cứ cạn dần rồi trơ trên nền vải thưa. Bây giờ là Nha Trang. Nha Trang như là một thành phố chết bởi bệnh dịch. Sáng nay những người Nha Trang lũ lượt, buồn thảm, bồng bế, gồng gánh xuôi Nam. Họ khóc tức tưởi, không kêu gào, không than vãn. Những dòng nước mắt chảy lặng lẽ trên những gò má hốc hác vì lo lắng, không ăn, thiếu ngủ. Họ là những người chạy bệnh dịch, bệnh thời khí của vài chục năm, trăm năm trước, khi mà nền y khoa thô sơ chưa hiểu rõ cách ngăn ngừa sự truyền nhiễm. Thật là cảnh tượng thê thảm não lòng. Tôi đóng cửa sổ bỏ vào trong đánh răng rửa mặt. Bước xuống nhà dưới, tôi dặn má và vợ tôi:

"Má với em sửa soạn, con đến nhà người bạn xem anh ta có giúp gì được không. Nếu không thì dù có phải lội bộ như mọi người chắc cũng phải đi."

*

Ngày N + 16, 7 giờ 30 sáng

Trương Hồng Sơn đón tôi ngay ngưỡng cửa. Chúng tôi đều ngạc nhiên lẫn cho nhau tại sao còn ở chốn này. Sơn kéo tôi vào nhà, ngồi chưa yên Sơn đã hỏi tôi dồn dập:

"Ông ở đâu mà mò tới đây lúc này?"

"Tôi ở Qui Nhơn vào."

"Sao lại Qui Nhơn? Tôi nghe ông ở Đà Lạt mà?"

"Tôi dời Đà Lạt, đổi về Pleiku lần thứ ba, ngồi chơi sơi nước được hai tháng, kế đó là chạy Liên tỉnh lộ 7. Sau đó nhận công điện ra chỉ huy ở Trại giam Qui Nhơn."

"Giờ này mà còn ham làm Chỉ huy trưởng Trại tù. Bố khỉ. Bỏ quách hết chứ. Phải lo cái mạng, nhất là cái mạng của ông. Tôi không ngờ tới giờ này mà ông tối dạ đến thế."

"Tôi sáng hơn bất cứ lúc nào, tôi nhận ra Qui Nhơn để đưa vợ con tôi chạy. Ngay cả không có vợ con tôi ở đó tôi cũng ra, ông Thanh bị Việt cộng bắt khi đi phép ở Ban Mê Thuột, bỏ đơn vị hơn một tháng nay rồi không có ai coi. Tôi đã làm hết sức tôi có thể làm."

"Còn bà ấy với hai đứa nhỏ đâu?"

"Ở Nha Trang được bốn ngày nay, tôi ra tới Qui Nhơn, việc đầu tiên là đưa vợ con lính, vợ con tôi vào Nha Trang. Mãi hôm qua đơn vị tôi mới chạy, bị đánh tan ở Tuy Hoà. Cả ba đơn vị về còn được tám mống. Tám mống kể cả tôi."

"Như vậy là ông bị đụng nặng rồi. Anh em chết nhiều không? Còn có tám mống thì chắc là bi đát lắm."

"Chết vài ba người, nhưng có lẽ bị bắt sống trọn gói."

Tôi kể vắn tắt cho Sơn biết qua cảnh chạy Liên tỉnh lộ 7, cảnh chạy ở Tuy Hoà. Tôi cho Sơn biết không thể ớ lại được. Sơn nói với vợ:

"Anh đi với anh Hiển uống cà phê coi tình hình chút."

Chúng tôi không cần đi đâu xa, Sơn lái chiếc Jeep dân sự ra tới phố chính thì ngừng lại. Tôi nói với Sơn:

"Ông mới là tối dạ, đã làm sĩ quan Quân cảnh coi tù binh ở Phú Quốc, dầu cho có biệt phái về dạy học chăng nữa cũng phải chạy. Ông hãy nhìn những người dân kia, không có đi coi tù ở Phú Quốc, cũng chẳng dậy đại học như ông, thế mà họ còn đi lũ lượt như thế. Ông chưa thấy tận mắt Đại lộ kinh hoàng năm 72 phải không? Mấy tháng sau tôi đi trao đổi tù binh, có những đoạn xe công binh phải ủi xác người ở dọc đường, mới có lối cho đoàn xe của tôi chạy tới địa điểm trao đổi tù binh. Ông mới là tối dạ, đã làm tới sĩ quan Giám thị Trưởng khu, mà lại là Trưởng khu Tù binh xâm nhập, giờ này còn ở đây thì tôi không hiểu nổi."

"Tôi có cái kẹt khó giải quyết."

"Bây giờ ông coi có quen ai có thuyền không?"

"Ông đi với tôi vô Đại học Cộng đồng Duyên hải. Kiếm cái bus của trường rồi tôi chạy với ông."

Sơn chở tôi vô trường Đại học Nha Trang. Dọc đường người tản cư đông như kiến, càng lúc càng nhiều. Càng lúc càng cảm thấy có một cái gì bất ổn. Chiếc xe bus của trường còn đó, không chạy được, người ta đã lấy mất cái bình điện.

Trên đường về chúng tôi im lặng. Sơn rủ tôi ghé vào một quán quen còn hé cửa. Rồi anh nói như mơ:

"Tôi cũng biết tôi phải chạy, nhất là đã làm việc với ông ở Phú Quốc ít nhiều cũng ảnh hưởng. Hôm qua giá gặp ông thì có lẽ tôi có cách sử dụng chiếc bus này hợp pháp. Bây giờ dù có muốn sử dụng bất hợp pháp cũng không được."

"Ông có chiếc Jeep đó sao không chở tụi nhỏ chạy?"

"Vấn đề chính là ở chỗ đó."

"Tôi không hiểu."

"Hai vợ chồng tôi và năm đứa nhỏ Na, Nô, Ni, Nu và Ti nữa là vừa vặn, cố lắm thì mang được thêm bà cụ. Bà cụ tôi thì không muốn bỏ gia đình thằng em tôi. Nó là con út. Giàu con út, khó con út đó mà."

Rồi đột nhiên Sơn đứng dậy quả quyết đưa chìa khóa chiếc Jeep cho tôi.

"Ông chạy đi, ông không thể ở lại, ông cần chiếc Jeep hơn tôi. Tụi nó vô đây cái xe của tôi chỉ có giá trị bốn cái bánh để làm dép Bình Trị Thiên. Nó không có giá trị gì trong những ngày sắp tới, ông lấy chạy đi."

Tôi nhìn thật sâu vào mắt Sơn, chúng tôi từng làm việc với nhau trước khi là bạn, đã từng sát cánh với nhau trong những ngày ghê tởm ở Phú Quốc. Ngày đó tôi hai mươi bốn, hai mươi nhăm tuổi Sơn có lẽ hơn tôi một, hai tuổi. Sau những ngày ê chề lê lết ở các đơn vị lớn của binh chủng, tôi đứng đầu danh sách những sĩ quan thuyên chuyển ra Phú Quốc. Nói rõ ra là bị phạt quá nhiều thì đi trước, còn Sơn và một số các tân sĩ quan khác mới ra lò, không có cổ không có cánh, thì Phú Quốc làm chuẩn. Lúc đầu tôi không muốn làm việc, định ba gai để bị phạt ra khỏi binh chủng thì sẽ về lại đất liền. Nhưng rồi một loạt những sự việc xẩy ra chẳng những đã bắt tôi làm việc, tôi còn tình nguyện nhận những chức vụ khó khăn nhất, đảm nhiệm một lúc ba chức vụ. Tôi kiêm nhiệm Trưởng khối Điều hành, Trưởng ban Giám thị kiêm luôn Sĩ quan An ninh và Sĩ quan Tâm lý chiến. Có một thời gian sĩ quan làm việc dưới quyền tôi nhiều bằng sĩ quan của một tiểu đoàn canh gác tù binh ngoài đảo. Dưới tay tôi qui tụ những thành phần bất hảo nhất của binh chủng, đồng thời cũng có những khuôn mặt sư phạm thật sự như Trương Hồng Sơn, Hoàng Phùng Quyền. Tôi chọn Sơn làm Giám thị trưởng khu Tù binh Sĩ quan Bắc Việt, bởi lẽ tôi muốn cho tù binh thấy rõ phẩm chất những sĩ quan trẻ tuổi miền Nam.

Những sĩ quan trẻ cỡ tôi và Trương Hồng Sơn không thối thân từ quân đội Liên hiệp Pháp, đã mang một tinh thần khác với các sĩ quan lớn tuổi, được đào tạo từ thời Tây. Cố vấn Mỹ của đơn vị tôi nhiều như ruồi, để ý chúng tôi từ chút. Họ bảo vệ tù binh như một cách gián tiếp bảo vệ những người phi công Mỹ đang bị giam tại Hotel Hilton Hà Nội. Chúng tôi, những sĩ quan trẻ tuổi của miền Nam, cứ việc mình mình làm, đường mình mình đi.

Sơn và tôi làm bạn với nhau một năm trời ngoài đảo. Chúng tôi làm bạn với nhau bốn tháng ở Vũng Tầu, khi Sơn về thụ huấn và tôi sau khi mãn hạn Phú Quốc, để đổi về đất liền với một điều kiện là trở thành sĩ quan huấn luyện viên bất đắc dĩ, dậy môn Tù binh Chiến Tranh. Rồi chúng lôi làm bạn với nhau ở Pleiku, khi Sơn mãn khóa huấn luyện thuyên chuyển về đó, còn tôi mười lần thuyên chuyển thì chín lần hoặc là bị phạt hoặc là không được lòng cấp trên. Cứ thế tình bạn chúng tôi âm thầm, lặng lẽ. Bây giờ gặp nhau trong cuối mùa thảm kịch này, chúng tôi mắng lẫn nhau là tối dạ, nhưng thật ra đang lo cho nhau từng hơi thở nhọc nhằn. Tôi hỏi:

"Ông có gặp ông Vân không? Võ Phong Vân đó, hắn cũng biệt phái về đây dậy học ở vùng này phải không?"

"Hắn dậy ở Cam Ranh. Tôi có gặp hắn đôi lần, nhưng lâu lắm rồi, hai năm nay không gặp."

"Còn Trần Thái Long sao?"

"Tên này phát quân đội hơn ông. Hắn không xin biệt phái, bây giờ hắn cũng đại úy rồi đó ông biết không?"

"Ông có nhớ Yên Bằng không? Yên Bằng hồi xưa ở Phú Quốc ấy."

"Tôi không có máu văn nghệ, giờ này chết đến đít rồi mà còn yên với bằng. Bọn nó mà vồ được ông là tha hồ mà bằng yên. Chìa khóa đây ông dông đi."

"Tôi nản chạy đường bộ lắm rồi. Có cả triệu cái bất trắc, vả lại tôi nghĩ còn nước còn tát. Ông sinh trưởng ở đây, dậy học ở đây, lại được tiếng là giáo sư trẻ có lương tâm nghề nghiệp, làm gì mà chẳng có vài sinh viên nhà có ghe. Ông đưa tôi đi tìm ghe, chừng không có sẽ tính sau."

*

Ngày N + 16, 10 giờ sáng

Từ Cầu Đá trở về, tôi và Sơn ghé lại quán cà phê cũ. Chúng tôi chạy đôn chạy đáo tới những xóm chài, tới vài nơi mà Sơn đoán là có thuyền, nhưng không có kết quả. Chúng tôi ngồi thừ người trong quán. Nha Trang bây giờ là con bệnh đang trong giờ hấp hối. Còn Sơn và tôi cũng chẳng khác gì, Sơn đưa chìa khóa cho tôi một lần nữa.

"Thôi ông dọt đi, sáng tới giờ tôi đưa đi kiếm ghe là để chiều lòng ông thôi. Không có ghe nào giờ này đâu. Dẫu có bọn nó cũng dấu bên mấy cái đảo nhỏ. Tôi đã nhất quyết không đi từ bốn ngày trước rồi, cứ xem ông đủ biết chạy tới đâu mất tới đó, có chạy tới Sài Gòn cũng thế thôi. Mà đến khi trở về có khi nhà cửa mình lại tan hoang. Tôi dậy học ở đây mấy năm, có dành dụm mua được cái rẫy. Bọn nó vô đây thì tôi làm rẫy sống cũng chả sao. Tôi không cần cái xe jeep này nữa. Ông dông đi."

"Trong tình bạn giữa tôi với ông, tôi không khách sáo. Nhưng bà ấy thì sao?"

"Vợ tôi cũng đồng ý với tôi là chạy đi đâu rồi cũng thế mà thôi. Chỉ có ba tuần lễ mà mất đất từ vĩ tuyến 17 tới tận Nha Trang này rồi. Tôi quyết định ở lại sống với nền nhà cũ và mảnh vườn mới vừa có được."

"Không, tôi hỏi ông vụ cái xe cơ."

"Nói thật với ông, tôi muốn giao xe cho ông sáng nay ngay tại nhà, để ông chạy sớm được giờ nào hay giờ ấy, nhưng tôi không muốn đưa xe trước mặt vợ tôi. Tụi tôi chưa bao giờ nghĩ là ông có mặt ở đây vào giờ này. Tôi đã chọn ở lại, còn ông cần xe hơn bất kỳ ai. Ông biết đàn bà họ có những suy nghĩ đàn bà. Tôi sẽ giải thích với vợ tôi sau. Ông đi đi đừng để bị bắt."

"Tôi đưa ông về nhà."

"Tôi lội bộ về được rồi, có vài trăm thước thôi. Đi đi, tôi không muốn giao xe cho ông trước mặt vợ tôi mà."

Chúng tôi xiết tay nhau thật chặt như muốn truyền cho nhau một chút sinh khí.

"Xe đầy xăng, bánh hơi mềm một chút, có bánh sơ cua ở băng sau. Thượng lộ bình an nghe ông."

"Cho tôi gửi lời chào bác và cám ơn chị. Hôn mấy đứa lỏi Na Nô Ni Nu Ti hộ tôi."

Và tôi nhủ thầm:

"Vĩnh biệt ông. Vĩnh biệt Nha Trang."

*

Ngày N + 16, 12 giờ trưa

Nha Trang đằng sau 10 cây số. Nằm rải rác trên đường thiên lý, vài cỗ trọng pháo 155 ly. Họng súng sáng như bạc dưới ánh mặt trời buổi trưa. Một vài chiếc thiết vận xa M113 nằm chúi đầu xuống ruộng. Không có dấu tích của giao tranh. Chắc bị bỏ lại vì hư hỏng. Không ai cảm thấy cái nóng của buổi trưa. Đã cả tháng nay dường như con người dị ứng với khí hậu và thời tiết. Hai đứa con tôi ngồi yên trên xe, không vòi vĩnh. Người cũng như thú lúc nào cũng có thể cảm nhận những bất trắc sắp xẩy đến.

