Bóng tối là đỉnh cao

Mở:

Trích Đông Chu Liệt Quốc:

“Sư Khoáng, tên tự là Tử Giã, là một học giả thông minh bậc nhất ở nước Tấn, lúc bé học âm luật, thường bực mình về nỗi không được chuyên, mới phàn nàn rằng: – Nghề không tinh là tại lòng không chuyên nhất, lòng không chuyên nhất là tại con mắt hay nhìn. Liền lấy lá ngải đốt mù mắt đi, để chuyên tâm về nghệ thuật, bởi vậy tinh thông âm luật lắm, có thể biết khí hậu biến hóa, âm dương lên xuống, sự lành dữ trong việc trời việc người, trong tiếng chim tiếng gió. Bấy giờ Sư Khoáng làm quan thái sư ở nước Tấn, coi về việc nhạc. Tấn Bình Công tin yêu lắm, hành quân ở đâu cũng đem đi theo…”

Tôi đọc cho nàng nghe. Nàng bảo tôi:

– Cái ông này đúng là cực đoan, việc gì phải tự làm mù mắt mình như thế? Muốn chuyên tâm không cần phải tự đâm mù mắt…

Tôi biện hộ cho Sư Khoáng: – Đây là người ta hy sinh vì nghệ thuật, cho nghệ thuật, chứ không phải là cực đoan.

Nàng tức giận: – Thế thì sao không tự nhốt mình vào phòng tối đi, chẳng còn bị chuyện gì làm cho phân tâm nữa? Đúng là suy nghĩ lệch lạc.

Nàng tiếp: – Con người ta nhiều khi có thể nhìn thấy âm thanh. Chữ Quan Âm hay Quán Âm bắt đầu từ đó. Mắt mù làm sao còn quán âm, quán nhạc được nữa?

Nhiều khi loài người thích tranh cãi những chuyện chẳng đáng để tranh cãi. Phải chăng tranh cãi là nhu cầu của cuộc sống?

Có điều từ chuyện tranh cãi này, người viết bỗng chợt có cảm hứng viết.

Và câu chuyện dưới đây là kết quả của một cuộc tranh cãi không đáng để tranh cãi.

1. Huy hoàng của biển

Sư Khoáng thở hắt ra. Hắn vừa soạn xong khúc nhạc lấy tựa đề “Huy hoàng của Biển”. Ngày mai hắn sẽ bắt đầu soạn một nhạc phẩm mới. Có lẽ hắn sẽ viết về núi. Uy nghi của Núi. Đúng. Đã viết về Biển thì phải viết về Núi. Nhạc của hắn thật mênh mông. Niềm kiêu hãnh trỗi dâng trong người hắn như thuỷ triều ở tuần trăng mới. Hắn cũng cảm thấy được an ủi. Sự hy sinh của hắn đã không bị lãng phí.

Một ngọn sóng bâng khuâng bỗng từ đâu len nhẹ vào tâm tư hắn. Hắn chợt nhận thức là không còn nhớ được màu xanh của biển. Từ ngày hắn xông khói ngải để tự hủy hoại đôi mắt, hắn vẫn thường có những phút giây băn khoăn như thế. Hắn tự làm mù để không bị những hình ảnh chung quanh làm chia trí, để có thể tập trung tinh thần vào việc soạn nhạc và nghe nhạc. Thế nhưng có lúc hắn tự hỏi không biết mình có sai lầm không? Những lúc ấy hắn nhớ lại thuở chưa mù, đi ven bờ biển ngắm sóng, ngắm trời, để mắt nhìn theo những cánh hải âu bay trên cao rồi mơ tưởng đến những cuộc phiêu lưu mà hắn đã nghe kể hoặc đọc trong tiểu thuyết. Hắn bị mù đã năm năm, cái thời gian đủ dài đề làm phai mờ màu sắc trong ký ức, để làm quên những gì đã nghe được, đã đọc được. Lẽ ra tâm của hắn phải tịnh hơn. Nhưng càng ngày, cái xôn xao trong người càng mạnh. Tinh thần của hắn như bị giao động bởi sự giới hạn và bất lực của trí nhớ. Hắn thèm có khả năng hình dung được biển, thèm nhớ được màu xanh của biển.
Hôm nay, hắn biết là mình đã mất hẳn màu xanh của biển.

Biển đã mất màu. Làm sao biển có thể huy hoàng được?

2. Đi tìm đỉnh cao

Vương Duy đứng trên đỉnh đồi nhìn xuống thung lũng. Cặp mắt hắn đang theo dõi một đôi tình nhân ngồi dưới bóng mát của một tàng cây ở chân đồi. Nhìn hai bờ vai nam nữ kề sát nhau, Duy như nghe được những lời thì thầm tình tự của đôi tình nhân. Hắn nhớ có lần nói với thầy của hắn tại Nhạc Viện. “Thưa thầy, tôi NHÌN ra được lời thì thầm của những kẻ yêu nhau.”
Một lạch nước trong vắt chảy lặng lờ quanh chân đồi, giữa thảm cỏ xanh ngát. Màu xanh mát mắt của cỏ làm Duy rùng mình liên tưởng đến những học viên ở Nhạc Viện. Họ âm trầm, cái âm trầm của những kẻ có chuyện bận tâm lâu ngày không giải quyết được. Họ đang tìm bóng tối. Mâu thuẫn hơn, họ tìm bóng tối để thấy được ánh sáng. Họ đang kiệt sức trong cuộc tìm kiếm vô vọng đó.

