Tơ Trời

Tỉ Tỉ

1. Nếp Nhà Xưa
 
Căn nhà chúng tôi hiện ở bây giờ là của ông bà nội tôi để lại. Tôi còn nhớ thuở tôi còn bé, tôi vẫn thường nghịch ngợm trèo lên mấy cái cột gỗ lim bóng loáng này để rồi lại tuột xuống như người ta leo cột mỡ.

Nói đến cái hồi tôi còn bé, chắc các bạn tưởng tôi lớn lắm ? Đối với số tuổi 14 của tôi các bạn có thấy lớn không ? Thôi thì tôi thấy tôi lớn lắm. So với đám em bẩy đứa của tôi mà đứa bé nhất mới biết nói có hai tiếng : ba, má, thì tôi là đầu đàn. Bọn em tôi sợ tôi lắm, tôi nói gì, chúng nghe răm rắp. Không phải chúng sợ cặp môi mím lại của tôi đâu (mắt và môi tôi không dữ bằng mẹ tôi, nhưng chúng vẫn sợ tôi hơn). Chúng chỉ sợ bàn tay gầy bé, nhưng gân guốc của tôi khi nắm lại, có thể tống vào mạng mỡ, hoặc bàn chân đen đủi, đầy bụi đất đá vào đít chúng đau điếng. Vậy thôi.

Mẹ tôi trông dữ, nhưng thực là hiền. Bà chưa đánh tôi lần nào. Chắc tại tôi là con đầu lòng và tôi rất dễ sai bảo. Mọi chuyện trong nhà, từ việc chẻ củi, lượm đá, đi mua cái này, cái khác, có khi quét sân nữa, đều do một tay tôi đảm nhiệm. Mẹ tôi chỉ cần cất cao giọng :

- Thằng Hai đâu ?

Là có mặt tôi ngay. Tôi cũng thích được mẹ tôi sai đi chợ mua nước mắm, mua tiêu ớt, hoặc ra phố mua đinh vít, đèn cầy. Tôi có thể trong những dịp như thế, tỏ cho mẹ tôi biết rằng tôi là đứa con dễ thương nhất trong tám đứa con của mẹ. Và hơn thế, tôi có thể có cớ để gặp mấy thằng bạn nhỏ ở xa nhà. Có thể nói, khắp cả cái chợ nhỏ, không ai là không biết đến tôi. Có bà thực tử tế, ví dụ như bà Tư nước mắm. Lần nào tôi mua xong bà cũng dúi trở lại cho tôi một đồng ăn quà. Ai cũng biết nhà tôi không giàu có tuy không nghèo lắm. Họ thương tôi có lẽ vì họ thương cái cảnh của tôi hơn. Năm nay tôi 14 nhưng chưa hề đến trường bao giờ. Tôi không dám trách Cha, Mẹ tôi không được công bằng bởi vì thực ra, tuy không hề được cắp sách đến trường như bọn em tôi sau này, nhưng tôi vẫn biết đọc, biết viết, và nhất là làm tính nhẩm thì tôi tính nhanh hơn bọn em tôi nhiều lắm nhờ những lần sai vặt của mẹ tôi.

Tôi mà biết đọc, biết viết cũng nhờ cha tôi. Hồi tôi mới sinh ra - tôi nghe kể lại thế - cha mẹ tôi nghèo lắm. Mẹ tôi con nhà không được tử tế còn cha tôi con một ông tú trong phường. Vì vậy, khi cha tôi đòi cưới mẹ tôi, ông nội tôi không bằng lòng. Cha mẹ tôi phải đi ở riêng, sống cực khổ trong một ngôi nhà tranh đổ nát. Cha tôi nhờ có học chút ít, xin làm chân thư ký quèn trong một hãng buôn tư. Mẹ tôi đi làm thợ hồ, chuyên môn xây nhà cao cửa rộng cho người khác ở. Hằng ngày nhìn từng viên gạch xây cao dần, nào phòng ăn, phòng tắm, phòng ngủ của nhà người ta, mẹ tôi thầm đau đớn. Tuy nhiên, mẹ tôi thương cha tôi, mang mặc cảm vì mẹ mà cha tôi khổ sở, mẹ cố nhận chìm những hối tiếc và những ước mơ xuống đáy lòng.

Ban đầu cha tôi phải đi làm bằng cặp chân gầy của ông. Mỗi sáng, mẹ tôi dậy sớm, nấu cơm cho ông ăn để ông có đủ thì giờ cuốc bộ từ nhà đến sở, cách gần bảy cây số. Mấy tháng sau, cha tôi đi bằng xe đạp. Không phải cha tôi đạp đâu, cha tôi ngồi sau chiếc xe đạp của bác Quí bên hàng xóm. Bác Quí làm cách sở cha tôi chừng nửa cây số. Cứ sáng đi, chiều về bác Quí chở cha tôi trên chiếc xe đạp màu xanh lá cây. Và cứ đến cuối tháng, cha tôi dúi vào tay bác số tiền công tương xứng với sức bác gò lưng chở cha tôi đến sở, về nhà. Như thế, cha tôi tạm đỡ ít lâu. Không may cho cha tôi (hay cho bác Quí ?), bác đau nặng. Trong nhà, bác là cây trụ đỡ một đám sáu người, 1 vợ, 5 con. Cho nên lúc bác ngã xuống, bác Quí gái quýnh cả lên. May cho bác Quí là bác làm sở công nên người ta không trừ lương, nhưng bao nhiêu tiền thuốc thang cứ theo những vòng vàng của bác Quí gái mà bay vào tiệm cầm đồ tất. Bác Quí trai chỉ còn có mỗi chiếc xe đạp là đáng giá. Chiếc xe đạp ấy sau này bác phải bán cho cha tôi với giá đặc biệt. Và cha tôi để trả ơn bằng lòng chở bác đi làm mà không lấy tiền công trong sáu tháng trời, mãi đến khi bác Quí trai bị đổi đi Phong Điền, cha tôi mới thôi làm ngựa người.

Chiếc xe đạp màu xanh lá cây là gia tài độc nhất, lâu nhất của cha tôi. Bởi vì sau khi mua chiếc xe ấy, cha tôi không còn hơi sức để mua một chiếc xe khá hơn thế nữa. Chiếc xe đã cũ, nhưng dàn còn tốt, của Pháp mà lị. Chiếc xe ấy chở cha tôi đi, về trong mười mấy năm trời. Đôi lúc tôi lẩn thẩn tự nghĩ chả biết chiếc xe ấy đã quay được bao nhiêu vòng rồi, có lẽ nhiều hơn cả mặt đất quay quanh mặt trời, hoặc nhiều hơn cả quay quanh chính nó. (Điều này tôi học được nhờ xem sách địa lý của thằng Ba, em tôi).

Trong khi cha tôi nâng niu chiếc xe thì mẹ tôi xem nó như một vật đáng ghét. Mẹ tôi bảo, từ hồi có chiếc xe ấy đến bây giờ, gia đình tôi chẳng ngóc đầu lên nổi. Mẹ tôi đưa ví dụ gia đình bác Quí :

- Mình thấy không ? Tại cái xe mà bác ấy ốm, lại bị đổi đi xa. Sao mình không chịu mua chiếc khác xem có hên không, cứ giữ riết nó có ngày tán gia bại sản.