Kể từ lúc chia tay với Sơn, tôi đâm ra đăm chiêu lo nghĩ. Dẫu biết tất cả những lý lẽ Sơn nói đều là "logic": Chạy tới đâu rồi cũng thế thôi. Miền Nam đã đến lúc tàn tạ, lịch sử sắp chuyển sang một trang mới. Không hiểu chiếc xe của Sơn tặng sẽ giúp tôi chạy được tới đâu? Càng lúc tôi càng cảm nhận được điều Sơn nói. Kể từ lúc bước chân lên chiếc GMC của Tiểu đoàn 2 Quân cảnh trên Pleiku, mới hơn nửa tháng trời, miền Nam Việt Nam, cái nửa phần đất mà hàng triệu học sinh trung tiểu học mỗi lần phải học địa lý được tô bằng mầu vàng. Nửa phần còn lại được tô bằng mầu đỏ. Mầu vàng càng lúc càng nhỏ lại, mầu đỏ càng lúc càng loang xuống, đã xóa nhòa một nửa mầu vàng. Tôi kiểm điểm lại những thành phố đã đổi mầu trong một ngày, trong một đêm, trong một giờ ngắn ngủi của nửa tháng qua. Cứ mỗi thành phố mất đi, một phần đời tôi bị thiêu hủy, bị xóa bỏ. Bởi một lẽ rất giản dị, sẽ không bao giờ được trở lại những nơi tôi đã làm việc, những nơi tôi từng rong chơi.

Vĩnh biệt Huế, Đà Nẵng, vĩnh biệt Pleiku, Kontum, vĩnh biệt Qui Nhơn, Nha Trang, và vĩnh biệt chính tôi, vĩnh biệt cái phần đời trẻ trung, sôi nổi, điên cuồng, mơ mộng và đôi khi lý tưởng. Vĩnh biệt phần đời đã trải ra từ một xó núi tỉnh Quảng Ngãi, đến một hàng dương của quận Bồng Sơn, từ một buôn Thượng nằm heo hút trong rặng Trường Sơn đến thị trấn Đà Lạt kiêu sa, đài các. Còn phần đời tôi chưa sống không biết sẽ trôi về đâu. Đột nhiên nhớ tới mấy câu thơ đã làm gần mười năm trước:

...Tiếng lách cách đạn lên nòng súng
Hơi thở dồn và lồng ngực vỡ tung
Đốm lửa thuốc lá lóe lên rồi vụt tắt
Đó là chiến tranh
Việt Nam 1967. . .

và một đoạn trong bài thơ khác:

...Cuộc chiến này tôi đã đợi từ lâu
Nó đã đến với nguyên hình bản thể
Rất êm như loài rắn.
Rất êm như con nước lớn từ từ
Tôi đã thét thật to
Xin giã từ tất cả: "Kể cả tôi"
Xin giã từ tất cả: "Kể cả tôi"

 

*

Ngày N + 16, 1 giờ 30 phút

Vừa ra khỏi một khúc quanh, phía trước mặt chừng một cây số, tôi thấy người ta thật đông. Có lẽ đường bị kẹt, sau đám đông kia 10 cây số nữa là Cam Ranh, chẳng lẽ địch đã chiếm Cam Ranh. Vô lý, nếu địch đã chiếm tỉnh lỵ này, thì đám đông kia không thể có. Có lẽ một chiến cụ quá to bị bỏ lại dọc đường đã tạo nên trở ngại khiến đoàn xe bi kẹt. Xe tôi nhập vào đoàn, tôi hỏi vài xe trước, họ cũng không biết cái gì đằng trước. Họ đến đây đã một tiếng đồng hồ, lâu lâu lại nhích được năm, mười thước. Kẹt xe một đoạn đường dài cả năm cây số. Ruột tôi nóng như thiêu, tự nhiên tôi bồn chồn, không phải vì sợ Việt cộng tấn công. Đoàn xe này dường như toàn dân xa, toàn là người chạy loạn. Không phải là Việt cộng không tấn công dân xa, có lẽ họ chưa có mặt, để có thể thị oai. Chỉ cần vài tràng AK bắn lên trời bây giờ đủ để cho mọi người bỏ chạy. Tôi không thể bỏ xe để lên phía trước tìm hiểu việc gì, xe sau mỗi lúc mỗi tới nhiều thêm. Chỉ còn chừng hơn một cây số nữa là tới một ngã rẽ vào rẫy của ông bác tôi. Xe trôi đi từng thước, từng thước một. Nhiều lúc cả đoàn xe ngừng lại không nhúc nhích cả nửa giờ đồng hồ.

Suốt cả buổi sáng nay, từ lúc gặp Trương Hồng Sơn, tôi như một kẻ xa lạ. Sự chọn lựa ở lại của Sơn làm tôi liên tưởng đến chung cuộc của trận chiến này. Chạy tới đâu rồi cũng thế thôi. Trong óc tôi bây giờ là những đoạn phim thời sự đã coi: Những hố chôn người tập thể ở Huế dịp Mậu thân, những cuộc tàn sát tập thể ở Trung Hoa Lục địa. Đó là những hình ảnh không một ai có thể phủ nhận giá trị thật, không một ai có thể ngụy tạo được những hình ảnh này để tuyên truyền, lừa gạt, bịp bợm. Rồi những tác phẩm như Chú Mạ Què của Lý Cẩm Dương, những nhân vật như Boris Bodnariuk trong La second chance của Georghiu. Tôi nhớ đến những bản thống kê kèm theo tài liệu hình ảnh, Staline đã tàn sát hàng chục triệu người Nga, Mao Trạch Đông còn trên chân Staline trong việc tạo ra những con suối máu người.

Ở đâu cũng giống nhau, chỗ nào Cộng sản chiếm được thì lập tức sẽ có hàng loạt người phải chết. Con người sẽ được phân ra thành một loại nào đó, phải được tái giáo dục theo đường lối mới, theo nếp sống mới, suy nghĩ mới hay sẽ bị loại bỏ không thương tiếc. Có một số giai cấp được lưu dụng, nhưng phải thay đổi tập quán suy nghĩ cũng như phương pháp làm việc, một số giai cấp phải bị triệt tiêu. Phải chăng đó là đấu tranh giai cấp? Trong những bưu thiếp gia đình tôi đã nhận được từ miền Bắc vào những năm 56, 57, và nếu chỉ đọc những dòng chữ một cách bình thường, thì không một ai biết đích thực những gì đã xẩy ra ở miền Bắc. Phải là những người trong cuộc mới có thể hiểu được. Trong bưu thiếp viết: "Tuấn đã vào vườn trẻ với Dũng", thì chỉ có người trong gia đình mới hiểu được Tuấn đã chết bởi lẽ Dũng đã chết từ năm, bẩy năm trước. "Chú Mậu hiện làm than với anh Kỳ" thì chỉ người nhà mới biết chú Mậu hiện ở tù, vì anh Kỳ cũng đang ở tù.

Tôi nghĩ đến những năm làm việc ở Phú Quốc, Biên Hoà và Qui Nhơn. Tôi nghĩ tới những tù binh ở đảo nhìn tôi với đôi mắt rực lửa căm thù. Tôi biết chắc những gì sẽ đến với cá nhân tôi trong hồi kết cuộc. Chạy tới đâu cũng thế thôi. Cần một chỗ trú ẩn an toàn cho vợ con tôi. Sự an toàn hiểu theo nghĩa giản dị nhất, không một ai biết gốc tích vợ con tôi. Cần nhất là lúc chộn rộn ban đầu của cuộc đổi đời này, người ta có thể chết chỉ vì một lời tố cáo vu vơ, chỉ vì một oán hờn nhỏ trong quá khứ. Đôi khi chỉ vì vài đồng bạc, một cái lườm nguýt, một câu nói hớ hênh cũng đủ rũ tù. Phải có một chỗ trú cho vợ con tôi, mà những hàng xóm láng giềng không một ai biết gốc tích tôi.

Xe vẫn trôi đi trong cái nắng bốc lửa của buổi xế chiều. Chừng năm trăm thước nữa sẽ tới ngã rẽ vào rẫy nhà bác tôi. Tôi nhìn người bạn đời, đầu gối tay ấp của tôi, tôi nhìn các con tôi. Một ý nghĩ điên dại thoáng qua. Tôi mong một trái B40, một trái mìn, một trái lựu đạn nổ ngay vào xe tôi. Chỉ một tiếng nổ thôi, sau đó không còn gì, không còn tôi, không còn vợ, không còn con, không còn điều gì phải bận tâm, suy nghĩ, lo lắng, sợ hãi. Tôi quay xuống nói với bà nhạc:

"Con đưa má với em con vô rẫy bác Năm. Đường như thế này không thể chạy được. Bây giờ phải tìm chỗ trú, rồi sẽ tính sau."

"Má cũng nghĩ vậy nhưng không dám nói với con, vì má là đàn bà, đâu có biết việc giặc giã ra làm sao?"

"Anh định ở nhà Bác luôn à?"

"Không anh đưa má, em và các con vô đó, anh quay trở ra ngoài này nghe ngóng, tìm kiếm phương tiện."

"Đừng bỏ con với em ở lại đây nghe."

Đã đến lúc tôi phải nói thật. Tôi nói cho vợ tôi nghe những suy nghĩ trong một tiếng đồng hồ bị kẹt xe.

"Mình thua rồi, anh Sơn tặng cho mình chiếc xe mà không chịu chạy trong lúc anh ấy có đủ thì giờ và phương tiện là em hiểu rõ hoàn cảnh bi đát cỡ nào. Chạy tới đâu mất tới đó. Anh từ Tuy Hoà trở ra phần để lo cho đơn vị, phần để lo cho em và các con. Rồi hôm qua anh trở về cũng chính là để dẫn em và các con chạy giặc. Bây giờ thì anh biết chắc là tuyệt vọng rồi. Anh không bao giờ muốn bỏ em và các con để chạy một mình. Điều quan trọng nhất là em và các con có một chỗ trú an toàn. Em không thể về Đà Lạt, Pleiku được, em cũng không thể về Qui Nhơn được. Em chỉ có thể về Sài Gòn, ở một nơi thật ít người biết em là vợ anh. Anh cũng không thể để bị bắt được. Lại càng không thể để bị bắt cùng với em và các con, vì như vậy em và các con sẽ không bao giờ được sống bình thường. Má, em ở tạm đây trong những ngày đầu, khi mọi chuyện tương đối êm, má về lại Qui Nhơn, còn em vô Sài Gòn."

Vợ tôi khóc lặng lẽ. Tim tôi thắt lại.

"Anh đi ngay bây giờ à?"

"Vào nhà bác Năm xong anh sẽ đi liền. Em hủy giấy hôn thú, giặc giã thế này, giấy hộ tịch cháy, mất là chuyện thường. Làm lại khai sinh cho các con. Đưa các con vào Sài Gòn ở với ông nội. Nhớ những điều anh dặn."

Má tôi lục trong túi xách, đưa cho tôi một gói giấy dầu:

"Con cầm lấy chút tiền để tiêu dọc đường."

Bà đưa thêm cho tôi một cái lắc vàng. Tôi chỉ lấy gói tiền. Đó là lần đầu tiên và là lần cuối cùng tôi cầm tiền của bà nhạc.

"Con xin má chút tiền này đủ rồi. Còn cái lắc để má giữ, con cũng không còn sống lâu để mà tiêu tới cái lắc này."

"Con đừng nói dại. Cứ yên tâm đi. Má bảo bọc em con cho tới khi nào nó vô được Sài Gòn."

"Anh đi nghe. Em và các con bình yên."

*

Ngày N + 16, 5 giờ chiều.

Người đông như kiến trong vũng biển hẹp. Đây là eo biển trước khi tới vịnh Cam Ranh. Từ trên quốc lộ 1, tôi thấy trong cái vũng biển nhỏ này hai cái xà lan nằm im lìm. Tôi nói người lính chạy Honda ôm cho tôi xuống đó. Chắc chắn tầu lớn sẽ vào kéo mấy xà lan này đi. Người lính nói:

"Xà lan chở người từ vùng I về đó, nó nằm đó hai ba ngày nay rồi. Xuống đó làm gì?"

"Kệ nó, anh cho tôi xuống đó, tôi trả tiền anh đủ mà."

"Tôi nói cho ông biết: Hôm mấy chiếc xà lan này kéo về tới đây, mấy cái tầu kéo chặt dây rồi chạy đi luôn, người chết quá trời, con nít chết vì thiếu sữa, người lớn chết vì khát và vì súng đạn. Xác người khênh lên bờ chật cả bãi biển. Cả trăm mạng."

"Cứ cho tôi xuống đó. Ngồi trên xà lan vẫn còn có hy vọng hơn chạy ngược chạy xuôi. Sao người ta lên đó đông quá vậy?"

"Tại vì họ cũng như ông ở nơi khác chạy về nên không biết. Cho tiền leo lên đó tôi cũng không lên. Mà chạy đi đâu cũng vậy thôi."

"Cho tôi xuống đó."

*

Ngày N + 16, 7 giờ chiều.

Trời đã bắt đầu tối, xà lan người chật như nêm cối, có lúc tôi muốn lên bờ, trở lại đón vợ con tôi, nhưng lời của anh lính lái Honda làm cho tôi ngừng lại. Ban đầu tôi còn duỗi được cái chân, bây giờ ngồi gục đầu gối xuống gối, không có một chỗ để chen chân. Người lính nói đúng. Cứ như thế này người ta chết ngộp ngay giữa biển khơi, chết vì không cựa quậy được, chết vì hoảng sợ, chết vì những hành động trong lúc tuyệt vọng của người bên cạnh. Cho dù tầu lớn có tới kéo đi, hành trình kéo dài trên biển chỉ hai ngày có lẽ quá nửa số người trên xà lan sẽ chết. Tôi gục đầu trong gối, không nghe được bất cứ một âm thanh, nào ngoài tiếng tiêu của người lính Biệt động quân. Có hai điều thật kỳ lạ ám ảnh từ một tháng nay: Hễ cứ cầm đến sách là y như rằng tôi vớ được quyển truyện của Remarque, quyển sách đó bây giờ đã nằm đâu đó ở Tuy Hoà. Và tiếng tiêu của người lính Biệt động quân trên đập Đồng cam thì dường như lúc nào cũng lẩn quất chung quanh.

Tôi chập chờn nửa thức nửa ngủ, nửa người phía dưới đau như dần, tê dại đi, nửa phía trên lơ mơ lúc như ngủ, lúc thấy như của một người khác cho mượn. Tôi thấy tất cả mà dường như không thấy gì. Tiếng tiêu của người lính bặt đi, lập tức những âm thanh xa lạ, như oán, như than, tiếng kêu như từ chín từng địa ngục vọng về. Dường như vùng biển này trước đây là của dân Chàm, thế thì chúng tôi, trên con tầu ma này đúng là những oan hồn uổng tử của vài thế kỷ trước, đã mất nước trong tay nòi Việt. Trong bóng tối dầy đặc của đại dương, lẫn trong gió hú như vọng lại tiếng oán than của người dân Hời mất nước.