Thầy của Duy, Sư Khoáng, là người sáng lập Nhạc Viện. Khoáng là tác giả của bản giao hưởng “Sắc màu của bóng tối”, một công trình âm nhạc được thế giới nghệ thuật ca tụng. Muốn soạn xong tác phẩm, Khoáng đã phải hủy hoại đôi mắt của mình để tập trung vào âm nhạc. Nghệ thuật đòi hỏi hy sinh, Khoáng bảo thế. Và Khoáng đã sáng lập Nhạc Viện để dạy cho loài người cách hy sinh cho âm nhạc.

Khoáng đã cười khinh khỉnh, bảo Duy: “Ngươi nhìn thấy âm thanh chứ không nhìn thấy âm nhạc. Âm thanh mà ngươi nhìn thấy là âm thanh của dục vọng, không có chỗ đứng trong âm nhạc chân chính.”

Duy vốn xuất thân từ nghề vẽ. Hắn thường bỏ cả buổi lang thang mọi nơi để tìm đề tài. Hắn tìm đề tài nơi sông núi, nhưng không vẽ sông núi. Hắn tìm đề tài nơi người ta sinh hoạt, nhưng không vẽ con người. Hắn chỉ nhìn người, nhìn cảnh vật rồi liên tưởng đến một cảm giác nào đó đã ngủ kỹ trong đầu, trong tâm thức mà thị giác hắn vừa đánh thức. Hắn vẽ không cần người xem tranh phải hiểu. Khi hắn vẽ xong, cái cảm giác kia biến mất. Vì thế, khi hắn nhìn lại tranh của mình, hắn không nhớ và không biết là hắn đã vẽ gì.

Chỉ biết người xem tranh khen tranh của hắn… hay.

Khi nghe một người bạn kể chuyện Nhạc Viện, chuyện Khoáng hy sinh đôi mắt để đạt được đỉnh cao của âm nhạc, Duy cảm thấy vô cùng hứng thú. Hắn nghĩ ngay đến chuyện tìm đề tài ở Nhạc Viện. Nếu hành trình theo đuổi đỉnh cao âm nhạc có thể đánh thức được một cảm giác nghệ thuật trong con người hắn, cảm giác đó sẽ đúng là cảm giác hắn đã đi tìm từ bấy lâu nay. Đó là thứ cảm giác có thể giúp hắn vượt qua được cái tầm thường của hội hoạ, đưa hắn về với thần linh, với tuyệt đối. Hắn phải đi tìm cảm giác đó. Hắn phải trở thành một học viên của Nhạc Viện.

Duy đã tưởng vào Nhạc Viện là phải tự huỷ ngay đôi mắt. Nhưng thực tế không phải thế. Mù đã trở thành một mục đích của sự tu luyện ở Nhạc Viện. Sư Khoáng buộc học viên phải nhắm mắt để quên đi màu sắc, quên đi mọi hình ảnh quen thuộc trong lúc phân biệt các loại âm thanh Khoáng cho các huấn luyện viên ở Nhạc Viện tạo ra để học viên nghe. Dần dà học viên tranh đua nhau để được mù và bắt đầu cảm thấy mù cũng quan trọng chẳng khác đỉnh cao của âm nhạc. Được mù là đạt được đỉnh cao. Lên được đến đỉnh cao thì những chuyện khác chẳng cần thiết nữa.

Kể cả âm nhạc.

3. Núi khuất trong sương

Sư Khoáng rùng mình. Một luồng gió luồn qua cửa sổ đập vào lưng hắn. Lẽ ra ngọn gió không đủ lạnh để làm hắn phải bận tâm. Nhưng hắn vừa bị mồ hôi toát ra lưng, tạo ra một môi giới để chất lạnh thấm vào người, đưa đến cái phản ứng rùng mình tự nhiên đó. Hắn thường toát mồ hôi lưng như thế từ hôm hắn nhận thức đã đánh mất màu xanh của biển.

Sáng nay hắn đã cố gắng tìm giai điệu cho bản giao hưởng “Uy nghi của Núi” mà hắn dự định cho ra mắt cùng lúc với tác phẩm “Huy hoàng của Biển”. Thế nhưng hắn ngồi nửa ngày mà vẫn không tìm được âm giai nào. Khoảng không chung quanh hắn hình như đã hoàn toàn im lặng, không còn chút âm thanh nào nữa. Hắn không còn nghe được âm nhạc. Nếu Núi có âm thanh thì tai của hắn đã bị điếc, không nghe được, không cảm được nữa.

Hắn cảm thấy sợ hãi. Nếu hắn không còn nghe được nhạc, thì cuộc đời còn có gì đáng kể.

Hắn bỗng chợt nhớ đến gã học viên hắn nhận vào Nhạc Viện vài tháng trước. Hình như gã tên là Vương Duy gì đó. Gã này có những đặc điểm mà hắn không thấy ở các học viên khác, nhưng đặc điểm gì thì hắn không biết rõ. Hắn chỉ có một khái niệm mơ hồ về cái gã học viên này. Cái khái niệm đó đến từ những cuộc đối thoại giữa gã và hắn.

– Thưa thầy, con người ta có thể nhìn thấy được âm nhạc không?

Vương Duy khô