Cha tôi không trả lời. Bán đi có chắc gì mua được một chiếc mới ? Hay lại như buổi đầu, ra đi là từ lúc mờ sáng, đến tối mịt mới về nhà ? Còn cái chuyện tán gia bại sản, cha tôi cười thầm, sản đâu mà tan ?

Mẹ tôi cũng hiểu như thế, cho nên tuy trách cha tôi và ghét cái xe ghê gớm, bà chẳng dám rao bán bao giờ.

Năm tôi lên tám tuổi, ông nội tôi mất. Bà nội thương con, thương cháu, mới gọi bọn tôi về ở chung. Giã từ căn nhà tranh gần nát, chúng tôi lếch thếch về gian nhà hương hỏa của gia đình bên nội. Quả là một căn nhà khang trang so với căn nhà lá cũ của chúng tôi. Ngày đến nhà mới, tôi hân hoan không tả được. Suốt ngày tôi loanh quanh trong vườn, đứng mê mẩn nhìn khóm ổi xanh mơn mởn, khóm chuối vẫy tay, hoặc cúi sát mình xuống ngắm mấy chòm lan đất vừa trổ nụ. Vườn nhà ông tôi thực rộng, và nhà ông tôi quá lớn. Dưới cặp mắt bé nhỏ của tôi hồi ấy, tôi tự nhiên thấy mình giàu có hẳn lên, sang trọng hẳn lên lúc đứng trước sân, nhìn ngôi nhà ngói sừng sững và khu vườn xanh ngắt.

Tuy nhiên, không phải vì có một ngôi nhà to hơn, đẹp hơn mà gia đình tôi bỗng nhiên hết túng bấn như tôi tưởng tượng. Cha tôi vẫn phải đi làm ngày hai buổi, và mẹ tôi phải lo việc nhà quần quật suốt ngày. Lúc tôi về đây, mẹ tôi mới có năm đứa con. Sáu năm qua, mẹ tôi thêm ba đứa nữa. Căn nhà hồi trước trông rực rỡ bao nhiêu, độ này trông như chật lại và dơ thêm vì vết tay vết chân của bảy đứa con nít (tôi thì khác vì tôi dù sao cũng lớn rồi, ít chơi bẩn hơn tụi nó chứ).

Trong số mấy đứa em tôi, ngoài tôi là con lớn, khỏi đến trường chỉ có hai đứa được may mắn đi học là thằng Ba con Tư. Thằng Ba năm nay 12 tuổi, học lớp nhì, con Tư mười tuổi, học lớp ba. Mấy đứa sau, mẹ tôi bảo còn xem đã, chả biết xem cái gì rồi mới cho đi học. Nhiều lúc thấy thằng Năm nhìn theo anh chị nó tung tăng ôm bút, vở sang bên cô Hồng hàng xóm học, tôi thương nó lạ.

Nhà tôi bây giờ chả khác hồi tôi mới đến tí nào. Bàn ghế, màn cửa y nguyên, không suy suyển, chỉ có bạc màu thêm, cũ thêm mà thôi. Mẹ tôi không sắm được đến một cái ghế nào hơn. Lúc ăn cơm, chỉ có cha, mẹ, tôi và thằng Ba được ngồi, mấy đứa kia, hoặc ôm chén cơm ngồi trước thềm, hoặc chui tuốt sau vườn ăn. À, còn căn vườn nữa. Vườn này trước kia thực là sai quả, sau khi bà tôi mất, gia nhân của bà tôi bỏ đi hết, bây giờ cỏ mọc khắp vườn.

Thỉnh thoảng tôi ra lệnh cho đám em út đem giao, xẻng ra cuốc bằng hết. Tôi thương nhất là cây măng cụt. Nằm trên đó ngủ trưa thực là tuyệt. Nhờ tôi vườn không đến nỗi hoang tàn. Chỉ tội một cái là tôi không biết bón phân, nên hồi trước quả lớn, bây giờ bé tí xíu. Thật tiếc.

Với đám con đông quá cỡ, cha mẹ tôi thật mệt mỏi với bổn phân và trách nhiệm của mình. Cha tôi như một cái máy hết dầu mỡ, lúc nào cũng chỉ chực dừng lại nghỉ ngơi. Tuy nhiên cảnh đám con nheo nhóc như bàn tay lên giây « cót », cha tôi lại cúi đầu, đem hơi sức ra kiếm tiền, kiếm hoài. Dần dần với kinh nghiệm 14 năm trong công việc, cha tôi được giữ việc lương bổng. Hàng ngày nhìn từng chồng bạc. Cha tôi không mảy may rung động, thèm muốn, cho tới một ngày kia, cái ngày đen tối nhất cho gia đình tôi từ lúc tôi hiểu biết đến bây giờ. Ngày đó là ngày bao nhiêu những u uất, khốn khổ, hối tiếc đọng lại, chèn ép trong lòng mẹ tôi đột nhiên bùng nổ. Tôi không hiểu nguyên nhân đốt cháy cái nồi xúp de ấy, tôi chỉ chứng kiến và rơi nước mắt.

Mẹ tôi lúc ấy như người say, như người mơ thì đúng hơn, lảm nhảm nói mãi, càng nói càng gay gắt. Mẹ chê cha tôi là thứ đàn ông bất tài, mẹ tôi đứng chống nạnh, rồi xoay lưng theo điệu một cô trình bày kiểu áo mà trách móc :

- Anh xem suốt một đời tôi, anh cho tôi được cái gì. Cái áo cụt, cái quần bạc này đây chắc ?

Mẹ tôi chỉ đám con đang mở tròn đôi mắt nhìn cha mẹ chúng cãi nhau và gào lên :

- Hay là cho chúng nó sự dốt nát, nghèo khó cùng cực. Cả một đời chúi đầu vào xó bếp, ăn không dám ăn, mặc không dám mặc, khổ như gì ấy mà tay trắng vẫn trắng tay. Vậy mà lúc nào cũng tưởng mình là trí thức !

Mẹ tôi hừ lên một tiếng :

- Đồ trí thức rởm, đồ đạo đức hão. Cơm dâng tới miệng mà còn làm bộ trong sạch. Có đói rả họng mới biết làm tiền chắc.

Cha tôi ngồi yên nhưng tay ông nắm chặt lại với nhau. Miệng mím lại, mắt đỏ ngầu. Cha tôi dữ quá. Gân nổi trên mặt ông như muốn tung cả làn da mà ra ngoài. Cha tôi không nhìn mặt mẹ tôi, ông nhìn vào bộ quần áo bạc màu mẹ tôi đang mặc. Mắt ông trong một thoáng hiện lên nỗi xót xa. Ông cúi đầu xuống, bàn tay buông lỏng xuống thành giường. Cha tôi thở dài.

Tấn kịch chấm dứt. Mẹ tôi sau khi nói đã đời, quay lưng xuống bếp dọn cơm chiều, bước chân nặng nhọc, đôi vai run rẩy. Tôi chả biết nên đứng về phe ai, bênh ai, bỏ ai nữa.