Có ánh đèn từ ngoài khơi tiến vào, cùng với tiếng động cơ của tầu lớn. Tôi nhỏm dậy, nhìn ra khơi, không thấy hình dạng con tầu, nhưng chắc chắn nó đang trực chỉ hướng chúng tôi, ánh sáng soi tỏ hình ảnh hỗn độn dị thường. Tầu lại gần, gần hơn nữa, đó là một chiếc tầu đổ bộ, dân chúng quen gọi là tầu há mồm. Tôi ngồi ở cuối xà lan, có đứng dậy cũng không thể thấy cái gì đang chờ ở phía trước, xung quanh tiếng cầu nguyện vang lên. Những câu "Nam mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế âm Bồ Tát" xen lẫn với tiếng "Lạy Cha chúng con ở trên trời cầu cho chúng con là kẻ có tội".

Xà lan từ từ tách bến. Nửa tiếng sau, trên mặt biển đen ngòm, một con tầu của Hải quân Mỹ đang neo, to dềnh dàng như một tòa building. Đèn pha sáng rực một vùng. Hai cái thang dây được bỏ xuống, người ta giành giật nhau leo lên, tôi bỗng thấy hổ thẹn, phải chi hồi nẫy cứ về đón vợ con, thì giờ này có lẽ cũng chưa đến độ chia ly. Không biết giờ này vợ tôi đang làm gì trong cái mái tranh hẻo lánh đó. Không biết giờ này con tôi có còn thức để thấy mẹ chúng khóc đau đớn, nghẹn ngào.

Tôi nhập với dòng người như có một sức mạnh nào đó đẩy tôi lên tầu. Cơ thể tôi như rũ ra. Lên được sàn tầu, tôi thấy chỗ của vợ tôi hiện đang trú ẩn là đúng. Dưới sàn đầy những đống nôn, mửa, có cả phân và nước tiểu. Người nằm ngồi giống như một hộp cá mòi. Tôi chọn được một cái hốc thật nhỏ bên hông ụ đại bác. Tôi ngồi xuống, thiếp đi, và rất mong được chết yên bình như lúc này đây, người ta sẽ quăng tôi xuống biển, sẽ không một ai hay, không một ai biết. Vợ tôi chắc chắn sẽ buồn, nhưng còn hơn là nghe tôi bị xử bắn, bị lăng nhục trước khi được chết, còn đỡ hơn nghe tin tôi tự bắn vào đầu. Cứ thế tôi tỉnh dậy, rồi thiếp đi, tầu chạy dập dờn trên sóng.

Khi tôi tỉnh hoàn toàn, mặt trời đã lên ngang tầm mắt, mọi vật sáng tỏ hơn. Tôi không còn tin ở thị giác, muốn đứng dậy làm một vài cử động cho giãn gân cốt, cũng không thể được, ngay trên đầu tôi, những phụ tùng lỉnh kỉnh của ổ súng phòng không trên tầu. Tôi chỉ có thể khom người, cử động hai cánh tay tê dại vài lần cho máu lưu thông đều, rồi ngồi xuống tựa lưng vào giá che của khẩu đại bác, đạp hai cái chân lên cao, giống như người tập thể dục mỗi buổi sáng. Sàn tầu nhầy nhụa những đồ ăn bị nôn mửa, lẫn những thứ được bài tiết ra. Tôi khát nước, nhưng đào đâu ra nước lúc này. Một vài cánh chim biển lặng lờ chao trong gió, dang đôi cánh trắng rực rỡ trong nắng mai, dưới bầu trời xanh ngọc thạch. Tôi nhủ thầm tốt hơn hết là ngủ lại. Cần nhất là đừng suy nghĩ gì cả, những suy nghĩ trong hoàn cảnh tuyệt vọng này sẽ không giúp gì được cho tôi, mà có khi còn đưa tôi đến chỗ tìm về cái chết.

*

Ngày N + 17, 12 giờ trưa.

Cái mặt trời quái ác sao nghiêng đi quá chậm, tôi mong nó khuất lẹ, để khỏi phải nhìn, để khỏi phải nghe, để cho một ngày chóng qua. Cứ tốc độ này, nếu tầu chỉ đi Sài Gòn có lẽ tối nay sẽ tới, nếu đi Vũng Tầu, chiều nay sẽ lên bờ. Tôi hết chịu đựng nổi rồi, tôi muốn chấm dứt cái cảnh địa ngục này.

*

Ngày N + 17, 5 giờ chiều.

Tôi xin được một hớp nước của một người đàn ông nằm nửa người dưới sàn tầu, hai chân gác lên ụ súng. Ông ta nằm bệt ở đó từ lúc lên tầu tới giờ. Chúng tôi trao đổi vài câu chuyện vu vơ, ông đề nghị tôi giữ chỗ hộ, cho ông ta ra ngoài một chút rồi sẽ vào giữ chỗ cho tôi.

Khi tôi thoát ra khỏi cái thế ngồi bó gối đó, tôi tưởng chừng như muốn té mấy lần, có té cũng không đau, bởi chắc chắn tôi sẽ té trên một thân người nào đó. Tôi lết được ra mũi tầu, một người đàn ông ngồi chễm chệ trên cái trụ sắt tròn đường kính nửa thước, nhô hẳn lên sàn tầu chừng một thước. Cái trụ này để cột dây neo tầu. Không hiểu bằng cách nào ông ta có thể ngồi trọn vẹn một đêm và một ngày. Tôi đứng sát mạn tầu, nhô người ra ngoài hít thở không khí trong lành của đại dương. Tầu vẽ trên mặt biển một đường dài trắng toát. Không thấy bến bờ, mũi tầu cứ hướng nam trực chỉ, không hiểu chúng tôi sẽ xuống bến nào. Mặt trời chỉ còn một nửa nhô trên mặt nước. Tôi muốn đứng ngắm thêm một chút nữa cho tới khi nó mất hẳn dưới chân trời, nhưng tôi phải đi vào, nếu không muốn đạp lên người ta khi di chuyển trong bóng tối. Tôi trở về chỗ cũ, người đàn ông cho nước lại đưa cho mấy miếng bánh lạt. Tôi cầm lấy nhưng không ăn, dù cả đêm qua và ngày nay không có chút gì trong bụng. Đêm lại ập xuống như một cái bẫy.

*

Ngày N + 17, 11 giờ đêm.

Ban ngày tôi mong đêm xuống, nhưng trong bóng tối đêm nay, đêm thứ hai trên tầu, lại mong mặt trời lên. Tôi muốn thời gian đi thật nhanh. Tôi trằn trọc, chập chờn, nửa tỉnh, nửa mê. Từ hôm bị chặn đánh tan đơn vị, tôi hết còn ngủ mơ thấy mình là lính của vua Quang Trung nữa. Hai ngày nay, từ lúc chia tay vĩnh viễn với vợ con, trong những lúc chập chờn thức ngủ, cái ý nghĩ chết chóc cứ lảng vảng trong đầu. Có một khẩu Colt 9 phòng thân khi lên tầu bị Mỹ tịch thu, bây giờ muốn chết thì chỉ có nước cắn vào lưỡi, đập đầu vào ụ súng, hay nhảy xuống biển. Không phải bất cứ ai cũng có thể thực hiện được ý định này, từ suy nghĩ đến hành động có một khoảng cách xa. Tôi vẫn cố sống, vẫn tìm mọi cách để thoát hiểm, nhưng vẫn không thể không ân hận, dẫu cho có lý luận cách nào chăng nữa, dẫu cho viễn ảnh của trận chiến thế nào chăng nữa, tôi vẫn ân hận rằng mình đã để vợ con lại tháo chạy một mình. Dẫu cho tôi có suy nghĩ đúng, hành động đúng, tôi vẫn vô vàn ân hận. Khúc tiêu bách điểu chia ly, trăm hoa tàn tạ của ngày nào trên đập Đồng cam lại vang lên.

*

Ngày N + 18, 5 giờ 30 sáng.

Tôi thức dậy giữa tiếng lao xao của đám đông, boong tầu có vẻ trống trải hơn, thì ra tầu sắp cập bến. Tôi hỏi người đàn ông đã cho nước, bánh, và được biết tầu sẽ cập bến Phú Quốc. Trời vẫn còn tối mù, nếu không chắc chắn sẽ nhận ra được từng bãi biển tôi rong chơi tám năm trước. Ít ra cũng còn có người tỉnh táo để không cho tầu cập bến Sài Gòn. Dẫu nhà tôi ở Sài Gòn, tôi cũng vẫn thấy quyết định thành lập một trung tâm nạn nhân chiến cuộc ở Phú Quốc là hợp lý. Từ khi trao đổi tù binh trại trống trơn có khả năng tiếp nhận năm chục ngàn người. Dẫu sao Phú Quốc chẳng phải nhà cũ của tôi là gì?

*

Ngày N + 1 8, 7 giờ 45 phút.

Khi đặt chân xuống cầu tầu, cũng như mọi người, tôi bị một binh sĩ Quân cảnh khám. Anh ta chắc là quá bận, nên cứ thấy người là khám. Rồi bỗng nhiên nhận ra tôi, anh ta la thất thanh gần như khóc.

"Sao mà ra nông nỗi này ông thầy ơi?"

Tôi không biết anh ta, nên còn chưa biết phải làm gì. Còn anh ta cuống quít thiếu điều quên phận sự. Nhìn dáo dác kiếm người trưởng toán, không thấy. Anh ta gọi báo cho mấy người Quân cảnh khác đương làm việc gần đó.

"Anh Ba Râu về được đây rồi Thượng sĩ ơi !"

Một vài người Quân cảnh chạy đến chào, tôi nhìn thấy thật rõ niềm thương cảm trong đáy mắt họ. Đó mới thật là những huy chương của tôi, mới thật là một chút hào quang cay đắng cuối mùa trận chiến. Người thượng sĩ nói với một binh sĩ:

"Mày đi kiếm cho Đại úy một lon nước Coca hay Pepsi gì cũng được. Để tao gọi máy báo cho Thiếu tá Mạc. Rồi quay lại tôi ân cần:

"Để tôi đưa Đại úy vào chợ An Thới kiếm bậy bạ tô mì chờ Thiếu tá Mạc ra."

"Thôi anh cho tôi ra nghỉ ở xe được rồi."

"Đại úy ở vùng I về phải không?"

"Không tôi ở Trại giam Qui Nhơn."

"Có ai đi theo Đại úy không?"

"Không."

Tôi thấy người hạ sĩ quan khựng lại nhìn tôi. Tôi hiểu rõ ý tứ của những cái nhìn đó nên nói với ông ta:

"Đơn vị tôi bị chặn đánh tan ở Tuy Hoà. Chạy vào Nha Trang còn được tám người rồi từ đó mạnh ai nấy đi."

"Anh em mình chết nhiều không Đại úy?"

"Chính mắt tôi thấy chết có hai người, nhưng bị bắt sống trọn gói ở ngay Tiểu khu Tuy Hoà, tôi cưỡng bách được chiếc ghe chạy thoát vào Nha Trang."

"Mình vô chợ đi Đại úy."

"Để tôi ngồi đây được rồi."

*

Ngày N + 18, 8 giờ sáng.

Giọng Thiếu tá Nguyễn Trọng Mạc Chỉ huy trưởng Trại Cai Ma túy vang lên trong máy truyền tin. Ông ra lệnh cho Thượng sĩ trưởng toán lái xe đưa tôi về thẳng văn phòng. Trước kia có một dạo, tôi và Thiếu tá Mạc cùng tiểu đoàn, ông ta coi đồn Đà Lạt, còn tôi coi đồn Pleiku. Thỉnh thoảng có gặp nhau ở Tiểu đoàn bộ, Thiếu tá Mạc không phải là một cấp chỉ huy đủ để cho tôi phục, nhưng tôi cũng không thể xem thường cung cách của ông. Có lần ngại cho tôi bị đì nhiều quá, trước khi thuyên chuyển ra vùng I, ông rủ tôi đi ăn, và rượu vào lời ra, ông nói:

"Đối với thượng cấp moa kính trọng, nhưng không nịnh bợ, luồn cúi. Xa được chừng nào tốt chừng nấy. Đối với thuộc cấp moa nghiêm, không gần gũi quá cũng không xa cách quá, còn với phụ nữ, lúc nào moa cũng có một nhánh hoa trên tay, thế là thành công ở đời."

"Đối với phụ nữ cầm nhánh hoa không chưa đủ."

"Thì cứ khen tưới hột sen lên, nếu cần quì gối thì dòm trước dòm sau, không có ai thấy thì quì lâu một chút cũng chả sao. Vả lại trước sau gì mình cũng quì gối mà."

Ông Mạc cười hóm hỉnh trong cái vụ quì này. Rồi thân mật hơn, gần gũi hơn, ông mắng đùa tôi:

"Mẹ kiếp cả cái binh chủng này có được một ông làm thơ, viết văn, tôi tưởng ông văn nhân, nho nhã lắm, nào ngờ gặp mặt thì mới biết ông là con trâu điên, lúc nào cũng chỉ chực húc. Nhưng mà nói thật, có nhiều thằng cũng nên húc cho nó bỏ mẹ. Tôi chỉ cầu mong một cách thành thật, đừng có bao giờ ông vác mặt về làm việc với tôi. Nhớ là tôi không sợ, nhưng mà có cái mặt ông chán lắm."

Sáng nay Thiếu tá Mạc đón tôi với vẻ mặt lầm lì, nhưng ông ta mừng rỡ thật tình khi bắt tay:

"Có một thằng lính của ông đi tầu đến đây trước ông một, hai ngày gì đó, nó nói hết tôi nghe vụ ở Qui Nhơn rồi. Bây giờ vợ con ông ra sao?"

"Nhà tôi và hai cháu hiện kẹt ở Cam Ranh."

"Ông chạy hai phùa như vậy, lại nằm trên tầu Mỹ về đây thì chắc là nhược lắm rồi. Bây giờ tôi lo cho ông vài bộ quân phục, tẩm bổ lại cho ông vài ngày. Tôi sẽ đánh công điện về Bộ chỉ huy, ông ở đây cứ tùy nghi."

"Thiếu tá lo cho tôi một chỗ trong chuyến bay tiếp tế về Sài Gòn."

"Về làm gì? Đợi dăm bữa nửa tháng cho ra môn ra khoai rồi hãy về đâu có muộn."

"Tôi nóng ruột lắm, ông cho tôi về biết đâu trời dun rủi cho có cách tìm lại vợ con."

