Bức điện ngắn ngủi. Tôi đọc và không tin ở mắt mình. Chiếc ấm điện chưa đổ nước đã cắm phích, vài khắc nổ tung. Thạch giật minh chúi đầu vào bức chân dung đang vẽ dở. Tôi nhẩm nhẩm đọc lại: ‘’Em hay vô đây, anh đã xây cho chúng ta một ngôi nhà…’’.Thạch dành bức điện, lướt mắt rồi vò nát:’’ Thằng nào?’’ .Tôi không trả lời, ểu oải nằm vật ra giường.Thạch tức tối vò bức tranh. Tôi như trượt về ký ức. Đà Lạt năm ấy giữa mùa hạ chói gắt, chiecs xe khách vất vả vượt đèo Ngoạn Mục. Tôi đến Đà Lạt, bên này đỉnh đèo là mùa dông rét mướt. Cái lạnh đột ngột phả vào nỗi bức bối mà tôi đang phải chốn chạy. Mờ sương thằng Nhỏ lên từ trước đón tôi ở cổng khách sạn. Nó ôm vai tôi nhăn nhở: ‘’Tôi vừa phát hiện ra món đặc sản của Đà Lạt. Bà sẽ nghiện đấy…’’ Tôi bật cười, tôi chưa bào giờ biết nghiện thứ gì ngoài trừ nỗi cô đơn bẩm sinh của mình. ‘’Đi ngay tôi sẽ chỉ cho chị!’’. Nó kéo tôi tắt qua đồi thông sau nhà, đến chỗ hai cây thông bát chéo nhau. Nó chỉ một người đàn ông ngủ say: ‘’Đặc sản đấy…’’. Gã đàn ông ngẩng phất dậy, hoảng hốt như bị mất cắp. Gã nhìn sững tôi, hai lòng đen trong mắt như thủy tinh, ngây dại. Tôi bực mình, véo tai thằng Nhỏ: ‘’Cái trò cũ rích’’. Nó đẩy tôi ngã mạnh vào người đàn ông, gào lên: ‘’Chị Thụy đấy, anh quỳ xuống đi’’.Gã đàn ông ôn vai tôi thều thào: ‘’Qua thằng Nhỏ này, tôi đã điêu đứng vì em’’. Tôi lùi ra xa nhìn thẳng gã. Qủa cũng không đến nỗi nào, giọng Huế dịu dàng rất hợp với dáng vóc thư sinh. Tôi chợt thấy dịu lại.

Nhà thơ Đặng Thi Thanh Hương

        Đà Lạt đang mùa hoa hắc quỳ (cái tên nghe đã thấy lạ lùng). Những cánh hoa nhỏ ly ti màu xám ngắt , tỏa mùi hương rất đặc biệt. Một mùi hắc xộc thẳng vào mũi, rồi dai dẳng bám kín người, ngửi lâu có vẻ thơm rất kỳ lạ. Chỉ sau hai ngày, tôi đã thấy mê đắm những bông hoa nhỏ bé này. Tứ – tên gã đàn ông – bảo: ‘’Em tinh đấy, không phải ai cũng yêu được hoa hắc quỳ’’- Ngọn gió lướt qua thung lũng vượt qua đỉnh đồi và cười reo giữa những chùm hoa nhỏ. Tôi nhìn thấy ngọn gió len lỏi trong từng rạng thông đầy bụi bám, vừa thôi bay những chiếc lá mỏng rụng khắp đồi. Đà Lạt nhiều gió quá. Tôi thường ngồi cả ngày trên đồi thông trong nắng gió, cảm thấy tất cả xa vời ở quá khứ nào đó. Không có nỗi ngột ngạt trong tình yêu của Thạch. Không có những búc chân dung nham nhở khắp căn phòng chật, không có vẻ cau có trên gương mặt nhám nắng của người đàn ông tôi yêu. Không có sự tuyệt vọng buổi chiều lục mãi trong túi tìm một đồng tiền lẻ. Tôi bỗng ghê sợ những hạt lạc rang muôn thủa rắc đầy bát mỗi bữa cơm. Cái ồn ào thành phố và nụ cười xã giao trong công sở. Bỗng chốc tôi sợ hãi nghĩ đến ngay về. Tôi nhìn xuống phía dưới. Đạt Lạt bình yên và thơ mộng. Vó ngựa gõ mặt đường uốn khúc quanh hồ Xuân Hương đi về khu chợ. Tôi hít hà hồi lâu hương thơm thâm trầm và se sắt của hoa hắc quỳ.