Chiều ấy cha tôi không ăn cơm. Mẹ tôi giận dỗi không mời đón, yên lặng đút cơm cho con Út. Không khí nặng nề đến nỗi con Tư là đứa hay nói nhất nhà cũng không dám hó hé.

Đêm đi qua. Tôi tuổi còn nhỏ, ít suy nghĩ, ngủ ngon giấc. Nhưng trong những phút ngắn ngủi thức dậy giữa đêm, tôi vẫn nghe tiếng trở mình trong giường cha tôi và tiếng thở dài của mẹ tôi. Tôi chỉ kịp suy nghĩ, thắc mắc một một chút xíu, giấc ngủ lại kéo đến, lôi tôi vào những giấc mộng đẹp, trong đó, tôi thấy tôi được đi du lịch khắp thế giới như Gu-li-ve vậy.

Ngày hôm sau trôi qua như thường lệ. Mẹ tôi vẫn lo đi chợ, giặt giũ, tôi lo trông em và phụ mẹ tôi những việc lặt vặt. Cha tôi đi làm vắng. Hơn sáu giờ chiều cha tôi không về, mẹ tôi bồn chồn lo, mãi hơn 8 giờ tối, cha tôi mới bước vào nhà, mặt thoáng lo nghĩ. Mẹ tôi không hỏi nửa lời, lo dọn cơm cho cha tôi ăn, bảo tôi lo cho các em đi ngủ.

Sau khi bọn nhỏ đã say sưa với giấc mộng của chúng, tôi lần ra cửa phòng ghé nhìn ra. Cha tôi và mẹ tôi ngồi đối diện nhau trước bàn ăn.

Cha tôi cầm chén cơm hãy còn đầy mà không đưa lên miệng. Mẹ tôi chăm chú nhìn cha tôi, hai tay để dưới cằm, vẻ bình thản.

Cha tôi đột nhiên buông đũa xuống, nhìn vào mắt mẹ tôi, nói dằn từng tiếng :

- Đấy, tùy mình chọn. Muốn giầu có, phải làm liều. Mình không muốn tôi làm một thằng làm công trong sạch, tôi sẽ làm một thằng nhơ bẩn. Mình muốn chọn thứ nào : hoặc bán nhà hoặc thụt két.

Mẹ tôi giật nẩy cả người lên :

- Thụt két ? Mình nói giỡn chơi sao chứ. Có mà ở tù rục xương.

- Vậy bán nhà !

Im lặng một lát, cha tôi nói tiếp :

- Người ta thuận cho mình làm văn phòng ở đây, người ta đã đem hàng xuống, chịu hết tiền chuyên chở từ trên đó về, nhưng với điều kiện mình phải có vốn, ít nhất là vốn bằng nửa số tiền hàng hóa mua mới được. Mình không sẵn, phải kiếm cho ra. Muốn giàu, phải lo, phải liều. Tôi lo hết mình tôi thì thôi. Sau này lỗ lã hay lời là do trời định. Lúc ấy đừng trách tôi vô dụng.

Mẹ tôi yên lặng một lúc ngước mắt nhìn cha tôi :

- Khi tôi khổ, tôi nói vậy, mình đừng buồn. Chỉ vì thấy con nheo nhóc quá, tôi không chịu được. Vả lại thấy người ta làm ăn sao mà dễ quá, còn mình cứ vậy hoài. Mình thử nghĩ …

Mẹ tôi lắc đầu, không nói nữa. Hai người yên lặng thật lâu. Tôi cố lắng nghe xem cha mẹ tôi định ra sao. Thụt két là gì, tôi không biết, tôi chỉ mong cha tôi đừng bán nhà. Tôi nghĩ ngày mai tôi phải đi thăm hết mọi góc của căn nhà mới được. Nếu cha tôi bán đi rồi, làm sao còn trèo cây mỗi chiều, còn chơi bắn nhau, núp sau mấy khóm chuối, đêm trăng còn nghêu ngao ngoài sân nữa ?

Tôi nhìn bọn em tôi. Chúng nó ngủ say quá, sung sướng quá. Chúng đâu biết mai kia phải rời khỏi nhà, trao nơi này cho một chủ khác ? Bỗng dưng, tôi nghe nghẹn ở cổ. Nước mắt dâng lên, tràn xuống má. Mẹ ơi đừng bán, đừng bán nhà. Tôi khóc suốt từ đấy cho đến lúc thiếp đi. Trong mơ tôi thấy nhà tôi dọn đi, một người đàn ông to, mập kéo theo một đám người tới. Họ bắt đầu chặt cây, rồi từng cây ngã gục. Tôi đau đớn hét lên, chạy vù đến ngăn họ, nhưng trượt chân, tỉnh dậy. Tiếng gỗ chặt ấy chỉ là tiếng chẻ củi của mẹ tôi dưới bếp. Trời chưa sáng hẳn.

Cả ngày sau đó, tôi như mất hồn, cứ đi vòng vòng căn nhà, ngoài vườn như bị ma ám. Cơm tôi không thích ăn, đến độ không thấy đói. Mẹ tôi sai làm gì, tôi cứ ngớ ngẩn không hiểu, làm lắm lúc mẹ tôi nhìn tôi lo lắng. Mẹ tôi ép tôi uống thuốc tôi cũng uống, nhưng thuốc đâu có ngăn được chuyện bán nhà.

Đến buổi cơm chiều, tôi không chực ăn cơm cứ ngồi trên cây ổi hoài. Tôi mân mê đám lá non, thân cây nhẵn lì. Tôi ngắm đàn chim ríu rít trên tàn cây xanh, tôi không muốn rời chúng tí nào. Mãi đến lúc mẹ tôi gọi, tôi mới trở về nhà. Tôi không nhìn cha mẹ tôi, cúi đầu ăn. Cơm hôm ấy ăn với gì, tôi cũng chẳng hiểu nữa. Tôi muốn van xin cha mẹ tôi bỏ cái ý định tàn nhẫn ấy đi mà không dám. Làm sao tôi biết ý định ấy của cha mẹ ? Có mà ăn đòn về tội nghe trộm người lớn.

Tuy nhiên ngày qua ngày, cha tôi vẫn đi làm đều, mẹ tôi vẫn lo việc tề gia nội trợ. Chả có dấu hiệu gì chứng tỏ cha mẹ tôi bán nhà để đi buôn cả. Mẹ tôi hết trách móc cha tôi, mà cha tôi cũng không hề buồn rầu như trước. Thật kỳ lạ. Tôi đeo mãi thắc mắc trong lòng, cho đến một buổi trưa, mẹ tôi gọi tôi đến bên người, hỏi tôi dịu dàng :

- Năm nay con mấy tuổi ?

- Thưa mẹ 14.

Mẹ tôi yên lặng một giây rồi nói tiếp :

- Ngày mai, con xem bên trường Bách Nghệ có nhận học miễn phí không nhé. Coi thử người ta chọn học trò ra sao, rồi lo giấy tờ đi học. Con thích học gì ?