"Nói thật ông biết là mình thua rồi. Bây giờ mình chỉ mất dần đi chứ không có lấy lại được mảnh đất nào. Ông có biết ông là ai không? Ông có biết ông đang ngồi ở Phú Quốc, chỗ mà bẩy, tám năm trước ông thành danh là Hai Râu không? Việt cộng nó vồ được ông nó thích lắm đó."

"Ông cứ giúp tôi một chỗ bay về để nghe ngóng tình hình vợ con tôi."

"Chính bởi vợ con ông kẹt ở Cam Ranh, tôi mới nói ông ở đây, phút chót mình còn leo lên tầu Mỹ, tầu của Hải quân mình, cùng lắm là ở đây thiếu gì thuyền để mình dọt. Mẹ kiếp tướng tá của mình nằm ở Guam cả trăm, còn vợ con các xếp nằm ở đó cả ngàn rồi, ông có biết không?"

"Không còn vợ con thì còn bố mẹ, ông cứ lo cho tôi máy bay đi."

"Tôi nói thật với ông, doanh trại Tiểu đoàn 14 Quân cảnh trước, bây giờ là chỗ tiếp nhận mấy anh làm cho Mỹ như đám D.A.O., mấy anh làm Đài phát thanh "Gươm thiêng cứu quốc", "Mẹ Việt Nam"v.v... Mỹ sẽ bỏ của chạy lấy người. Mà mình thì lấy gì mà đánh đấm. Tôi đã đưa toàn gia ra ngoài này. Tôi lấy cái tình cũ ở Tiểu đoàn 2 Quân cảnh nói với ông, ở đây đi Mỹ với tôi. Ông còn trẻ, còn có thể làm lại cuộc đời bên đó."

"Tôi biết là Thiếu tá quý tôi lắm mới giãi bầy gan ruột, nhưng ông cho tôi về Sài Gòn, ông không lo hộ thì tôi đi ghe về Rạch Giá, rồi đi xe đò về Sài Gòn. Tôi không thể ngồi ở đây được đâu."

Mặt ông Mạc lạnh tanh lại, ông nói:

"Được rồi, ông về Sài Gòn. Ở đây với tôi một tuần, mỗi ngày ăn một con gà cho người mập lại một chút. Về Sài Gòn với thân hình này để mà nhát thiên hạ à?"

Chúng tôi cùng im lặng, chừng như thấy mình hơi quá lố, ông Mạc hỏi tôi.

"Ông có chơi với Nguyễn Đình Thiều không?"

"Thiều Quân cảnh hả?"

"Không, Thiều nhà văn Không quân ấy."

"Không, tôi chỉ biết, quen sơ sơ thôi chứ không thân. Nhưng có gì không."

"Hắn chết rồi, tôi tưởng các ông nhà văn, nhà thơ dễ biết nhau. Hắn bị Không quân đưa ra đây để cai ma túy. Hắn chết vì bệnh, vì đủ mọi thứ phá nát cả người. Hắn mới chết chừng hơn vài tuần. Mộ của hắn cũng gần nghĩa địa tù. Nếu ông thân với hắn, tôi bảo thằng cốt đột của tôi lái xe đưa ông đi thăm, không thân thì thôi."

Tôi nghĩ đến danh từ "Nhà văn Không quân" mà ông dùng. Ông Mạc chắc cũng gọi như người ta đã từng quen miệng khi nói tới các nhà văn, nhà thơ gốc quân đội. Cái chữ "Nhà văn Quân đội", "Nhà thơ Không quân", "Nhà văn Mũ đỏ", "Nhà thơ Hải quân" này nghe giễu không thể tưởng được. Cũng may tôi chưa bị ai gọi là "Nhà thơ Quân cảnh". Cứ nghe như thế là người ta hình dung ra được một cậu, phùng má trợn mắt thổi cái tu huýt, thơ phú thì sặc mùi bắt bớ với quân phong quân kỷ. Cũng may thơ phú tôi dài thậm thượt, lại chuyên trị về tự do, đả phá những thành đồng vách sắt đại loại được gọi là thơ tranh đấu. Nói dại nếu mà được phe nhóm thổi lên thành một "nhà thơ Quân cảnh" thì chắc tôi cũng xấu hổ mà chết. Cũng vì những sản phẩm "Quân đội" này mà chúng ta có một chính sách chiến tranh tâm lý rất ư lạ lùng. Nó mị quân một cách trơ trẽn. Những anh thợ hát phùng mỏ gân cổ lên hát những bản nhạc thối hoăng cả lên, làm cho người ta ngộ nhận về quân đội không ít. Kịp đến khi hiểu "hoa cài thép súng", hay "trăng treo đầu súng" gì đó nó không thật, nhiều cậu bé thơ ngây bỏ cả hoa, bỏ cả súng, bỏ cả trăng và dĩ nhiên bỏ cả quân phục. Ông Mạc cắt ngang sự suy nghĩ của tôi:

"Ông còn muốn về Sài Gòn nữa không?"

"Chắc chắn tôi phải về, Thiếu tá."

"Nghỉ khỏe vài ngày đi, tôi lúc này bận mờ người, phần phải lo cho cái trại cai ma túy, phần phải đối phó với hoàn cảnh thực tại. Tôi đã dặn người lo cho ông đủ mọi thứ, ăn ở. Ông ở tạm đây vài ngày. Bây giờ tôi phải đi lo công việc. Có mấy chiếc Jeep thì hư hỏng không có cơ phận thay thế, còn có một chiếc tôi dùng, một chiếc để điều hành đơn vị. Ông cần đi đâu cứ bảo tụi nó lái cho ông đi rồi đón về."

"Tôi chắc chẳng đi đâu đâu, Thiếu tá."

"Nghe nói hồi xưa ở đây ông quen tới mấy cô y tá, quen cả con ông chủ vựa cá, vựa nước mắm mà."

"Mấy cô y tá quen cả nước Quân cảnh Phú Quốc chứ riêng gì mình tôi. Còn thú thật, tôi mà chịu nổi mùi vựa nước mắm thì tôi đã tình nguyện ở đây luôn rồi."

"Phụ nữ thì mười vị đã có tới sáu vị là hũ mắm rồi, có bê một hũ cũng đâu có sao?"

"Xin lỗi Thiếu tá, giá nó là một hũ mình chịu được, nhưng nó là một vựa cơ mà."

"Ông có lý. Thôi tôi dọt."

Ngày N + 18, 12 giờ trưa.

Tôi vừa đẩy cửa bước vào văn phòng, Thiếu tá Mạc nói ngay:

"Tôi bảo nó dọn sẵn cơm cho ông rồi. Xin lỗi tôi phải ăn với gia đình. Ông cứ tự nhiên."

"Có cơm ăn là quí rồi. Tôi vừa nóng ruột, vừa sót bụng."

"Chiều nay đi coi xử tử không?"

"Bộ có đặc công Việt cộng trà trộn vào bị bắt hay sao Thiếu tá?"

"Không phải, một thiếu úy và một binh sĩ Thủy quân Lục Chiến."

"Tại sao?"

"Trên mấy chiếc tầu chở nạn nhân chiến cuộc từ vùng I vô, có nhiều vụ cướp của, giết người và hiếp dâm. Có vụ xẩy ra ngay giữa ban ngày. Giết người vứt xác xuống biển. Trước khi tầu cập bến, Hải quân Mỹ đã liên lạc về đây nên khi xuống tầu, mọi người đều bị khám xét, có một số nạn nhân chịu nhận diện thủ phạm. Hai người bị tố cáo không biết có giết người không? Có hiếp dâm không? Nhưng trong ba lô họ có cả mấy trăm lượng vàng."

"Thế thì xử tử là phải. Nhưng quá trễ. Nước mình trong thời chiến hai mươi năm, tôi thấy tòa án quân sự 95% chỉ xử tội đào ngũ, biển thủ v.v... Dường như tòa quân sự mặt trận mới mở có vài lần. Một lần xử tử mấy anh Thượng Fulro, một lần xử tướng Vũ văn Giai cái hồi 72, xử huề. Đáng lẽ mình phải xử tử vài anh tướng, cho về hưu độ hai mươi, ba mươi anh tướng khác, cách chức một số đại tá. Nếu năm năm trước mình đã làm như vậy thì hôm nay chưa chắc đã như thế này."

"Ông có muốn đi coi không?"

"Không, tôi nản cái vụ đó lắm. Ngày mai có máy bay không Thiếu tá?"

"Không. Chiều nay có một chuyến nhưng chắc là không kịp. Ba ngày nữa mới có chuyến khác."

*

Ngày N + 18, 3 giờ chiều.

Thượng sĩ Nhu, nhân viên cũ của tôi tám năm về trước lại thăm. Ông ta xin tình nguyện phục vụ ở đảo luôn ba năm tới ngày giải ngũ. Ông có hai con đã lớn, gái thì có chồng, trai thì đã đăng lính. Trước kia nhiều lần tôi bị mang tiếng oan là đánh tù cũng bởi ông này. Ông hỏi tôi về tình hình chiến sự cũng như những bạn đồng ngũ cũ. Tôi nhờ ông liên lạc cho tôi biết ngày giờ của ghe chạy đường Phú Quốc Rạch Giá, đề phòng trong trường hợp vì lý do nào đó không thể có chỗ máy bay.

*

Ngày N + 18, 5 giờ chiều.

Tôi ngồi bó gối trên nền nhà cũ. Căn nhà tranh đã mất dấu, nhưng thềm xi măng còn nguyên. Chính nơi đây, trên cái thềm nhà này bẩy tám năm trước, chúng tôi, một số những sĩ quan trẻ của miền Nam, có thể gọi là ưu tú bởi vì trong số đó: cử nhân triết Trần Lam Giang, cao học khoa học Trương Hồng Sơn, cao học luật Nguyễn Quốc Súy. Tốt nghiệp đại học sư phạm Hoàng Phùng Quyền, Cao Huy Tào, Lê Thừa Nghiệp... Chúng tôi mở một trận chiến khác với tù binh Việt cộng. Thành thực mà nói, trận chiến này không sòng phẳng với cả hai phía. Tôi thích trận chiến ngoài mặt trận hơn. Thắng là thắng, thua là thua. Dĩ nhiên thắng và thua được cộng trừ bởi những thây người. Thắng bởi ưu thế về hỏa lực, về nhân số, về địa hình, về phẩm chất binh sĩ và sau cùng là khả năng của cấp chỉ huy cộng với một chút may rủi của Trời. Trận chiến nơi chót cùng hải đảo này khác hẳn. Nó không sòng phẳng, bởi lẽ, cho dù chúng tôi là những binh sĩ, những sĩ quan coi tù, chúng tôi cũng chỉ là những tù binh không hơn kém. Chúng tôi có một chút thoải mái ở ngoài hàng rào. Nhưng chúng tôi là một tập hợp những con người buồn bã, bởi trong tâm khảm mọi cá nhân nơi đây, ngoại trừ một số người hiếm muộn được chọn lựa để có những ngoại bổng, để có những chức vụ làm bàn đạp cho địa vị tương lai. Hễ thấp cổ bé miệng, hễ bị phạt là trực chỉ Phú Quốc. Bởi vậy, mọi quân nhân mong trả nợ hết một năm về lại đất liền. Không một người nào ý thức được vị trí mình. Phía tù binh thì khác hẳn. Chúng xa hẳn được cái không khí chết chóc, thiếu ăn mất ngủ trong rừng. Không sợ pháo, không sợ B52, không sợ tải đạn, vận lương, giao tranh. Chúng ung dung ăn cho mập, bồi bổ lại sức khỏe của những năm chật vật, mò mẫm trong rừng. Chúng được bảo vệ bởi những cố vấn Mỹ, bảo vệ chúng như một bảo đảm cho những phi công Hoa Kỳ bị rơi ngoài Bắc. Chúng đông hơn mười lần chúng tôi, chúng ở trong hàng rào, ngày ngày làm tạp dịch vài tiếng đồng hồ vớ vẩn, cơm no, tối về học tập. Chúng giữ vững hàng ngũ, tổ chức bằng cách lâu lâu lại biểu tình bãi thực một lần, lâu lâu trừng trị một vài tù binh để củng cố lại hệ thống đảng, đoàn ngũ. Còn chúng tôi cố gắng chu toàn bổn phận chúng tôi, giảm thiểu tới mức tối đa những hành động vi phạm kỷ luật, những vụ đào thoát, trốn trại, thanh trừng.

Ở nơi đây bẩy năm trước, tôi xót xa nhận thấy phẩm chất binh sĩ của chúng tôi nó rời rạc vô hồn. Và ngược lại trong hàng rào, chúng là những thí dụ tuyệt hảo về những phản ứng có điều kiện của Pavlov: chuông rung, đèn sáng lên, hạch nước miếng hoạt động. Chúng tôi, một số rất ít những người trẻ tuổi có thao thức tới vị trí của mình, có suy nghĩ đôi chút đến tương lai miền Nam như Trương Hồng Sơn, Trần Lam Giang, đã lúng túng giữa hai thái cực.

Chính tại thềm nhà cũ này, chúng tôi bàn cãi tranh luận, họp hành đủ mọi thứ chuyện. Từ công vụ cho đến đời sống riêng tư. Bây giờ nhà cũ đã phá, nền cũ còn đây. Những hàng rào kẽm gai nghiêng ngả, tù binh đã trao đổi hết từ đầu năm 73, bây giờ những người tù binh cũ đó cùng với đồng bạn của chúng, đang dồn ép miền Nam trong trận chiến cuối.

*

Ngày N + 18, 6 giờ chiều.

Tôi ghé thăm trường tiểu học "Vườn Hồng", di sản thứ hai của tôi sau cái nhà nhỏ trên đỉnh đồi. Không giống như cái nhà chỉ còn nền, trường học được mở ra khi quân số Quân cảnh ở đây lên tới hai tiểu đoàn, một số binh sĩ mang vợ con ra ngoài này ở. Cả xã An Thới có một ngôi trường của ông cha đạo chỉ vỏn vẹn hai lớp vỡ lòng. Tôi đã sử dụng quyền hành lấy một số tù binh vào rừng đốn cây, cắt tranh và làm một ngôi trường có bốn lớp học.

Tôi đề nghị với xếp, cắt cử bốn quân nhân Quân cảnh mặt mũi sáng sủa, có bằng Trung học, khỏi canh gác, khỏi dính líu với trại giam. Làm thầy giáo bất đắc dĩ. Dần dần tới bốn Tiểu đoàn Quân cảnh, học trò nhiều thêm. Bộ Quốc gia Giáo dục sát nhập trường này vào hệ thống giáo dục của ty Tiểu học Kiên Giang. Trường vẫn giữ tên cũ do tôi đặt "Vườn Hồng" và dưới cái bảng gỗ tên trường, tôi đã viết hai câu thơ:

"Khi sương mai long lanh trên đọt cỏ
Là lúc vườn hồng hé nở nụ tươi."