       Mỗi tuần ở Đà Lạt, tôi cùng thằng Nhỏ và Tứ đi khắp nơi. Cái vẻ ngây vại của Tứ và sự hối thúc của thằng nhỏ làm tôi buồn cười, dù sao tôi cũng tìm được cho mình những ngày tháng công bằng. Tứ kể cho tôi nghe câu chuyện đồi thông hai mộ. Chuyện kể rằng: xưa có đôi trai gái rất mực yêu nhau, nhưng chàng trai phải ra trận. Ngày ra đi hai người đưa nhau lên đồi thông này thề hẹn sẽ sống chết có nhau. Chàng trai đi lâu lắm. Cô gái ở nhà bị cha mẹ ép gả cho con trai một tên quan châu trong vùng. Cô bỏ nhà lên đồi thông ngồi khóc hai ngày hai đêm. Đến lúc kiệt sức cô lê xuống hồ nước giữa thung lũng trẫm mình. Ngày chàng trai trở về, nghe tin dữ chàng ngồi bên mộ người yêu rồi rút gươm tự sát. Người dan quanh vùng đặt hai người nằm cạnh nhau. Đời này qua đời khác, đồi thông Hai Mộ có tên từ đó. Còn hồ nước giữa thung lũng nơi cô gái trẫm mình gọi là hồ Than Thở.Thung lũng Tình Yêu trở thành địa danh cho bao người đến thăm thú. Tứ bảo rằng, năm nào cũng có vài cô gái tự tử ở hồ Than Thở. Những đôi tình nhân đem nhau tới đây, thề nguyện yêu nhau trọn kiếp. Thung lũng Tình Yêu và đồi thông Hai Mộ như nơi minh chứng cho lòng chung thủy của người đời. Câu chuyện của Tứ bất giác làm tôi rùng mình. Một cảm giác mất mát đè nặng lên trái tim. Tôi hốt hoảng bảo thằng Nhỏ: ‘’Phải về thôi chị thấy lo cho Thạch…’’.’’Chị không thể sống cho riêng mình chút sao? Tôi thấy chị quá mệt mỏi vì cái gã họa sỹ bất đắc chí ấy rồi ấy’’. Nhỏ bực bội. Tôi chợt thấy Tứ quỳ xuống trước mặt, tay nâng cao những chùm hoa hắc quỳ, đôi mắt nhìn tôi bất động: ‘’Em hãy ở lại, tôi yêu em’’. Đừng náo loạn lên như thế, đứng lên đi, tôi không thích đàn ông yếu đuối’’. Tứ cúi đầu: ‘’Em khó thương như loài hoa dại này’’. Dúi vào tay tôi bông hoa ướt sương. Tứ bỏ đi. Mùi hắc xộc thẳng vào cổ họng. Tôi thấy nghẹt thở.

       Thằng bé thất bại. Nó buồn ra mặt. Hôm sau nó tuyên bố: ‘’Ngay bây giờ chúng ta sẽ đi Sài Gòn, may chăng ở đó tôi sẽ tìm được cho bà cái bà cần’’. Thằng bé tự tin quá. Chính tôi, tôi cũng không biết mình cần gì. Đà Lạt đầy tình ái với ma lực hối thúc. Những người yếu đuối dễ dàng sa ngã với một nơi như thế này. Tôi cũng muốn mình buông thả một lần, may chăng có thể quên Thạch cho những điều vô nghĩa và cần thiết cho tình yêu giữa hai người. Nhưng tôi đẫ không làm thế. Đúng hơn tôi thấy quá mệt mỏi và chán ngấy khi nghĩ tới một tình yêu mới. Chuyện tôi và Thạch còn tệ hại hơn cả những bi kịch gia đình. Chúng tôi chưa thể cưới nhau vì cả hai chẳng có gì trong tay. Cũng không thể xa nhau vì những rằng buộc của thời gian và kỷ niệm. Cùng sống trong gian phòng mười hai mét vuông, giá chi cho tình yêu mỗi tháng là ba trăm nghìn đồng. Không kể tiền điện, tiền nước rồi chợ búa. Thạch ra trường chưa xin được việc, với năng khiếu sẵn có, anh ngồi vẽ la liệt những bức chân dung chộp được bất kỳ ai. Buổi sáng thức dậy, anh vội vàng mở ô cửa sổ nhìn xuống đường, những khuôn mặt trong khu tập thể được anh đưa tất vào tranh. Đến nỗi hầu như những chủ thể trong khu nhà đều chen chúc trong căn phòng mười hai mét vuông của chúng tôi. Khiến cho không khí càng thêm khó thở. Anh luôn đánh giá cao những bức vẽ của mình, và có lẽ anh sống bằng chính hy vọng tuyệt vời ấy. Anh yêu màu vàng của Van Gogh và kính nể thời gian chảy sệ trong tranh Daly vì thế chân dung anh vẽ