Tôi ngạc nhiên, nhưng cũng hăng hái nói ước mơ của mình :

- Con ưng nghề sửa xe đạp mẹ ạ, rồi con sửa xe tăng, máy bay nữa kìa, như anh Hớn bên cạnh mình nè.

Mẹ tôi mỉm cười, vuốt tóc tôi. Tôi rụt rè hỏi nhỏ :

- Thế, thế mẹ không bán nhà nữa chứ ?

Mẹ tôi ngạc nhiên :

- Con cũng biết ? Nghe trộm phải không ? Thôi, tha cho đó. Lần sau vậy, mẹ cho ăn đòn đấy.

Rồi mẹ tôi nhìn lên khoảng không xanh biếc, nói mơ màng :

- Nhà ông bà để lại, bán sao được con.

2. Cu Tý

Chân trái ba cu Tý bị băng hơn hai tháng trời . Mấy hôm đầu bột trắng như mấy viên phấn nụ má cất trong hộp . (Má cất kỹ thế thôi chứ chẳng mấy khi dùng, ba ghen có hạng đấy mà). Bây giờ thì nham nhở, đầy cáu ghét, bẩn quá sá .

Cu Tý còn nhớ cái hồi mới ở nhà thương về, ông y tá dặn đi dặn lại là ba đừng có đi nhiều, và giữ cái chân bột cho sạch . Ba dạ dạ cẩn thận lắm . Được đâu một tuần, ba không ra khỏi giường . Bao nhiêu chuyện có má lo hết . Sang tuần thứ hai, ba đã bực mình vì bị tù túng . Mỗi lần má phải ra ruộng là ba nhổm dậy, nhìn quanh thấy không có ai là a lê, bước xuống giường, lò cò ra ngõ hít khí trời . Má về, biết là la um sùm . Nhưng rồi thương chồng, bà thỉnh thoảng dìu chồng ra chõng tre đặt ngoài sân, hóng mát mỗi chiều . Cái chân bột của ba dần dần trở nên tấm bảng trắng một cách bất đắc dĩ . Ba viết lên hàng chục câu khác nhau, câu nào cũng ngộ nghĩnh nhưng xót xa thế nào . Cu Tý đợi ba ngủ mới tò mò chạy tới đọc lẩm nhẩm . Tý học trường bình dân buổi tối do cô Hoa dạy . Cô Hoa lớn tuổi, chưa chồng, nhưng hiền . Phải cái cô không đẹp . Cô có những cái đi ngược với mỹ quan thiên hạ . Da cô trắng nhưng sần sùi vì mấy nốt mụn đỏ lấm tấm trên má . Mũi cô đỏ . Hai mắt thật lớn nhưng lồi ra nhiều quá đôi khi trông như dữ tợn . Được cặp môi rất tươi, hay cười và hàng răm trắng đều . Thế nên cô Hoa vui vẻ luôn . Cu Tý chả thấy cô bí xị bao giờ . Trong lớp cô thương Tý nhất vì Tý chăm học, lại ngoan đáo để . Nhờ cô, cu Tý trong mấy tháng là đọc được .

Trên cái chân bột của ba, cu Tý đọc thấy nào là : « Đời là đau khổ », « Ôi, Trời sinh ta sao còn sinh chúng nó » cu Tý đọc và cười, nhưng chẳng hiểu gì hết . Mỗi lần ba thức mà cu Tý lại gần, hai mắt có ý lấm lét đọc mấy câu bất hủ trên chân ba, ba lấy hai tay che đi, đuổi cu Tý ra sân « Đi ra ngoài nớ mà chơi ! Con nít không được đọc ». Cu Tý cười, lẩn đi nhưng thấy ba thật khôi hài . Nếu muốn cu Tý đừng đọc, ba phải ngủ ngồi, tay ôm khư khư cái chân trái của ba mới được . Có lần cu Tý thấy ba lấy bút chì xóa xóa mấy câu gì đó . Hẳn ba sợ cu Tý hư người khi đọc được chúng chăng ?

À, mà cu Tý quên nói tại răng ba cu Tý bị gãy chân hỉ . Ba cu Tý là lính đó, lính giữ làng í mà . Ba cu Tý được phát súng, khẩu súng dài thế này này, đen như ... như súng í . Ba cấm không cho Tý sờ vào khẩu súng đó, sợ nó nổ bất tử thì có ngày chầu Diêm Vương sớm . Cu Tý nói giọng hờn dỗi : « Ít nữa con lớn, con cũng đi lính cho coi, con mang hai khẩu súng hai vai, bắn pằng pằng như ông Quận ». Cu Tý đưa hai tay trước bóp cò tưởng tượng . Mắt nó nheo nheo khiến cả nhà cười bể bụng . Từ cái đêm má bồng cu Tý chạy xuống hầm núp, và bà nội vừa chắp tay vái trời vái đất vừa khóc trong tiếng đạn réo và nổ ầm ầm, thì ba cu Tý đành làm thương binh một giò .

Ba có vẻ hận lắm, cứ mong cho chân chóng lành mà đi nữa . Má thì luôn mồm bảo : « Chân đã gãy mà cứ đi lắc nhắc hoài làm răng cho hắn lành ? Mấy thầy (ý má bảo mấy ông Y tá) đã dặn, rứa mà không chịu nằm yên . Coi chừng cả đời phải chống nạng rồi còn lính với liếc, bắn với chác chi nữa mà la ! » Má vừa nói vừa háy ba . Còn ba thì cười hì hì ... « Má hắn thử nằm không nhúc nhích một ngày tui coi nờ . Được cái miệng là không ai bằng ». Nói xong, ông úp sấp người xuống chiếu, nằm yên như ngủ để khỏi nghe « má hắn » cằn nhằn thêm . Những lần như rứa, cu Tý thấy má ngó ba, rồi bật cười . Má vừa đi ra khỏi phòng, vừa nói lớn : « Đồ lớn rồi mà như con nít . Răng mà hắn giống thằng cu Tý rứa không biết ». Ba ngẩng đầu, vừa cười vừa nói với theo : « Ừ, thì con nào cha nấy mà lại ». Má di thẳng không ngoái lại nhưng mắt má sáng cả nét cười .

Má cu Tý còn trẻ, nổi tiếng đẹp và đảm . Má người miệt Phan Rang giọng nói hơi pha miền quê mẹ . Từ hồi theo chồng về đây, má đổi giọng đi nhiều, uốn lưỡi theo tiếng địa phương, lâu dần má như bỏ giọng cũ . Người trong làng có cảm tưởng như má sinh ra và lớn lên ở đây . Bà nội cu Tý hồi xưa nổi tiếng đanh đá . Vậy mà từ khi có dâu, có cháu, bà bỗng hiền khô . Thương dâu còn hơn thương con nữa .

« Dâu hắn săn sóc mình chớ thằng Hai thì chỉ làm mặt, hỏi qua loa rồi thôi, chẳng được tích sự chi cả ». Bà thường đem câu đó ra chứng minh cho cái tình nồng đượm bà dành cho má cu Tý . Hẳn từ xưa bà chưa được ai săn sóc chu đáo, thương yêu như má cu Tý đối với bà .