Tấm bảng tên trường, hai câu thơ cũ vẫn còn đó. Cổng mở, các cửa lớp đóng kín. Tôi lững thững bước vào sân, vẫn còn những cầu tuột, xích đu, tất cả đều là những sản phẩm do tôi cung cấp. Không biết những học trò nhỏ đầu tiên bây giờ ở đâu? Các em hẳn đã theo bố mẹ về đất liền, bố mẹ các em, chắc có người tùng sự tại vùng I, vùng II. Cầu mong cho tất cả các em đừng có ai nằm xuống ở dọc đường.

*

Ngày N + 19, 10 giờ sáng.

Hôm nay ngày 6-4-75. Tôi nóng ruột một cách kỳ lạ, tôi đi lững thững trên con đường mòn dẫn ra bãi Kem, một bãi biển tuyệt đẹp, nằm cách trại giam chừng hai cây số. Tôi bắt gặp rất nhiều dân tị nạn đặc biệt cũng đang phơi mình tắm nắng ở đây. Họ là nhân viên của các cơ sở Mỹ, có danh sách ưu tiên di tản vì sợ nguy hiểm đến tính mạng một khi Việt cộng chiếm được miền Nam. Những người này sướng thật. Phục vụ chính nghĩa của miền Nam, nhưng lãnh tiền của ngoại quốc vừa nhiều, vừa an toàn. Chẳng phải trận mạc, bom đạn gì cả, lãnh lương gấp năm, gấp mười những người đang đổ máu ở ngoài mặt trận. Mới hơi nguy hiểm đã được bốc ra chỗ an toàn. Trong đất liền bây giờ, động dạng một chút là họ đã vù ra tầu Mỹ. Bây giờ họ đang cười đùa ầm ý, họ đang giỡn sóng, trong lúc cả nước đang ngập mặt vì lửa cháy, đạn bay, và những thây người ngã gục.

Trong đám người này cũng có những người buồn thật vì phải bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ địa vị ăn trên ngồi trốc, lên xe xuống ngựa. Nhưng cũng có những người ra dáng là mình khôn ngoan, chọn được một vị trí đúng trong khi chống cộng. Bởi vì bước sắp tới của họ, là vĩnh viễn bỏ lại quê nhà, cái nơi chỉ có máu và nước mắt. Những người đó chắc trong vài năm nữa sẽ ghê tởm nước mắm, sẽ bịt mũi trước mắm nêm. Bây giờ họ đã ra dáng là người Mỹ lắm rồi. Cứ trông những cái nhún vai, cứ trông những cái máy ảnh họ đeo lủng lẳng ở cổ, cứ trông những quần áo được mua từ các P.X. Mỹ là đủ biết.

Họ đâu cần biết chỉ cách họ một bãi đất trống, một hàng rào kẽm gai, trong những khu giam giữ tù binh cũ, có mấy chục ngàn đồng bào của họ đã tan cửa, nát nhà, đã trải qua cùng cực của khổ đau trước khi đến được chỗ này, đang chờ đợi một chút tin lành cho đất nước. Nếu có được chút tin lành này, họ sẽ xin được trở về chốn cũ đã phải bỏ đi, để xây dựng lại từ đầu, khởi đi lại từ đổ vỡ cũ. Tình hình này chắc chắn chỉ có tin dữ. Tôi bước dọc bãi biển. Những hàng dương rạp theo gió.

Leo lên một ghềnh đá cao, tôi nhìn về phía nam đảo, bắt gặp một phiền muộn khác. Một căn nhà bề thế trên một đảo nhỏ đối diện với mũi ông Đội. Hòn đảo này bề dài chừng hơn một cây số, và căn nhà ngời sáng dưới ánh mặt trời. Đó là căn nhà mát của Đại tá Nguyễn Ngọc Thiệt, cựu Chỉ huy trưởng Quân cảnh hay đúng hơn cựu xếp xòng binh chủng. Chắc hẳn những vật dụng để xây cất căn nhà mát này không thể mua và mang ra từ trong đất liền. Nó phải là vật liệu tại chỗ. Những tôn, xi măng, gạch, ngói đó phải là một phần nào vật liệu để xây cất trại giam, để xây cất khu gia binh, để xây cất nhà thương, trường học v.v... Tôi nghe nói Đại tá Thiệt còn có một quán ăn đẹp kinh khủng ở mũi Né Phan thiết, xây cất như một lữ quán trên xa lộ Mỹ. Và thỉnh thoảng có dịp đến cư xá Lữ gia để thăm bạn, tôi đi qua nhà riêng của Đại tá Thiệt. Nó giống như một ốc đảo đặc biệt nổi lên giữa những vi la khác, nó có đủ cái hợm hĩnh của non bộ vĩ đại với vòi nước phun, với tượng và đủ những cái "kỳ dị" khác. Đây mới chỉ là tài sản của một Đại tá lo về quân phong, quân kỷ và ngành tư pháp của quân đội. Hèn nào ông Kỳ có một cái trại hàng trăm mẫu ở Khánh dương. Ông Khiêm có một lâu đài ở Đà Lạt. Ông Thiệu cũng đang sửa soạn một miếng đất ngon nhất, đẹp nhất và dĩ nhiên lâu đài cũng phải bự hơn của ông Khiêm ở Đà Lạt. Ông Viên có nhà mát ở Vũng Tầu. Các tướng hét ra lửa, mửa ra khói ở miền Nam, mỗi ông đều có một cái gì đó ở Sài Gòn, Đà Lạt, Nha Trang, Vũng Tầu, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Cần thơ.

Cái thời của vua, chúa đã qua, bây giờ là thời của các ông tướng. Mỗi ông do những thỏa hiệp ngầm với nhau, do sự đồng ý với người Mỹ. Nói cho đúng hơn do sự đẹp lòng với người Mỹ, vừa được ăn trên ngồi trốc, nắm quyền sinh sát một vùng. Hồi tưởng lại cái thời cũ, cái thời quân đội Pháp, có ông còn là đội, là cai, có ông là trung úy, đại úy trông thấy Tây là sợ, trống ngực đánh như trống làng. Hai mươi năm qua đi, thời cuộc đẩy các ông lên nắm quyền uy tột đỉnh. Phu nhân của các ông, có bà trước kia bán cháo, bán chè ở ngoài hàng rào trại binh, bây giờ đã đọc diễn văn, đã họp báo với một mớ kiến thức hổ lốn của nồi chè hai mươi năm trước.

Miền Nam quả là đã đến hồi mạt vận.

*

Ngày N + 19, 2 giờ chiều.

Ghé văn phòng ông Mạc để hỏi vụ phi cơ, và được trả lời từ bây giờ chỉ biết trước khi nào phi cơ sắp tới. Điệu này chắc tôi sẽ đi ghe về Rạch Giá rồi đáp xe đò về Sài Gòn. Thượng sĩ Nhu, nhân viên cũ cho tôi biết ghe đi Rạch Giá có hàng ngày. Khởi hành ở An Thới vào hồi sáu giờ chiều, sáng hôm sau đã tới Rạch Giá. Tôi quyết định ngay chiều nay sẽ vĩnh viễn giã từ Phú Quốc.

Ghé văn phòng Thiếu tá Mạc để từ giã. Nhưng không gặp, nhờ một hạ sĩ quan Quân cảnh lái xe đưa ra chợ An Thới, hắn tưởng tôi đi thăm người quen, đến khi biết tôi muốn đi ghe về Rạch Giá, hắn có vẻ ngậm ngùi. Ngang qua chợ An Thới, những căn nhà lụp xụp của tám năm trước đã thay đổi gần hết, tôi thấy một số người quen cũ. Cứ trông dáng điệu là đủ biết họ không còn là ngư dân thuần túy nữa.

Thôi giã từ tất cả, vĩnh biệt nền nhà cũ, mái trường xưa. Không biết rồi đây khi sương mai long lanh trên đọt cỏ, có còn nụ hồng nào để hé nở nữa không? Giã từ bãi Kem, mũi ông Đội, những di tích của Gia Long trong thời tẩu quốc. Giã từ chợ An Thới, cùng với những ngư dân mỗi ngày mỗi xa biển hơn, giã từ luôn cả những vựa nước mắm, kể cả cô Lài, cô Lý, cô Huệ, cô Bông của một ngày nào tám năm trước. Và sau cùng vĩnh biệt một phần đời sôi nổi nhất, hào hứng nhất, thi vị nhất, phũ phàng nhất, lý tưởng nhất, và chó đẻ nhất của tôi ở phần đất này.

*

Phần 3
Sài Gòn - Subic Bay

Ngày N + 20, 5 giờ 30 sáng.

Ghe lớn cập tại Hòn Tre, còn cách bờ, cách Kiên Giang một khoảng nước nữa. Chỗ này nước thấp, đáy biển có những luồng cát bất ngờ, ghe lớn hay mắc cạn, tôi chuyển xuống một ghe nhỏ, nhỏ như chiếc ghe tôi đã cưỡng bách ra biển ở Tuy Hoà. Trời vẫn còn tối, chỉ có tiếng máy nổ của cái máy đuôi tôm, và tiếng đập của quả tim. Rồi một thoáng bâng khuâng tới Nha Trang, Cam Ranh, không biết giờ này vợ con tôi đang làm gì? Những gì đã xẩy ra ở nơi có những người thân yêu nhất? Ba ngày nay, tôi như bị bỏ quên, bị gạt hẳn ra khỏi cái thế giới kinh hoàng của cuối mùa trận chiến. Tôi tránh hẳn cả việc nghe tin thời sự của đài BBC, VOA. Tôi như một người khác, ngu ngơ, đần độn, ngớ ngẩn. Tôi oán trời, trách đất, nguyền rủa con người. Tôi cáu giận chính tôi, khinh miệt chính tôi, và cũng chẳng tin một mảy may vào Phật, Chúa. Đã đến lúc bách điểu chia ly, trăm hoa tàn tạ, vũ trụ chìm trong cảnh tĩnh mịch. Những tia sáng đầu tiên lan nhanh trên mặt biển. Cảnh bình minh trên mặt biển bao la, bát ngát. Tôi đã nhiều lần nhìn mặt trời lên, mặt trời lặn ngoài biển, đã từng chờ trăng nhô cao khỏi mặt nước. Mỗi lần mỗi khác, tùy thuộc chỗ mình ngắm là núi, đồi, biển khơi hay rừng rậm, nhưng nó cũng tùy thuộc nơi lòng mình vui buồn. Có một điều chắc chắn những lúc bắt đầu và chấm dứt của một ngày, những lúc khởi đầu của bóng trăng bao giờ cũng đẹp. Cái đẹp của thiên nhiên thay đổi với cảm nghĩ con người, có lúc nó hùng vĩ, có lúc nó lãng mạn, và đôi lúc thê lương, ảm đạm.

Buổi sáng nay, mặt trời đỏ rực rỡ vừa nhô lên khỏi mặt nước, ánh sáng nhờ nhờ biến đi, lập tức mầu chu sa choán đầy mặt biển, nước đổi mầu trong một sát na, biển trở thành một biển máu. Đẹp như cảnh tượng phim kinh di, đẹp lạ thường, hôm nay tôi nhìn mặt trời mọc không phải với tâm trạng của thi sĩ, cũng không phải tâm trạng của tráng sĩ, hôm nay tôi ngắm nó với tấm lòng của kẻ bại trận, thê lương, ảm đạm biết chừng nào.

Xuống bến như một kẻ mộng du, tôi đi giữa những phố trệt còn ngái ngủ. Cái nhộn nhịp trên bến dưới thuyền của bẩy năm trước còn đâu? Tôi nhớ những lần tôi tới rong chơi đây một ngày, cũng không hẳn rong chơi, đến để xả những dồn nén sinh lý trong một căn nhà nào đó, trên một thân thể nào đó. Đến bằng những chiếc P.C.F. (khinh tốc đỉnh) đầu tiên của vùng IV duyên hải, những chiếc tầu chạy như ngựa tế một mạch Phú Quốc - Rạch Giá chỉ trong hai giờ đồng hồ, cả bọn xuống phố chợ kiếm vài chai bia, vài cút rượu, tọng vô họng, rồi chui tọt vào một xó nào đó, kiếm một căn nhà nào đó, một cô gái làng chơi nào đó rồi để cho cái thú tính, không phải... để cái phần người nhất làm việc. Tất cả gồm trong bốn, năm giờ đồng hồ, rồi lững thững xuống tầu, tế một mạch về đảo, về với những hàng kẽm gai nghiêng ngả, với những bộ áo nâu của tù, xanh của lính. Về với nỗi phiền muộn đã được gói ghém trong câu thơ sau này nhiều binh sĩ Quân cảnh thỉnh thoảng còn đọc cho nhau nghe với nụ cười hồn hậu. Hồn hậu bởi họ không cảm nhận nổi nỗi buồn của tôi:

Ngàn năm Phú Quốc nhớ hoài.
Tù trong là giặc, tù ngoài là ta...

Hôm nay tôi xuống bến Rạch Giá với cõi lòng bùi ngùi của kẻ tử tù, mà cái gông thì chập chờn trước mắt.

*

Ngày N + 20, 3 giờ chiều

Xe đậu ở đầu cầu Bến Lức, chốn này đây tôi đã qua chơi mười bẩy năm trước, khi vừa đậu Trung học, được ông anh Cả dắt theo công tác giáo dục cộng đồng. Trong quán ăn, tôi đã được thưởng thức lần đầu canh cải bẹ xanh mà người ta đập vào hai trái trứng, đó là một trong những món canh ngon nhất với khẩu vị tôi. Chẳng những ngon mà còn là một hòa hợp mầu sắc tuyệt hảo. Giữa mầu xanh của cải bẹ, hồng của thịt nạc, trắng của lòng trắng và mầu vàng của lòng đỏ. Dường như tôi đã yêu Bến Lức, Long An qua tô canh này. Mười bẩy năm đã qua, tôi không được làm việc ngày nào ở đây, nhưng mỗi lần đi qua là một lần nao nao trong dạ.

Hôm nay, nhường chỗ cho sự nôn nao thương nhớ, là những xót xa, trắc ẩn. Xót xa chở đầy trên những ghe, thuyền đậu chi chít trong lòng sông. Cả đến những cái ghe này hôm nay cũng khẽ dập dìu trên nước, cũng neo chặt một chỗ, cũng ngơ ngác vô hồn. Những trẻ em bán mía ghim, những cô gái bán khóm, trái cây, bán chim đều biến mất. Thay vào đó là những chướng ngại vật trên đường, những phuy săng sơn trắng, sơn đỏ, đổ đầy đất nằm giữa quốc lộ, tạo thành những lối đi zic zac, cùng với những con ngựa gai chằng chịt, những ụ súng đầy bao cát, và những người lính có vẻ lo âu của những con chim bị cháy rừng, bị động ổ.

Suốt từ sáng tới giờ hầu như đối với tôi, sông rạch của vùng IV, ruộng đồng của vùng III, tất cả như đang chờ một điều gì đó sắp bùng ra. Tất cả như co mình cho nhỏ lại, chờ đợi một tai họa sắp sửa chụp xuống. Dường như tất cả mọi người đều biết tai họa đó là gì, điều mà họ bồn chồn lo lắng chính là tai họa đó sẽ lớn cỡ nào?

*

Ngày N + 20, 5 giờ chiều

Con đường của hai mươi năm trước, mười hai năm trước, năm năm trước xuất hiện trước mặt. Hai cây trứng cá cha tôi trồng mười lăm năm trước đang đầy hoa và trái. Lớp trẻ con cũ trong xóm đã lớn, đã đội nón đỏ, nón xanh và đang ngu ngơ đâu đó trong cơn bão lửa. Lớp trẻ hôm nay là những đứa đã chào đời khi tôi vừa nhập ngũ, tuy nhiên người thì có khác hơn câu: "Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi". Tôi có xa nhà nhưng không phải ly hương, biệt vô âm tín như tâm sự của thi sĩ. Và hôm nay trở về cũng chưa là lão đại về tuổi tác, nhưng tâm hồn tôi "lão đại" hơn cả "lão đại" thi sĩ. Bởi khi ông về thì chiến tranh đã dứt, có cái bâng khuâng, bùi ngùi của cuộc chiến tàn. Nhưng vẫn có một chút hy vọng qua cái cười của lũ nhỏ hỏi ông ở đâu tới. Cái không khí của thơ Đường trong bài thơ đó kết thúc bằng hy vọng sẽ không còn chết chóc, không còn ly hương, chiến tranh thật sự sẽ không còn ngự trị nữa. Nhà sẽ không còn cháy, người sẽ không còn ngã. Chiến tranh thời xưa khác. Dứt là dứt hẳn, không còn tù đày, không còn chết chóc. Nhưng chiến tranh hiện tại khác hẳn. Dứt là có một bên bại. Kẻ thắng cười ngạo nghễ, định đoạt số phần của kẻ bại. Phe thắng trận sẽ nhân danh hàng trăm thứ để cưỡng đoạt tài sản, bắt bớ, tù đày, hành hạ, loại trừ phe thua. Chỉ một vài câu hỏi của những đứa trẻ đã làm "Hạ Tri Chương" xúc động, xuất thần trong một phút, và hậu thế chúng ta có được một bài thơ tứ tuyệt "Hồi Hương Ngẫu Thư" tuyệt vời.

Lũ trẻ trong xóm hôm nay, không có đứa nào hỏi tôi từ đâu tới, chúng vẫn chơi đùa hồn nhiên. Nhưng cái xóm cũ, nơi mà tôi đã dàn trải suốt cuộc đời niên thiếu, nơi tôi đã nghịch ngợm, leo trèo, chạy nhảy, đá bóng. Nơi mà tôi nhớ từng viên gạch, từng cái cống, từng căn nhà, từng đống rác đó đang run lên. Cả cái cư xá đó như muốn thay mặt cho đám trẻ con hỏi han tôi, an ủi tôi nên vì đó mà hai cây trứng cá cha tôi trồng ngày cũ, đã nương một cơn gió nhẹ, thả những cánh hoa nhỏ mầu trắng, thả những chiếc lá khô, trước khi nghiêng cả cái thân hình xum xuê hoa lá đó đón chào chủ cũ mệt mỏi trở về.

Không có gì thay đổi dưới mái nhà tôi càng ngày càng quạnh quẽ. Cha tôi vẫn nằm trong cái võng kết bằng dây dù tôi mang từ đảo Phú Quốc về. Giờ này là giờ ngủ buổi chiều trước khi ông dậy đi làm tối, cái kính lão xệ xuống sống mũi, tờ báo úp trên ngực, dưới sàn nhà một quyển Tiếu Ngạo Giang Hồ nằm tênh hênh trên nền gạch bông. Có một linh cảm nào đó giữa cha và con, nên ngay khi tôi sắp bước chân qua ngưỡng cửa, ông đã choàng dậy. Ông bỏ hẳn kính xuống, nhìn tôi một cái nhìn sâu thẳm, trước khi hỏi dịu dàng từ tốn:

"Anh mới về hả? Chị với các cháu đâu?"

"Nhà con và các cháu kẹt ở Cam Ranh rồi."

"Anh tắm rửa, thay quần áo rồi ra đây cho cậu hỏi. Tội nghiệp các cháu tôi, chúng còn bé bỏng quá."

Mẹ tôi từ hàng xóm về, mới thấy bóng tôi trong nhà đã khóc nức nở. Cha tôi gắt một cách bực tức.

"Bà làm cái gì vậy? Con nó đã chết đâu? Chỉ sợ ít hôm nữa rồi không còn nước mắt mà khóc thôi."

Đây là một trong thật ít lần hiếm có cha tôi nói những điều từ ái với tôi. Thuở nhỏ tôi nghịch ngợm lêu lổng, bỏ học ngang chừng. Tôi đã làm bao nhiêu hy vọng của cha tôi tiêu tan, nên ông nghiêm khắc với tôi hơn với các anh tôi. Tôi biết cha tôi gắt mẹ tôi vì chính ông, ông cũng linh cảm sẽ còn rất ít thì giờ để nói với tôi những lời từ ái.

*

Ngày N + 20, 7 giờ 30 tối.

Tất cả các anh chị tôi đều có mặt, cả vợ chồng cô em gái tôi, người em rể vốn là bạn cùng lớp với tôi từ mười lăm năm trước. Đã ba năm nay, ngay cả ngày giỗ tết, gia đình tôi cũng không thể nào họp mặt đầy đủ, những người vắng mặt hôm nay là vợ con tôi. Chiều nay, tình cờ cháu con anh Hai tôi ghé thăm ông nội, thấy tôi về, nó tự động đi loan báo cho tất cả các anh chị tôi. Các anh mừng tôi với vẻ mặt rầu rĩ, các chị có người đã muốn khóc khi không thấy các con tôi. Phải mất hơn ba tiếng đồng hồ để kể tóm tắt những cuộc hành trình của tôi Pleiku Tuy Hoà, Qui Nhơn, Phú Quốc. Tôi nghe giọng tôi cũng giống hệt giọng của gã xướng ngôn viên đài BBC, đài Đông kinh. Nó giống như giọng người ta kể chuyện về đia ngục. Điều mà tôi buồn bã nhất, bực dọc nhất với chính tôi, là cả gia đình không ai trách tôi một câu về việc vợ con kẹt lại Cam Ranh. Mẹ tôi, các anh chị tôi khen tôi tháo vát, nhanh nhẹn, quyết định sáng suốt. Những câu khen ngợi này cay đắng biết chừng nào. Sau cùng cha tôi nói với các anh em tôi với một giọng nghiêm nghị:

"Cậu già rồi, trên lục tuần gần bẩy mươi so với các cụ, các bác trong họ kể là đã thọ. Gia đình mình cũng không còn lạ gì với cách hành xử của Cộng sản. Bọn chúng vào đây, sống được thì cậu sống thêm vài năm nữa, nếu không thì chỉ một cái tặc lưỡi là xong. Anh Cả ở trong ngành sư phạm chắc cũng không đến nỗi gì. Anh Ba là hạ sĩ quan quân y có tù đày cũng không lâu, chỗ đâu mà nhốt cả triệu người. Anh Hai, anh Tư và anh Năm rán mà tìm cách ra ngoại quốc. Riêng anh Năm thì giữ lấy một khẩu súng lục phòng thân, chúng vô đây, đi không được thì nên tự xử lấy. Cái tính của anh không thể ở tù Cộng sản được một tháng đâu. Đằng nào chị ấy với các cháu cũng kẹt ở Cam Ranh rồi, có một thân thì dễ xoay trở. Cậu mong các anh chị thoát thân được cả, nhưng tình hình này so với năm 54 khó gấp mười, gấp trăm. Ngày đó cậu cho anh Cả về quê thử sống với chúng vài tháng, thế mà ngay trong 300 ngày đình chiến đó, chúng chưa thò cái móng vuốt ra mà mình còn chịu không nổi, còn bỏ sản nghiệp, mồ mả tổ tiên vô Nam này. Bây giờ đâu có ngày nào đình chiến. Thua là kể như xong.

*

Ngày N + 21, 8 giờ 30 sáng.

Buổi sáng tôi đi trình diện Bộ chỉ huy. Tôi phải làm một phúc trình tổng quát cho đơn vị sau khi di chuyển. Sau đó phải tới Tiểu đoàn 5 Quân cảnh, ngay trước cửa phở Tầu bay, đó là nơi tập trung tất cả các quân nhân Quân cảnh thuộc quân khu I và II về được tới Sài Gòn, chúng tôi sẽ được phân phối tới các đơn vị khác. Cả Tiểu đoàn 2 Quân cảnh tập họp được hơn năm mươi người, con số về được Sài Gòn có thể nhiều hơn, nhưng có lẽ nhiều người không trình diện. Tiểu đoàn 1 Quân cảnh còn thê lương hơn nữa, hiện diện vỏn vẹn ông Trung tá Tiểu đoàn trưởng, và lèo tèo một dúm người không đầy một trung đội. Trại giam Đà Nẵng được bốn, năm người. Trại giam Pleiku một mình Đại úy Nguyễn Cao Thịnh và bẩy, tám binh sĩ. Và sau cùng đơn vị của tôi, trại giam Qui Nhơn hiện diện được đúng một tiểu đội không hơn kém.

Thân nhân các binh sĩ ùa tới các đơn vị trưởng hỏi thăm tin tức người nhà. Tôi muốn biến đi, chạy trốn trước hàng trăm câu hỏi. Tôi đáo nhậm đơn vị có ba ngày, ngay cả các sĩ quan còn chưa nhớ hết tên, chưa quen hết mặt, làm sao có thể trả lời những câu hỏi kèm theo những tiếng nấc não lòng. Một bà cụ trông phúc hậu, hiền lành đi cùng một cô gái đến hỏi thăm tin tức của Phúc. Tôi làm sao dám trả lời sự thật. Bà cụ dường như có được một người nào cho biết những ngày cuối cùng Phúc lái xe cho tôi, nên cứ đeo riết lấy tôi hỏi tới tấp. Sau cùng tôi phải nói dối là tôi thấy Phúc bơi qua sông chạy trước tôi, rồi từ đó tôi không gặp. Tôi muốn độn thổ bởi cái nhìn của cô gái không biết liên hệ thế nào với Phúc, cái nhìn dò xét, đo lường câu trả lời của tôi.

"Đại úy cứ nói thật đi, phải anh Phúc chết đuối rồi không?"

"Ai cho cô biết vậy?"

"Thì mấy người ở Qui Nhơn vào đó."

"Thế thì cô cứ tin mấy người đó đi. Hỏi tôi làm chi?"

"Đại úy là người lớn nhất. Tôi muốn Đại úy trả lời cho rõ."

"Tôi trả lời rồi. Tôi thấy Phúc bơi qua sông, rồi từ đó tôi với Phúc thất lạc."

"Mình về đi má, mấy người càng lớn càng lo cái mạng, ổng nói vậy thì biết vậy."

"Tội nghiệp nó hiền lành phúc hậu, ông trời sao mà ác quá, bắt nó chết không còn thây.
Trời ơi là trời, nhà tôi hồi nào tới giờ tu nhân tích đức. Sao mà chung cuộc thảm quá vậy?"

"Đại úy cho má tôi biết ngày nào anh Phúc rời Tuy Hoà."

"Tụi tôi rời Tuy Hoà ngày 2-4 hồi 11 giờ 30 sáng."

"Thôi mình về đi má, nếu ảnh không về thì mình cũng có ngày cúng kiếng ảnh rồi."

Tôi nhìn theo bóng hai người, bà cụ mặc áo dài mầu đen, áo cô gái mầu trắng. Hai cái mầu tang tóc đó nổi bật giữa sân cờ của Tiểu đoàn 5 Quân cảnh.

*

Ngày N + 21, 4 giờ 30 chiều.

Ra khỏi doanh trại Tiểu đoàn 5 Quân cảnh, tôi như trở thành một người khác, hết còn bận bịu với công vụ, phần của tôi đã xong, đơn vị tôi cũng như hàng vài chục đơn vị khác nhỏ hơn đã đóng quyển "Nhật ký đơn vị" lại. Tất cả quân nhân binh chủng tôi ở vùng I và vùng II bây giờ nhập lại thành một tiểu đoàn duy nhất, quân số cũng không đủ một tiểu đoàn, chờ trang bị lại. Phần tôi có một chức vụ "buồn cười" là sĩ quan đại diện Bộ chỉ huy Quân cảnh tại Quân vụ Thị trấn Sài Gòn. Dĩ nhiên là chẳng có việc gì để làm, vì ở Biệt khu thủ đô, có tới nguyên một tiểu đoàn Quân cảnh hoạt động. Càng tốt, đỡ phải vào Bộ chỉ huy hàng ngày là đủ vui rồi.

Cưỡi một chiếc Honda đi mượn, tôi chạy khắp Sài Gòn, và nghiệm thấy một điều cho tới bây giờ, ngày 8 tháng 4 năm 75, dường như Sài Gòn vẫn chưa có gì thay đổi, dân chúng có vẻ lo lắng nhưng không thái quá. Những chỗ ăn chơi vẫn đông như hội, kẻ có tiền vẫn vung qua cửa sổ mua lấy một nụ cười. Dường như họ cố tin rằng có một giải pháp trái độn, Mặt trận Giải phóng miền Nam sẽ có một khoảnh đất từ vĩ tuyến 14 trở ra, và tại vùng trái độn này sẽ theo đường lối trung lập. Có những người tỏ ra am tường hơn, và lập luận rằng Mỹ không thể nào bỏ được Việt Nam, nếu có bỏ cũng còn vài năm nữa, bằng một phương thức ôn hòa, nghĩa là sau cùng cả miền Nam sẽ trung lập trước khi bị xích hóa hoàn toàn. Có hàng trăm kiểu tin đồn, những tin đồn này làm điên đầu những kẻ muốn suy nghĩ, vì tin đồn nào cũng có một vài bằng cớ, một vài dấu hiệu đủ để bảo đảm cho những ai đa nghi nhất. Tôi được nghe hàng chục giải pháp, nào là Bảo Đại sẽ về nước, nào là đảo chánh để đưa thành phần thứ ba ra cầm quyền, rồi thì hàng chục nhân vật lăm le thành lập chính phủ.

Các tay tổ hoạt động chính trị sa lông xoay như chong chóng, các chính khách tên tuổi ngược xuôi như đèn kéo quân. Về phía quân đội, một số tỉnh trưởng nổi danh tham nhũng, bất tài bị thuyên chuyển, các sĩ quan tương đối có khả năng chỉ huy được bổ nhiệm thay thế. Không phải vì tình thế đã làm sáng mắt các ông Tướng của miền Nam, nhưng thật ra những kẻ có tiền đã chạy được khỏi chỗ chết, tránh xa được những vùng lửa cháy, đạn bay. Đến bây giờ tôi mới thấy thấm thía cái hoạt cảnh của thời Chiến quốc: Quan liêm nên làm mà không nên làm, quan tham không nên làm mà nên làm của Ưu Mạnh, khi diễn tả cảnh con cái của ông quan liêm Tôn Thúc Ngao.