Hôm má đi, bà nội một tay dắt Tý, một tay ôm nải chuối tiêu . Má dành cầm dùm mấy, bà nội cũng không chịu . Bà nhìn đống hàng trên tay má, rồi lớn giọng nói như mắng : « Xách chừng nớ, tay mô nữa mà cầm dùm . Khi mô mỏi tao nhờ thằng Tý ôm cũng được ». Má phải vâng lời nhưng thỉnh thoảng liếc nhìn nải chuối chĩu trên tay gầy khô của bà mà ái ngại .

Ba đi một bên má, khập khiễng . Chân ba chưa lành nên không đem dùm chi cho má được, ba có vẻ băn khoăn lắm . Con đường từ làng ra ga xép không xa mấy . Cu Tý vẫn thường ra đây ngắm mấy toa tàu vừa nhỏ vừa đen đủi chạy qua, phì khói đen xì, dơ ác . Đôi khi cu Tý vẫy tay với những hành khách trên toa xe . Có người ngó cu Tý cười, có người vẫy trả . Cu Tý thấy vui vui . Họ toàn là dân ở các làng bên cạnh, làm người buôn bán, chả mấy khi Tý trông thấy những người sang trọng, đem chút hơi hướng của kinh thành hào nhoáng về . Dường như mỗi lần có người lên thành sống là đi mãi mãi, không trở về nữa . Cu Tý tự hỏi, tại sao thế nhỉ .

Bốn người tới ga chẳng sớm chi mấy . Thiên hạ đã nhốn nháo, người loay hoay khiêng hàng hóa lên tầu, kẻ thì tay xách nách mang, nhớn nhác tìm người quen . Má cu Tý đến toa gần đầu máy nhất, leo lên bỏ hết nào xách, nào va li xuống dưới gầm ghế . Xong má leo xuống, đứng cạnh bà nội, ba và cu Tý . Bà nội run run đưa nải chuối cho má :

- Đem theo mà ăn dọc đường cho khỏe nghe con . Vô trong nớ, thu xếp mau mau mà về . Nhà không có ai, tao thì già lẩm cẩm, ba thằng Tý thì què quặt ...

Bà nội sụt sùi khóc . Má cũng rưng rưng nước mắt an ủi bà :

- Mạ đừng lo . Con vô chừng một hai ngày là con về liền . Rồi mạ cũng đi cho rồi chớ ở chi một mình, một thân ai lo cho mạ ? Kệ, nghèo túng chật chội mà có mạ có con vẫn hơn mạ hỉ, mạ đi với tụi con nghe mạ ?

Bà nội lắc đầu, vẫn khóc :

- Thôi, tao ở đây . Đi hết rồi để nhà cửa mồ mả cho ai ? Tao già rồi, đi mô cũng chừng nớ

Bà vỗ đầu cu Tý đang nép sát vào người bà :

- Thằng chó ni rồi cũng quên tao mất thôi .

Tiếng còi tàu ré lên như con vật già nua chợt nổi giận . Bà nội hốt hoảng đẩy má cu Tý đi :

- Thôi, mau lên cả tầu hắn chạy đi chừ . Mau lên mà về nghe con .

Má cu Tý ôm cu Tý vào lòng, hôn lên má cu Tý như mưa bấc, rồi vội vã quay đi .

Khi chuyến tàu đi xa, ba còn đứng nhìn theo, bà nội vẫn sụt sịt . Lần thứ nhất, cu Tý thấy bà khóc nhiều đến thế . Khi về cu Tý hỏi :

- Tối nay má có về không bà ?

Bà nội gật gật đầu, nói không ra tiếng .

Đêm hôm ấy, cu Tý nhất định thức chờ má về, cu Tý vẫn quen lệ đêm đêm thu mình trong lòng má . Mùa đông, má là lò sưởi tốt nhất, mùa he, má vưa ru Tý ngủ, vừa phe phẩy quạt . Cu Tý quen được sờ làn da mịn mát của má, những lần ngước lên, Tý thấy mặt má êm dịu một cách lạ lùng . Tai cu Tý quen nghe điệu ho êm mà buồn xa vời, thể hiện qua niềm luyến quê của má . Có khi cu Tý thấy nước mắt má thấm trong tóc mình ấm nóng . Tý thương má ác .

Mấy lần bà nội dục Tý đi ngủ, cu Tý cứ trơ ra, hai mắt mở thao láo . Cu Tý ngồi ở góc giường; bó gối như người lớn . Tý đợi má về ru Tý ngủ . Bà nội bỏ tấm chõng, sang giường Cu Tý . Bà ôm cu Tý vào lòng, vuốt mái tóc mềm ngắn của Tý :

- Ngủ đi rồi má mày về, khuya rồi . Ngoan không bà đánh .

Cu Tý lắc đầu :

- Tý đợi má Tý về ru Tý ngủ .

- Gớm, 6, 7 tuổi đầu mà còn vòi má . Hay là vào ngủ với bố mày đi .

Cu Tý vẫn lắc đầu . Ba cu Tý không nhúc nhích . Hẳn ông ngủ say . Cu Tý vẫn thắc mắc . Sao người ta ngủ say mà lại thở dài được nhỉ .

Cu Tý đợi lâu quá mà má vẫn không về . Mắt cu Tý ríu lại . Cu Tý thỉnh thoảng có cảm tưởng như bị một vật gì đè nặng lên người, cu Tý gục xuống, rồi chợt tỉnh; mệt kinh khủng . Dần dần, không chịu được cơn buồn ngủ phá quấy, cu Tý vòng tay lên đầu gối, gục đầu ngủ ngon lành . Bà nội nhìn cu Tý, nước mặt rưng rưng . Bà ôm chầm lấy đứa cháu bé bỏng, xoa đầu tóc ngắn ngủn của cu Tý, và khóc vùi . Linh tính bà báo cho bà biết rằng bà sắp xa những người thân yêu, xa mãi mãi . Tiếng súng vọng về nghe thật rõ, mà cũng thật quen thuộc .

*****

Má cu Tý đi được hai ngày thì có người tìm đến nhà, đưa bức thư của má . Má bảo phải lo thu xếp chuyện làm ăn và giữ nhà . Má giục cả nhà lên với má kẻo má lo lắm, ăn ngủ không yên . Bà nội nghe đọc thư xong, không nói một tiếng, hai mắt nhìn xa vời . Ba thì lặng lẽ thu xếp đồ đạc . Không riêng gì nhà cu Tý, những nhà bên cạnh cũng lăng xăng dọn lên tỉnh .