Báo chí loan tin một Đại tá pháo binh trên đường rút lui về phía nam, thấy Nha Trang bỏ ngỏ hai ngày, mà chưa thấy một đơn vị Cộng Sản nào xuất hiện ngoài ngưỡng cửa thị xã. Quốc lộ 1 bi kẹt, ông Đại tá pháo binh này kéo quân vào Nha Trang, vãn hồi trật tự trong thành phố và tổ chức phòng thủ. Bây giờ tuyến đầu là Phan Rang, đây chính là nơi ông Thiệu ra đời, đây chính là nơi mà mọi tin đồn quy tụ vào chỗ giải pháp trái độn từ Phan Rang trở ra, lại cộng thêm với việc Nha Trang bỏ ngỏ hai ngày mà không có Cộng sản xuất hiện, cùng với việc ông Thiệu chỉ định Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi làm Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn III (quân đoàn I, II đã giải tán, những phần đất còn lại của quân đoàn II sát nhập vào quân đoàn III) Cùng đi với tướng Nghi còn tướng Nguyễn văn Sang thuộc Không quân, Bộ Tư lệnh Tiền phương được đặt ở Phan Rang, quê hương bản quán của ông Thiệu. Những sự kiện này làm cho luận cứ của giải pháp trái độn chắc chắn hơn, nhiều người thở ra nhẹ nhõm.

*

Ngày N + 22, 10 giờ sáng.

Hôm nay mồng 9-4-75, báo chí đăng tin tình hình chiến sự đột nhiên sôi động ở vùng IV. Suốt một tháng nay, cơn bão lửa thổi theo chiều bắc nam, nó ngừng lại ở Phan Rang, dễ chừng cũng đã bốn ngày. Dường như gió đã xoay chiều, nên vì đó chiến sự ở đồng bằng sông Cửu có những biến chuyển mới. Ở vùng đất này, Cộng sản không tấn công đại đơn vị, cũng chưa chiếm hẳn một vùng đất nào, nhưng chúng xuất hiện quấy rối ở khắp nơi, những địa điểm giao tranh, chạm địch cỡ đại đội, tiểu đoàn trải rộng ra trên khắp vùng lục tỉnh. Trên trang nhất của các nhật báo, những thay đổi về chính trị của miền Nam chiếm nhiều cột lớn: ông Đại tướng Thủ tướng của miền Nam Trần Thiện Khiêm và nội các của ông giải tán, dân biểu Nguyễn Bá Cẩn, Chủ tịch Quốc hội thành lập nội các mới. Nếu sự thay đổi nhân sự này xẩy ra vài năm trước, đó là dấu hiệu tiến bộ của dân chủ. Thế nhưng nó xẩy ra giờ này, lúc nguy kịch nhất của miền Nam, lúc giao tranh thập tử nhất sinh, những nhân vật lãnh đạo cần sự am tường, hiểu biết về quân sự hơn lúc nào hết.

Tôi nhớ tới một bài phiếm luận của Sức Mấy viết vài năm trước, khi dân biểu Nguyễn Bá Cẩn thay thế dân biểu Nguyễn Bá Lương làm Chủ tịch Quốc hội. Nguyên văn đoạn chót ông Sức Mấy viết tắt trong cái phim của ông: "B.C. mà thay B.L. thì cũng thế". Chỉ vài chữ ngắn ngủi đó ông Sức Mấy đã cho người đọc thấy cái nhân cách, cái khả năng của hai ông cựu và tân Chủ tịch Quốc hội, nói chi tới các dân biểu. Tôi nhớ tới những danh từ "dân biểu gia nô", "báo gia nô". Phải chăng những thứ "gia nô" này góp phần không nhỏ vào hoàn cảnh đất nước hiện tại. Các dân biểu trong quốc hội ngoài thành tích "buôn lịch cởi truồng", ngoài thành tích "không có đàn bà ai đẻ ra đàn ông", ngoài thành tích "tiếng chuông Thiên mụ, canh gà Thọ xương", và ngay cả những ông được gọi là dân biểu đối lập, đã có biết bao người "đối lập nằm vùng", "đối lập cuội". Họ đã giúp ông Thiệu trong mùa "ứng cử độc diễn" năm 71. Cách đây vài tháng, họ giúp ông Thiệu thông qua một tu chính hiến pháp cho ông Thiệu được ứng cử kỳ ba và nhiệm kỳ là năm năm. Bây giờ với "nhân cách" đó, với 'khả năng" đó, ông Nguyễn Bá Cẩn nhẩy vào tham chính, giữ vai trò nhân vật thực sự số hai của miền Nam.

Ông vốn xuất thân là một công chức cao cấp, do sự gật đầu không thắc mắc với tất cả những gì các ông tướng, các ông tỉnh muốn, ông nhẩy vào quốc hội. Ở nhà hát lớn trong vài năm, gật lấy gật để, gật không thương tiếc, ông nhẩy vào vị trí "gia nô" hàng đầu. Bây giờ ông nhẩy ra đóng chơi vở kịch liều mình cứu chúa, để ông Đại tướng Thủ tướng yên tâm rũ áo từ quan, về nhà phụ vợ sửa soạn va li. Hạm đội Mỹ hiện đang lởn vởn ngoài khơi, ở trong nước, chợ đã về chiều, còn gì mà không thu thập của cải đi lập nghiệp phương xa cho chắc dạ.

Bà Khiêm nổi tiếng là người buôn tần, bán tảo. Những món hàng bà bán đều không sờ được, chỉ gọi được có cái tên thôi, bà buôn bán lăng nhăng, dăm cái chức vụ tỉnh trưởng, quận trưởng, trưởng ty cảnh sát. Hàng của bà đâu có nhiều nhặn gì, bà đâu có đủ mặt hàng. Đã thế bà lại hay thăm viếng các quân nhân bị thương trong các quân y viện, những lúc thăm viếng như thế, bà sợ uy tín của chồng bị sứt mẻ, nếu ăn mặc luộm thuộm, nên bà có các chuyên viên làm tóc cẩn thận, phục sức kỹ lưỡng như các tài tử điện ảnh quốc tế, đeo nữ trang như các bà hoàng thuở xưa vì chồng bà làm... thủ tướng kia mà. Đâu có giản dị được. Có dạo bà phải bán đồng nát, đến độ bà mua được hết những cái vỏ đạn đại bác bằng đồng của cả quân đội, mua hết những dư liệu chiến tranh. Cái hồi bà buôn bán ở Long An, mấy thằng đàn em ông thủ tướng lăng xăng quá, dùng cả còi hụ của xe Quân cảnh mở đường, làm cho đàn em ông số một cáu quá, bắt lãng xẹt. Rồi để củng cố lại cái tinh thần thượng tôn luật pháp, một anh đại úy Quân cảnh và mấy thượng sĩ, trung sĩ cắc ké bị ra tòa, đi Côn đảo bóc mươi quyển lịch suy nghĩ chuyện đời. Bây giờ hàng họ của bà đã hết, đồng nát không còn, tình hình này miền Nam chắc chắn mất, đâu còn đánh nhau, đâu còn dư liệu chiến tranh để bà xuất cảng sang Nhật. Ông Thủ tướng từ quan là phải, ông đâu có tham quyền cố vị, ông muốn về nhà ở đâu đó bên Mỹ, bên Pháp gì đó, ở Thụy sĩ Thụy xiếc gì đó. Nước sắp hòa bình rồi, để cho ông Nguyễn Bá Cẩn lập nội các dân sự là phải rồi. Ông Thủ tướng Khiêm vốn là người thầm lặng, ông ở quân đội leo lên tới chức Đại tướng chẳng có tai tiếng gì, ông cũng không thích tuyên bố, cứ ngậm miệng làm việc, bây giờ đã đến lúc từ quan vui thú điền viên. Ông thật là người hiền, khi đất nước cần ông nhẩy ra gánh vác, khi đất nước yên, ông cáo lão trở về thơ thới, hân hoan. Miền Nam bất hạnh quá, có ít người tri túc như ông.

Bỏ tờ báo xuống, tôi đứng dậy ra ngoài. Giữa trưa hè của miền Nam, tôi tưởng chừng đang lần mò trong đêm tối.

*

Ngày N + 22, 5 giờ chiều

Ghé thăm vợ chồng chú em bên cư xá ngân hàng thuộc xã Tân quy đông, Khánh hội. Đan, tên chú em tôi vốn là con ông chú áp út, chú tôi vào Nam từ những năm đầu 40, khi cha tôi di cư vào Nam chú thím tôi mất sớm. Cha tôi mang cả anh em Đan, Hòa về. Đằng nào thì nhà cũng đã nghèo từ lúc di cư vào Nam, thành thử tuy là em, nhưng lớn hơn tôi vài tuổi, lại ở trong nhà từ ngày còn niên thiếu nên tôi quen gọi bằng anh, hệt như các anh ruột tôi trong nhà.

Đan kể cho tôi nghe về huyền thoại của một nữ bộ đội cấp Tiểu đoàn trưởng của Việt cộng miền Nam, chỉ còn có một vú vì hồi đánh Tây bị Pháp bắt, tra tấn đến nỗi mất một bên ngực. Dân chúng đồn đãi người đàn bà này đã chỉ huy một cánh quân chiếm đánh Lâm đồng. Cái mụ già một vú này đang đuổi đánh miền Nam cật lực. Tôi không lạ với những tin tức loại này, tôi càng không lạ với những huyền thoại mà cả hệ thống tuyên truyền Cộng sản đã thổi vào thôn quê, thành thị. Họ rỉ tai cho những người dân chất phác hiền lành, rồi một đồn mười, mười đồn trăm, có những tin đồn hệt như truyện thần thoại. Những Kim Đồng, Sáu Đậu trong chiến tranh Pháp Việt, những Nguyễn văn Trỗi của chiến tranh hiện tại, đều láo toét hết. Có thể có Kim Đồng, Sáu Đậu, Nguyễn văn Trỗi, nhưng truyện thực không xẩy ra như thế, tất cả đã được bóp méo, đôi khi dựng đứng hẳn thành một nhân vật đầy hào quang, đầy chính khí. Nghĩ xa hơn một chút, cái giặc Cộng sản đã nguy rồi, nhưng cái giặc dốt nát cũng nguy hiểm không kém. Cứ ôn cố tri tân thì thấy, nếu dân trí thời Hồ Quý Ly sáng suốt hơn, chắc giai đoạn lịch sử đó phải viết lại. Nếu đám sĩ phu Bắc hà dưới thời Quang Trung mà hết lòng với Tây Sơn, chưa chắc gì Gia Long đã quang phục nổi. Không nói đâu xa, bài học Tết Mậu thân năm 68, rồi mùa hè năm 72, Việt cộng pháo không thương tiếc vào dân chạy loạn ở Đại lộ kinh hoàng, những bài học đó đâu có xa xôi lâu lắc cho cam, nó nóng hôi hổi, có nhà còn chưa hết đại tang, thế mà những huyền thoại kiểu bà già một vú này vẫn được loan truyền, thì đủ hiểu giặc dốt đôi khi tệ hại hơn cả Cộng sản.

Tôi không có hứng thú về những mẩu chuyện khởi đi không có thật, lại được loan truyền nhanh chóng bởi sự ngu muội nên sang nhà cô em út tôi cũng ở trong cư xá này. Nó chưa về, tôi không muốn về nhà. Tôi ghé một quán nhậu ở Cầu hàng, một cái quán nằm cạnh bờ sông. Kiếm một cái bàn sát ngay mé nước, gọi một chai bia cao, một đĩa đồ nhậu, tôi độc ẩm trong ánh nắng mỗi lúc mỗi tàn. Còn gì mà không độc ẩm, dăm thằng bạn thân, đang ngập mặt với thần chết, đang đánh chí tử ở tuyến đầu Phan Rang, Long Khánh, Bình Tuy, đang bị bỏ rơi dần dần trong những vùng đất chết.

Đại úy Đàm Quang Thức Nhẩy dù, em cô cậu với tôi bỏ xác ở Khánh dương (Cả chục năm sau này, khi đã sang Mỹ tôi nhận được tin ở nhà cho biết Thức còn sống, phải đi tù), Đại đội Trinh sát của Thức đoạn hậu cho Lữ đoàn, dường như không một ai dưới sự chỉ huy của Thức về được Sài Gòn. Cô tôi khóc sưng cả mắt. Cháu ruột tôi y sĩ Đại úy Nguyễn Đức Mạnh cũng Nhẩy dù kẹt lại đâu đó ở Phan Rang. Y sĩ Trung úy Nguyễn Hồng Đức Biệt động quân, y sĩ Trung úy Vũ Dương Hoa Biệt động quân, y sĩ Trung Úy Nguyễn Mạnh Tiến Biệt động quân, cả ba bác sĩ này áng chừng mang nặng lời thề Hypocrate vừa tròn một năm, nên cũng như y sĩ Trung úy Huấn trong đơn vị tôi, và đã không một ai có mặt cạnh tôi giờ này. Nguyễn Hồng Đức, tên em nhỏ ngày nào trong cư xá, hăm hở từ biệt vợ có chửa, bụng vượt mặt lên đường ra Phan Rang. Tôi làm sao có thể bảo Đức nên ở nhà.

Một người em khác, Cao Xuân Huy Trung úy Thủy quân Lục chiến, chưa hết thương tích đã chống gậy ra Quảng Trị cách đây hơn một tháng. Lữ đoàn của Huy tan tác ở vùng hỏa tuyến. Những bạn văn của tôi, ở rải rác đủ bốn vùng chiến thuật và những binh sĩ cũ của tôi ở các quân khu, những người bạn thiếu thời, những cô bạn gái cũ: Thu, Thanh, Sơn ở Sài Gòn đều đã yên bề gia thất trước tôi, Thanh Tài và Hường ở Ban Mê Thuột, rồi những hình bóng cũ ở khắp nơi tôi đã đi qua, cùng những người tôi yêu mến. Tôi cầu nguyện cho họ và những người thân yêu của họ qua được cơn địa chấn này. Tia nắng cuối cùng lấp lánh trên con nước, sông Sài Gòn đục ngầu và đầy phù sa, con nước buổi chiều được nắng nạm lên một mầu vàng bệnh hoạn. Dòng nước lấp lánh như hàng triệu những tấm gương nhỏ, phản chiếu lên trời những ký hiệu S.O.S. Những ký hiệu mà các tầu biển chỉ gửi đi vào giây phút cuối trước khi chìm dần.

Tôi gọi nhà hàng một cút rượu đế, tôi rót rượu xuống lòng sông, gởi những men cay đắng này cho những người vừa nằm xuống ở khắp nơi trên giải đất khốn cùng này. Dẫu cho ngã xuống ở Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang, Pleiku, Ban Mê Thuột, Khánh dương. Dẫu có chìm trong lòng biển ở Tiên Sa, Tuy Hoà, Bình Tuy, Phan thiết. Dẫu nằm xuống trên bộ hay lịm dần trên tầu, ghe, xà lan, phải chăng tất cả đều nằm xuống cho miền đất này được kéo dài hơi thở. Họ nằm xuống những mong cơn địa chấn ngừng lại. Nhưng tôi biết chắc sẽ vô ích, cũng vô ích như cút rượu tôi đã rót xuống dòng nước này, sẽ mất tăm.

Bên kia sông lác đác đã lên đèn, bóng tối phủ dần những con tầu chiến nằm im lìm trong bến. Những con tầu hàng đen đủi yếu ớt phun một lớp khói lướt đi trên mặt sông, khói tầu bị gió thổi ngã rạp trên boong. Vài chiếc đò ngang đang đi những chuyến chót. Trời tối hơn nữa, làm nhà hàng Majestic nổi bật lên. Chính cái bến đó: hai mươi năm trước, tôi một học sinh năm đầu trung học, từ thành phố nhỏ Hải dương ngoài Bắc đặt chân xuống bến tầu, đặt chân xuống miền Nam, vào một buổi trưa giữa tháng 3-1955, đã ăn bữa cơm đầu ở miền Nam, ăn một món ăn xa lạ với người Bắc là thịt kho với trứng. Đã hai mươi năm qua, tôi đã hàng ngàn lần ăn lại món ăn này. Cậu bé ngơ ngác ngày xưa, kinh ngạc khi thấy người ta xé đôi tờ giấy một đồng thành hai cái năm cắc. Đã phì cười khi thấy người ta gọi xe ngựa là xe thổ mộ, gọi bao diêm là cái hộp quẹt, gọi cái tẩy là cục gôm, gọi cái thìa là cái muỗng v.v... Ôi chao bao nhiêu là thích thú, ngạc nhiên, buồn cười. Hai mươi năm qua đi, cái hộp quẹt dần dần trở thành diêm quẹt, thìa, muỗng, chén, bát, tô gọi làm sao cũng không còn buồn cười nữa. Chơi bi cũng thế, bắn đạn cũng vậy, cậu bé ngày xưa không bao giờ nghĩ đến việc kẻ Bắc, người Nam.

Tất nhiên sự phân biệt này vẫn có trong đầu óc của các người lớn tuổi. Dường như tôi đã thoải mái hơn khi làm quen với phụ nữ miền Nam. Các phụ nữ Bắc, phụ nữ Trung có những nét đáng yêu riêng của họ, song tôi yêu vô vàn cái hồn hậu, tự nhiên của phụ nữ miền Nam. Họ ít có mặc cảm giầu, nghèo, thành kiến Nam Bắc, cho dù họ là cô Lài, cô Lý, cô Năm, cô Ba ở các vườn tược trù phú của miền Nam, trên các ghe thuyền chi chít của Lục lỉnh, hay họ là Jacqueline Phấn, Cécile Trang, Marie Hoài của Sài Gòn, Cần Thơ, Sa đéc, họ vẫn có chung một đặc tính là cởi mở, ân cần với người phương xa. Xin đừng một ai hiểu lầm sự ân cần, cởi mở này là dấu hiệu của buông thả, dễ dãi.

Chính nơi đây, băng qua con nước này, dưới chân nhà hàng Majestic, tôi bước những bước đầu tiên trên miền Nam, tôi đã dàn trải cả quãng đời thiếu niên, cái thời học sinh trung học ở thành phố Hòn ngọc Viễn đông này. Tôi đã lớn lên, đã chống đỡ cho sự thay đổi của bộ mặt thủ đô, cả cái xấu lẫn cái tốt trong mười hai năm đằng đẵng. Tất cả rồi sẽ qua đi, tất cả rồi sẽ ngừng lại, tất cả rồi sẽ đổ vỡ.

Hỡi những ai vừa nằm xuống, xin nhận những giọt rượu tôi rót xuống bến sông này cùng với trái tim tôi, mà nhịp đập không còn theo cung bậc cũ.

Ngang qua một ngõ nhỏ, một em bé mặt mũi lem luốc mời gọi khách qua đường. Tôi còn biết làm gì hơn là tặc lưỡi lần theo ngõ tối.

Ngày N + 25, 1 giờ trưa

Mặt trận Xuân Lộc, Long Khánh đã khai diễn được bốn ngày, trên ba trận tuyến bao vây ba mặt tỉnh lỵ Long Khánh. Cộng quân nhẩy vọt qua tuyến đầu Phan Rang, nơi tướng Nghi, tướng Sang lập phòng tuyến mới của miền Nam. Những người tin vào giải pháp trái độn cuống cuồng lo sợ, những người có địa vị một chút, những người có máu mặt một chút, những người giầu sổi nhờ chiến tranh, những người sống bám vào những dịch vụ liên hệ tới quân đội đồng minh giống như những loài ký sinh trùng trong cơ thể con người, cũng như cả Sài Gòn chìm trong những ý nghĩ bỏ chạy, chủ bại. Tiền sụt giá kinh hoàng, vàng và đô la Mỹ leo thang như hỏa tiễn.

*

Ngày N + 26, 9 giờ sáng

Tướng Kỳ viếng thăm Tư lệnh quân đoàn III của tướng Toàn, ông Kỳ tuyên bố nhiều câu nẩy lửa với các phóng viên báo chí tháp tùng chuyến thăm viếng này. Ông tuyên bố sẽ biến Sài Gòn thành một Stalingrad, và sẽ dùng vùng IV như một cứ điểm chống cự cuối cùng của miền Nam, và sẽ chiến đấu đến người chót. Đây là ông tướng đa diện nhất của miền Nam, xung quanh ông có đủ các loại người. Từ những chuyên gia chính trị, đến những ông thầy bói, thầy tướng, có cả những thủ lãnh sinh viên xuống đường.

Xuất thân là một phi công vận tải, những tình cờ của lịch sử đẩy ông Kỳ vào những vị trí then chốt của miền Nam. Năm 1963, khi ông Diệm bị lật đổ, ông còn là Trung tá, năm 1966 ông thăng Thiếu tướng, đùng một cái ông là Thủ tướng. Nội các của ông được mệnh danh là nội các của dân nghèo. Ông lập pháp trường cát, bắn chơi một anh lái gạo. Ông sang thăm Đài loan, nằng nặc đòi bay biểu diễn phi cơ phản lực, làm nước bạn sợ toát mồ hôi, ông sang thăm Thái lan, được các sinh viên của nước bạn làm hàng rào danh dự thẩy confetti hoan hô, ông liệng confetti trở lại các nữ sinh viên. Ông nhường ông Thiệu ứng cử Tổng thống, ông làm phó. Rồi ông phát phẫn khi bị ngồi chơi xơi nước.

Năm 1971, ông Kỳ định ứng cử tổng thống, hôm đi nạp đơn ứng cử tại quốc hội, ông kéo một phái đoàn nghênh ngang xuống đường y như đi tiến chiếm quốc hội. Dịp này ông đi một vòng bốn vùng chiến thuật vận động ứng cử. Tại Pleiku, trong một buổi nói chuyện với tất cả các đơn vị trưởng, ông nói với những người hiện diện: "Tôi đã trình bầy với ông Thiệu là nước mình đang ở trong tình trạng chiến tranh, cần phải tiết kiệm, Tổng thống Thiệu và tôi sẽ làm gương trước cho mọi người, ăn một ngày hai bữa cơm rau. Chỉ mười phút sau, một Đại tá thuộc Sư đoàn 6 Không quân mời ông vào phi trường Cù Hanh dự tiệc. Ở đó người ta mở sâm banh, mạc ten hàng chục két, người ta vật dê, mổ bò, bữa ăn trân quý đầy sơn hào hải vị. Ông Kỳ nổi tiếng về lời tuyên bố. "Trên ba mươi lăm tuổi là vất đi", không biết năm nay ông Kỳ bao nhiêu tuổi? Và tôi ngờ cho cái sự hiểu biết của bất cứ ai gần gũi ông Kỳ, nhất là những người định làm chuyện lớn với ông Kỳ, định đảo chánh, định cách mạng, định tử chiến.

*

Ngày N + 26, 3 giờ chiều

Chính phủ Lon Nol của nước bạn Kampuchia chỉ còn kiểm soát được vùng đất duy nhất là thủ đô Nam Vang. Khmer đỏ hiện đang vây cứ điểm cuối cùng này. Kiều dân Mỹ ở đây đã di tản hết, thay vào đó là một đơn vị Thủy quân Lục chiến, tăng cường an ninh cho toà đại sứ Mỹ ở Nam Vang.

*

Ngày N + 28, 10 giờ sáng

Áp lực của Cộng sản tại mặt trận Xuân lộc, Long Khánh ngày càng mạnh, Sư đoàn 18 Bộ binh, trực diện với ba sư đoàn địch, và đã chận được cái đà vũ bão của Bắc quân. Hiện tượng hệt như một ngọn đèn cạn dầu bừng lên phút chót trước khi tắt. Sư đoàn 18 chẳng những là một sư đoàn thành lập chưa lâu, lại do tướng Lê Minh Đảo chỉ huy, một tướng rất trẻ của miền Nam, chuyên giữ những chức vụ tham mưu và hành chánh, trước khi được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn, Sư đoàn 18 đã rửa mặt cho quân lực miền Nam. Cộng sản với ba sư đoàn chính quy, không kể bọn địa phương, được tăng cường thiết giáp và đại pháo tới mức tối đa, đã tưởng sẽ quét Long Khánh trong một ngày, một giờ, nhưng đã khựng lại ở đó suốt một tuần lễ. Các đơn vị tác chiến của Sư đoàn 18, một chống ba, bốn, năm, có chỗ một chống mười. Trận chiến càng kéo dài, sức chống trả càng mãnh liệt. Sư đoàn 18 làm cho bọn phóng viên ngoại quốc vốn thiên vị phải sững sờ kinh ngạc. Những người lính Bộ binh của miền Nam không còn đất để lùi. Họ đứng lại, tựa lưng vào nhau, tựa lưng vào các thân cây trong rừng cao su, giữ từng tấc đất, giữ từng ngôi nhà, từng nấm mộ còn sót lại của miền Nam. Sư đoàn 18 không biết còn chống trả được bao lâu khi vũ khí, đạn dược và binh sĩ đều không còn để bổ sung và thay thế.

*

Ngày N + 29

Khmer đỏ pháo không thương tiếc vào Nam Vang. Nhân viên Tòa đại sứ Mỹ ở đây đã di tản từ ba ngày trước. Diễn biến này cho người ta thấy rõ hơn bộ mặt thật của các đại cường, và bẽ bàng cho những quốc gia nhược tiểu. Lon Nol, Tổng thống được đặt lên bởi người Mỹ, được sự hỗ trợ của Nam Việt Nam đã được Mỹ bốc đi, với một số những nhân vật hàng đầu của Nam Vang. Nhân vật số hai của Nam Vang, Thủ tướng Sirik Matak, khi được Tòa đại sứ Mỹ mời lên trực thăng di tản đã từ chối, dẫu biết rằng hành động đó giúp ông có một sợi dây treo trên cổ. Ông làm cho cả thế giới bàng hoàng, ông gửi lởi cảm ơn nước Mỹ, cảm ơn Đại sứ Mỹ bằng những lời chua chát, đắng cay. Những lời nói này biểu hiện đúng mức nhất vị trí của những người yêu nước thật sự, trong những quốc gia đang bị giằng co bởi những ảnh hưởng quốc tế. Ông trả lời cho Gunther Dan, Đại sứ Mỹ ở Nam Vang bằng một lá thư, cũng nên nhắc lại nguyên văn phần chính lá thư này:

"...Tôi chân thành cảm tạ ông Đại sứ đã ngỏ ý giúp tôi đi tìm tự do. Tiếc rằng tôi không thể ra đi một cách hèn nhát như vậy. Đối với ngài, và đối với quốc gia vĩ đại mà ngài đại diện, tôi chưa hề nghĩ quí vị có ý tưởng bỏ rơi một dân tộc biết lựa chọn tự do. Quý vị khước từ bảo vệ chúng tôi, chúng tôi không thể làm gì khác hơn trước điều ấy. Ngài ra đi, chúng tôi chúc ngài và quý quốc mọi điều hạnh phúc dưới vòm trời.

Hãy nhớ rõ nếu tôi chết tại đây, tại xứ sở yêu dấu của tôi thì đó là một điều tồi tệ. Tôi đã mắc phải lỗi lầm, chỉ vì tôi đã tin ở người Mỹ. Xin ngài nhận nơi đây cảm nghĩ thân hữu và rất chân thành của tôi..."

*

Ngày N + 31, 3 giờ chiều

Mặt trận Phan Rang vỡ từ đêm hôm trước. Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi Tư lệnh mặt trận, Tướng Nguyễn văn Sang Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân và một Đại tá Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Nhẩy Dù bị bắt sống. Cộng quân tràn qua phòng tuyến này ào đến tăng cường cho mặt trận Bình Tuy - Long Khánh, nơi những người lính của Sư đoàn 18 Bộ binh đang tả xung hữu đột với quân số đông gấp bốn lần của Cộng quân. Khắp miền Nam rúng động.

Cả Sài Gòn hốt hoảng, điên cuồng. Lác đác những biểu ngữ hoan hô chiến thắng của Sư đoàn 18 Bộ binh đã bị tháo xuống, vài nơi người ta treo lên những khẩu hiệu mới lửng lơ dễ giải thích như:

"Chỉ có hòa hợp, hòa giải dân tộc mới giải quyết được chiến tranh."

*

Ngày N + 31, 5 giờ chiều

Sau cùng Nam Vang cũng đổ xuống, Khmer đỏ hoàn toàn làm chủ Kampuchia, Thủ tướng Sirik Matak bình tĩnh nạp mạng, thản nhiên đi thụ nhận sợi dây thừng Cộng sản dành cho ông.

*

Ngày N + 31, 6 giờ chiều

Tướng Kỳ lại nói chuyện ở nhà thờ Tân Sa Châu, trước một cử tọa đông đảo, phần lớn là những giáo dân ngoài Bắc di cư vào Nam năm 54. Ông Kỳ trấn an mọi người bằng luận cứ: "Chạy đi Mỹ làm gì, ở đó đâu có cà pháo, mắm tôm. Uống sữa tươi không tốt, bị té re hoài." Ông quả quyết sẽ ở lại chiến đấu, cùng lắm là chết dưới tay người anh em bên kia. Ông cũng nói là ông đã đi quan sát vùng IV, đã nó