Những buổi chiều như hôm nay, cu Tý thấy họ kéo nhau ra nghĩa địa sau làng như để thăm mồ mả những người thân trước khi rời làng . Những người đàn ông thì trịnh trọng, khăn đe áo dài, mấy bà thì đem nào nhang, nào quả . Khi đi thì hấp tấp, khi về thì uể oải . Cu Tý thấy mấy bà khóc mà thương hại . Tuy còn nhỏ, cu Tý đã hiểu thế nào là tình quê hương . Bọn thằng Năm, thằng Bò đi rồi, cu Tý nhìn cánh đồng trống mà nhớ mấy con diều giấy xanh đỏ vô hạn, nhìn dòng sông thì nhớ những lần xuống tập bơi, uống nước gần chết . Mai đây, khi cu Tý đi rồi, cu Tý sẽ ngắm những cảnh mới mà quên mất hương lúa thơm ngọt, vị nước mát lành ở đây không nhỉ ? Không, không đâu, cu Tý không tin mình đi là đi hoài . Còn bà nội ở đây, cu Tý sẽ trở về thăm bà, thăm cánh đồng, lũy tre, dòng sông . Cu Tý có thân thể của một đứa bé bảy tuổi, nhưng nếp sống quê nghèo đã kéo dài nếp sống tình cảm của nó như một cậu bé mười ba . Nó hiểu thế nào nỗi hãi sợ dưới mưa đạn . Nó hiểu thế nào là vị mặn của nước mắt, vị chua của mồ hôi, vị đắng của cảnh nghèo . Cu Tý đã lớn hồi nào không biết .

Cu Tý ngồi trước cửa nhà, đợi ba ra là đi . Bà nội bảo trong người khó ở, không tiễn hai bố con cu Tý lên tàu . Bà nằm quay lưng vào vách, thân gầy yếu run lên nhè nhẹ . Cu Tý biết bà khóc .

Khi ba mang gói quần áo ra, cu Tý vội chạy lại :

- Mình đi chừ ba hả ?

Ba gật đầu :

- Con vô thưa bà mà đi

Cu Tý chạy v ào nhà, đến bên giường bà, nó ngần ngại rồi ôm chầm lấy bà :

- Thưa bà, con đi .

Bà nội quay lưng nhìn cháu, hai mắt hoe đỏ, bà cũng ôm lấy Tý, dúi vào tay Tý tờ giấy bạc trăm, rồi đẩy Tý ra :

- Đi mau đi cháu .

Cu Tý nhìn bà lần cuối . Lưu luyến như chiếc dây xiềng quàng vào chân Tý khiến nó đi nhanh không được . Cu Tý nghe như mỗi ngọn cây, mỗi bước đường đất trắng đều nhỏ nước mắt khóc tiễn . Cu Tý chạy đến bên ba nắm lấy tay ông như tìm một che chở . Từ xa, Tý đã thấy đầu xe hỏa đen ngòm, phun khói phì phì . Tiếng máy xình xịch như bảo như dục : « nhanh đi, nhanh đi ».

Leo lên tàu rồi, ba dắt cu Tý đứng bên cửa sổ nhìn về hướng làng . Con đường đất cát ngoằn ngoèo khuất sau hàng tre thấp . Cu Tý nhìn những nhánh cau vượt lên từ những mái tranh đu đưa nhè nhẹ theo chiều gió . Tàn lá phất phơ như vẫy tay . Bóng chiều nhẹ bay về, đậu trên mấy đám mây trắng đang thong thả ngủ trên trời cao . Cu Tý ngước nhìn ba, chưa bao giờ cu Tý bắt gặp nét não nùng trong mắt ba nhiều đến thế .

Cu Tý nghĩ về bà nội, thương bà quá . Bên cạnh Tý còn ba, và sau này thêm má nữa . Còn bà nội, ai sẽ ở bên cạnh bà đây ? Cu Tý tưởng tượng mỗi sáng bà nội lui cui đun nước, hay quét sân, hoặc không làm gì hết, thu mình trên chõng tre, hẳn bà buồn kinh khủng lắm . Bà sẽ nhớ, chắc chắn là nhiều hơn cu Tý nhớ, bà sẽ buồn, chắc chắn là nhiều hơn cu Tý buồn và bà sẽ khóc, nhiều hơn bao giờ hết trong đời .

******

Cu Tý vẫn mong có ngày trở về quê cũ, để ngắm cánh đồng cỏ mượt, để ngắm dòng nước xanh lơ . Nhưng mỗi lần nhắc đến, ba má đều gạt đi . Cu Tý không bao giờ biết đến rằng làng cu Tý bây giờ chỉ là bình địa và cũng không bao giờ có thể tưởng tượng được bà nội của cu Tý đã lòa vì nước mắt và đã chết trong một trận mưa đạn .

Ba má cu Tý đã thao thức bao đêm vì nỗi ân hận không được chôn nắm xương tàn của mẹ . Ba má của Tý không mặc đồ tang chế, để tự an ủi mình rằng, những tin đồn ấy biết đâu chỉ là những tin đồn không căn cứ, và để nghĩ tưởng rằng bà nội vẫn còn quanh quẩn nơi căn nhà xưa, vẫn mỗi sáng mỗi chiều cúc cu gọi đàn gà con vàng tơ về ăn thóc .

3. Những Con Số

Ba vẫn thường cốc vào đầu cu Tý mà la lên :

- Trời ơi ! Sao mà mày dốt thế hả Tý ? Thực tao chịu, không làm cho mày tính được hai với hai là bốn. Thế mà cũng học lên lớp nhì thì lạ thực.

Rồi Ba quay sang Má :

- Hay mấy cô mấy thầy nó cộng điểm nhầm ? Chứ thực tôi thấy nó dốt quá cỡ rồi đó. Ai đời chỉ có mỗi cái phân số mà nó cũng không làm nổi.

Ba thở dài, chán ngán nhìn cu Tý đang cúi đầu, sợ sệt. Cuốn vở nằm lơ đãng trên bàn, mấy dấu gạch đỏ của ba chằng chịt như những vết roi hằn lên tâm hồn thơ dại, nguệch ngoạc của những hàng chữ non nớt.

Cu Tý cũng biết mình dốt toán. Dốt ghê lắm. Không bao giờ cu Tý có một điểm tốt về toán chạy, mà cũng chưa bao giờ cu Tý được sung sướng ngắm hai con số 1 và 0 tròn trĩnh, nằm thân ái bên nhau, cạnh bài toán làm ở lớp. Quả thực cu Tý dốt toán quá. Chả thế mà ba phải bỏ thì giờ dạy cu Tý học; chả thế mà ba đã phải nản lòng. Ba vốn là một kế toán viên của một hãng buôn lớn trong thành phố. Suốt ngày, những con số chạy ngang dọc trong óc ba, chạy trên bàn tính, chạy trên mấy cuốn sổ dày cộm ! Vậy mà ba không hề rối trí tí nào. Cu Tý phục ba sát đất. Ba tài thực. Cho cu Tý ngồi chừng 15 phút đồng hồ thôi, là cu Tý đã thấy mệt, đã thấy nhớ thằng Minh, thằng Khoa, nhớ con đường xi-măng láng bóng, những hòn bi ve đủ mầu tha hồ lăn, nhảy, đùa giỡn trên đó. Và cu Tý quên cái đáp số mà cu Tý đã loay hoay tìm kiếm.

Ba vẫn thường bảo với cu Tý, cũng như với má và bà con là hồi nhỏ ba giỏi toán lắm cơ. Lúc nào ba cũng đầu lớp về môn toán. Ba cộng, trừ, nhân, chia nhanh như máy, ba nhớ rất rõ bình phương của một con số, ba nhớ hết đến những gì liên quan đến kết quả mà bài toán của ba có thể đem đến được. Ba quả thực là một thần tượng mà cu Tý vẫn hằng ao ước được trở thành y như thế. Cu Tý tự hỏi : « Tại sao ba giỏi thế mà mình lại dốt ghê vậy nhỉ? » Cu Tý làm sao trả lời được, đó là cả một bí mật chỉ có Thượng Đế mới trả lời được cho cu Tý. Nhưng cu Tý lại không biết điều ấy, cu Tý tin ba phải có một bí quyết nào đó. Cũng như cu Tý giỏi luận là nhờ ba bắt cu Tý đọc sách, những cuốn như « Em luyện Việt Văn », những truyện ngắn trẻ em nho nhỏ, vài tờ báo nhi đồng mà ba đã lựa chọn. Ba không ép, cu Tý cũng đọc hết. Sao cu Tý vẫn thích đọc truyện hơn làm toán. Còn Ba thì chỉ suốt ngày cộng cộng, trừ trừ, ngay cả buổi tối, sau khi ăn cơm xong, ngồi đọc báo, ba cũng chỉ chú ý đến số và số. À, hôm nay thứ ba, báo mới đấy nhỉ. Sao ? Hôm nay gạo lên bao nhiêu một tạ rồi ? À, 530đ, vàng xuống rồi đấy mình à, chỉ còn 9860đ thôi. Quân ta hôm nay đánh hăng ghê, bên mình chết có 3 mà bên địch đến 20... Chỉ có chừng ấy con số, thế mà ba đọc lên, cu Tý cũng thấy rối cả óc rồi.

Má bình tĩnh hơn cu Tý nhiều, bà ngồi nghe chăm chú, bàn góp một câu :

- Ừ, gạo như thế cũng chả lên mấy, hôm nọ em mua...

Cu Tý thôi, chả còn nhớ má mua bao nhiêu lon, một lon mấy đồng nữa. Đâu có ăn thua gì đến cu Tý. Những điều cu Tý đang đợi chờ là trang trong của tờ báo, ở đó có một góc cho nhi đồng, có truyện hnững anh hùng trong nước, có truyện kể những gì đâu ở bên Tây, bên Tàu. Cu Tý khoái nghe truyện Rô-banh đề boa (Robin des Bois), chuyên David Crocket, những truyện cổ tích, vui cười. Cu Tý đọc không sót một bài nào, có khi cu Tý lấn sang cả phần đất của người lớn, cu Tý đọc « Thần phong A Tỷ », đấu phép này, đấu kiếm này. Ba thì ba cấm tiệt, không cho cu Tý có quyền tự do xâm lăng như thế. Cu Tý cũng đâu có muốn thế. Tại đọc hết, mà cũng vẫn còn buồn, cu Tý mới... phạm lỗi đấy chứ. Bởi đọc không liên tục, cu Tý không hiểu những truyện dài lòng thòng ấy nó kết cấu như thế nào nữa. Lâu rồi, cu Tý cũng quên đi.

Mưa mà nằm trong chăn, trùm đến ngực, đọc truyện bằng hình : Mickey, Donalt, Tintin thì tuyệt không chê vào đâu được.

Tuy nhiên, ba không nghĩ thế. Vấn đề làm ba băn khoăn hoài là cái dốt toán của Tý. Ba không muốn một người như ba, nắm trong tay cả sự thành bại một hãng buôn có thể gọi là lớn nhất thành phố, mà lại có thằng con dốt toán vô số kể như vậy. Tuy ba bảo cu Tý không biết cộng hai với hai, sự thực cũng không tệ đến thế. Cu Tý chỉ vô tâm lúc làm toán thôi, nghĩa là cu Tý có thể cộng 16 với 15 thành 30 không chừng. Mà cu Tý chả thấy thiệt hại gì mấy. Chị Hai nhà cu Tý thường hay ăn bớt 2 đồng tiền chợ mỗi ngày, vậy mà lúc tính cho má chị cộng làm sao vẫn đủ 100đ tiền chợ như thường. Má có trách gì đâu ? Cu Tý chỉ mới sai có mỗi một con số mà ba đã đe đánh đòn, bất công thực !

Dù sao, cu Tý không oán ba tý nào. Ba chỉ bực mình khi dạy toán cho cu Tý thôi, còn thì lúc nào ba cũng hiền và vui vẻ với cả nhà. Cu Tý thương ba, thương má ghê vậy đó. Nhưng thương thì thương, cu Tý vẫn hằng mong ba tha cho cu Tý học toán mỗi buổi chiều đi. Cu Tý chỉ đi học buổi sáng thôi. Buổi chiều của lớp khác. Chả là vì học sinh thì đông mà trường ốc thì hiếm. Mỗi sáng cu Tý học bốn giờ đồng hồ, từ 8 đến 12 giờ trưa. Cu Tý thích đi học hơn, có bọn thằng Minh, chơi vui ghê lắm. Vui hơn ngồi nhà, rối óc với mấy con số của ba. Trước khi đi làm, lúc nào ba cũng để sẵn một bài toán số học và một bài hình học để cu Tý làm. Tối về ba chấm bài, giảng lại cho cu Tý. Được một tháng, cu Tý có tiến hơn trước chút đỉnh. Nhưng thích thì cu Tý chả thích tí nào hết à. Giá ba thay hai bài toán bằng cách cho cu Tý đọc truyện, như truyện « Bạch Tuyết và 7 chú lùn » chẳng hạn, rồi tối ba bắt cu Tý kể, thì thích hơn nhiều. Cô giáo Hiền dạy cu Tý vẫn thường khen cu Tý láu, ăn nói duyên dáng tệ...

Chiều nay cũng mưa. Mưa từ suốt tuần nay. Má đã tìm soạn lại chồng áo len cũ cắm cúi mạng lại những nơi sút chỉ hay lỗ thủng vì gián cắn. Cu Tý bắt đầu thấy lạnh về. Mưa mới đầu mùa mà đã lớn. Nước tuôn như thác.

Con nước chảy từ máng xối xuống cái rạch con, chảy vào ống cống nước cuồn cuộn như giòng sông nhỏ.

Tuy ngồi học, cu Tý vẫn ngắm làn nước bạc trắng, sóng gợn, trông mạnh mẽ mà thích mắt làm sao ấy. Cu Tý nghĩ đến một dòng sông, cu Tý nghĩ đến một chiếc thuyền. Ừ nhỉ, giá có một tờ giấy, xếp làm đò thả lên con nước thì hay quá. Con bé Thúy, em cu Tý, chắc là phải thích. Con bé vẫn phục tài xếp hình của cu Tý. Xếp sòng mà !

- 7 với 8 là, 7 với 8 là... là mấy nhỉ. Quái, mình chả nhớ gì hết. Xem nào !

Cu Tý xòe tay ra đếm :

- 7 rồi nhé, này 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15 vậy 7 với 8 là 15, viết 5 nhớ 1...

Tiếng mưa vẫn ào ào trên mái, tí tách nhỏ xuống đất cứng, gió nữa. Cu Tý tính mãi vẫn nhầm. Cu Tý buồn quá.

Con bé Thúy đã ra đứng trước cửa, đưa bàn tay bụ bẫm bé xíu của nó, hứng những hạt mưa chảy liên miên, xuyên qua kẽ tay chụm lại vụng về, và rơi xuống đất. Con bé có vẻ buồn vì phải chơi một mình, chốc chốc nó nhìn về phía cu Tý, xem anh nó đã xong chưa.

Thường lệ, cu Tý có lâu lắm cũng chỉ hai giờ đồng hồ là xong. Vậy mà hôm nay ngồi suốt một giờ, cu Tý chả làm gì ra hồn cả. Cu Tý thèm tắm mưa, nhất là thèm thả thuyền giấy. Cu Tý mà xếp thì phải biết, ăn đứt thằng Minh, thằng Khoa. Cu Tý chấp luôn cả thằng Dũng ở đàng bác Huyên nữa đấy. Cái thuyền giấy làm cu Tý bồn chồn. Mưa muốn nhẹ đi, cu Tý sợ mưa tạnh thì làm sao con nước của cu Tý chảy nữa.

Cu Tý nhìn trong phòng, má không có ở đấy. Có lẽ bà ngủ rồi cũng nên. Chị Hai chắc ham mấy câu vọng cổ. Cu Tý ngoắc bé Thúy :

- Ê !

Con Thúy sung sướng vì có bạn, chạy về phía anh nó.

Cu Tý ra dấu cho bé Thúy lại gần. Nó nói nhỏ vào tai con bé :

- Mầy có muốn thả thuyền không ?

Mắt con bé sáng lên, gật gật đầu. Thằng bé kiêu hãnh. Nó biết con Thúy cũng phục tài nó :

- Mầy đi kiếm giấy đi. Tao làm xong bài này, tao xếp cho.

Má vẫn mắng cu Tý hoài về chuyện mày tao với em, nhưng cu Tý thấy thích gọi như vậy, nó vừa có vẻ thân mật vừa có vẻ ra lệnh, oai lắm. Ba vẫn gọi cu Tý bằng mày đấy, và cu Tý thấy ba vẫn thương cu Tý. Tiếng « mày » của ba nghe êm ái chứ không cộc cằn như ông Tư mập gọi bà vợ ổng.

Cu Tý lại cúi xuống bài toán. Thật chán. Đến đâu rồi nhỉ. Cu Tý quên rồi. Nó lại bắt đầu mò mẫm : 7 với 8 là 15 viết 5 giữ 1...

Quái, cái con bé đi lâu ghê mà vẫn chưa đưa giấy cho người ta xếp thuyền. Trời tạnh mất còn gì.

May cho cu Tý, trời lại bắt đầu mưa lớn trở lại. Nước lại xuôi dòng... Mãi sau, bé Thúy mới trở lại, tay cầm tấm bìa màu xanh. Thúy bảo thế mới cứng thuyền khó lật ! Cu Tý cũng tạm bằng lòng. Vì quả thực, ngoài cách xé vở, cu Tý chả biết đào đâu ra một tờ giấy... ngon lành như thế.

Hai anh em cặm cụi làm hồi lâu mới xong. Chiếc tam bản, có cả mui trên có cả ông lái đò nằm trong lòng thuyền nữa. Cu Tý bảo ổng trốn mưa nên mới nằm như thế. Sau đó, cu Tý chạy trước, bé Thúy chạy sau. Hai anh em tiến đến « Dòng sông Vĩnh Biệt » của chúng. Cu Tý trịnh trọng đặt nhẹ chiếc thuyền xanh xuống dòng nước chảy xuôi. Mạn thuyền hơi lắc lư, rồi êm ái xuôi theo con nước chảy vào ống dẫn nước. Cu Tý sợ mất thuyền, chạy ra lượm lên. Lần này đến phiên con Thúy hạ thủy cái « chiến hạm đơn giản ấy ».

Cu Tý miệng nói huyên thuyên, kể cho con Thúy hàng chục truyện chắp vá chỗ này chỗ kia. Con Thúy nghe say sưa, và trong khối óc bé bỏng của nó, những thác nước, rừng sâu bắt đầu lên tiếng hát. Cu Tý cứ vừa kể vừa làm động tác vừa cho thuyền cập bến, rồi lại chuyển bến. Con Thúy cứ nghe, cứ cười, cứ tưởng tượng... Và trong bàn học cu Tý, mấy con số nằm dở dang vẫn cứ mở ngỏ như thế. Cu Tý quên béng đi hai bài toán mà nó phải nộp cho Ba trước khi Ba đi làm về.

Mãi đến lúc nghe tiếng máy nổ quen thuộc, cu Tý mới giật mình. Thôi chết rồi, hai bài toán chưa xong. Cu Tý chạy ù vào nhà, để con Thúy ngồi ngơ ngác với chiếc thuyền giấy xanh ướt nhẹp.

*****

Bước vào phòng, trước nhất ba thấy là giấy tờ nằm ngổn ngang, trên bàn, dưới đất. Thôi, có đứa nào lục soạn bàn của ba rồi. Đứa nào vậy ? Ba vừa đi làm về nên thấy vậy, ba bực mình ghê lắm. Thế là liều quá, gan quá rồi ! Con với cái, tò mò ! Ba giận lắm nhưng ba cố nén, phải xem có đúng là mấy đứa lục soạn không đã, hay là ăn trộm, vô lý, má ở đấy, chị Hai đấy. Cả hai đứa nhỏ nữa !

Ba cởi áo mưa, móc mũ lên giá, rồi lại bàn giấy. Bằng này, đơn này, thư này, bao nhiêu là thứ nằm vô trật tự. Ba đã sắp xếp chúng mất công không biết bao nhiêu. Vậy mà trong có vài giờ đồng hồ vắng nhà, đã ra thân thế như vậy đó. Có đáng giận không ?

Ba gọi lớn :

- Cu Tý !

- Dạ !

Tiếng « dạ » của cu Tý nó mới thảm làm sao thực trái ngược lại với giọng của ba, vừa hằn vừa đe dọa. Cu Tý nghe như có cả tiếng roi vút trong tiếng gọi ấy, nó xanh mặt, run rẩy.

- Vào đây !

Ba lại hét lên, lần này có vẻ gay gắt hơn, cu Tý lò dò bước vào, mắt lấm lét nhìn khuôn mặt đỏ gay của ba. Trước mắt nó, giấy tờ ngổn ngang. Nó quả thực chưa hiểu có chuyện gì.

Vừa lúc ấy con Thúy đi vào, tay cầm chiếc thuyền giấy màu xanh sũng nước. Thôi, đúng là con bé Thúy rồi, tai hại bạc triệu !

Ba cũng thấy tờ giấy trên tay con Thúy. Ba biết rõ hai đứa con yêu dấu của mình là nguyên nhân đích thực của vụ rối ren trong bàn ba.

Khỏi nói, cu Tý và bé Thúy bị nằm sấp ăn mỗi đứa bốn roi đích đáng. Thường, cu Tý đã ghét mấy con số, lần này cu Tý lại ghét thậm tệ. Mỗi lần giáng ngọn roi xuống đôi mông dầy thịt của cu Tý, ba lại đếm :

- Một roi, cho nh