BÀN CHÂN

Kinh Dương Vương

Mùa hè năm 1972, quân đội miền Bắc đồng loạt mở các cuộc tấn công vào các đô thị miền Nam. An Lộc, Quảng Trị, Kontum, những chiến trường tiêu biểu. An Lộc bị chiếm, quân chính phủ miền Nam cố thủ và đánh bật địch ra khỏi tỉnh. Quảng Trị thất thủ, Sư  đoàn 3 tan rã, thành phố trở thành một ruộng cày do bom pháo đài bay B52.

Bây giờ Kontum trong những ngày chờ đợi….

Thoạt tiên là tin một chiếc xe đò bị bắn B40 ở dốc cầu số 3, trên quốc lộ 14, tài xế và hai hành khách chết. Hôm sau một chiếc khác, bị đạn AK, xe chạy thoát nhưng ba hành khách bị thương và em phụ xe bị thương nặng, đem vào đến bệnh viện thì tắt thở. Một vài chiếc khác liên tiếp những ngày sau đó cũng chịu tình  trạng tương tự.

Xe đò ngưng chạy.

Quốc lộ 14, con đường huyết mạch duy nhất nối liền Kontum với bên ngoài bây giờ chỉ còn những chuyến xe thồ của những tay mạo hiểm do mấy chị bạn hàng thuê về Pleiku buôn hàng lên bán chợ đen, mỗi chuyến đi về tám ngàn đồng – ngày thường giá xe đò chỉ có trăm rưỡi mỗi bận. Đến lúc có một vài tài xế loại xe ôm bỏ mạng cùng với người mua hàng, xác bỏ nằm giữa đường không đưa về được thì ngay những tay ham tiền bậc nhất cũng không dám bán mạng đi trên con đường “tử thần” đó nữa. Lưu thông đường bộ gián đoạn hẳn, bộ đội miền Bắc trấn giữ, cắt đứt ở đèo Chưpao.

Trong thời gian đó, thành phố và phi trường Kontum mỗi ngày bị pháo kích bốn năm lần, hàng trăm quả hỏa tiễn 122 ly. Một chuyến bay của Hàng Không Việt nam bị trúng đạn. Nhà đợi đổ nát, cô tiếp viên chết, nhiều hành khách bị thương.

Hàng không Việt nam ngưng các chuyến bay.

Thành phố Kontum bị cô lập.

Tình trạng đó kéo dài hàng tháng…Mỗi ngày áp lực bộ đội miền Bắc tăng mạnh. Các lực lượng trừ bị được tăng viện gấp rút bằng cầu không vận, vào trung tuần tháng tư. Nhiều vòng đai phòng thủ được thiết lập quanh thị xã.

Tình hình căng thẳng.

Đêm 24 rạng sáng 25 tháng tư, Dakto và Tân Cảnh mất. Quân miền Bắc đánh thẳng vào Bộ chỉ huy Sư đoàn 23.

Tin Dakto và Tân Cảnh, hai thị trấn biên giới phía Bắc tỉnh lỵ Kontum lọt vào tay quân miền Bắc đã gieo vào lòng đám dân thị xã nỗi hoang mang khôn tả. Mọi sinh hoạt, từ lâu vốn đã ở trong tình trạng tê liệt, trở nên đình trệ hẳn. Cả thị xã náo động như một tổ ong thình lình bị lửa đốt.

Bấy giờ, căn nhà, cái tổ ấm ngày thường của họ không còn là nơi họ cảm thấy yên tâm duy trì đời sống nữa. Nhưng lại là các con đường và chiếc máy thu thanh.

Ban ngày, người ta túa ra đường nghe ngóng tin tức. Tụm năm, tụm ba bàn bạc. Nét mặt luôn nghiêm trọng, họ tiên đoán thời cuộc, đưa ra những nhận xét với giọng điệu chủ quan, nhưng ánh mắt cho thấy họ không tin vào những điều họ vừa nói. Họ muốn chia sẻ nỗi âu lo bằng cách nghe những người khác cãi lại khi họ đưa ra những luận điệu bi quan.

Đêm đến, chiếc máy thu thanh khổ thân với họ. Họ đón nghe mọi đài phát thanh ở nước ngoài mà họ nghĩ rằng nguồn tin khách quan và trung thực hơn đài trong nước. Đài BBC, Viễn Đông Manila, Úc Đại Lợi…nghe cho bằng hết, họ trở nên bi quan hay lạc quan tùy theo những tin tức của các đài đó. Họ hy vọng phút trước để rồi thất vọng phút sau, lạc quan đài này, bi quan đài nọ. Lắm khi những tin tức trái ngược nhau đem đến cho họ nỗi lo âu, rồi bực tức, họ chửi đổng là mấy thằng nhà báo nói láo, mấy thằng phóng viên ngồi nhà viết tin…

Nhưng nỗi phập phồng đó kéo dài không lâu, tình hình trở nên sáng tỏ đem lại cho họ một quyếùt định dứt khoát. Họ phải rời nơi cư trú.

Ba hôm sau, vào một buổi trưa nắng gay gắt, một  đứa nhỏ từ ngoài đường chạy hớt hơ hớt hãi vào xóm hô hoán lên là có những người chạy từ trên Tân Cảnh về. Mọi người ùa ra xem. Đó là những toán đầu tiên của đám dân lánh nạn cùng với những người lính di tản chiến thuật, thất thểu, lạc hồn lạc phách, tả tơi, tất tả như bị ma đuổi từ vùng lửa đạn thoát được chạy về tới thị xã. Họ bị vây lại hỏi han trăm thứ chuyện.

Trong khi đám dân lánh nạn cảm thấy sung sướng được sống còn đã chạy xa khỏi vùng đất giao tranh, yên tâm ngồi nghỉ bên vệ đường – mặc cổ khát cháy bỏng, mặc bụng đói ba ngày chưa được ăn, mặc chân tay rã rời, bàn chân phồng lột da – thì đám dân trong thị xã lại không kham nỗi khi nghe những mẫu chuyện do họ kể lại, sau đó đã loan truyền ra nhanh chóng – qua mỗi người kể, câu chuyện lại có vẻ kinh khủng hơn.

Niềm tin và sự an tâm khó truyền đạt, nhưng nỗi hoài nghi và sự bất an dễ gieo rắc.

Bóng giặc chưa thấy mà khí thế giặc đã lan tới, đánh vào tâm não dân chúng một đòn chí tử.

Tai họa chưa thực sự tới mà chỉ cái bóng dáng của nó đã che lấp cả thần trí con người, khiến họ kinh tâm. Nhìn vẻ hoảng hốt trên nét mặt và dáng điệu quýnh quáng của họ người ta tưởng tai họa đã đến bên đít rồi. Chỉ một chốc lát nữa đây thôi, chưa biết điều gì sẽ xảy ra, nhưng chắc chắn là ghê gớm lắm. Phải bôn đào tẩu thoát ngay, bằng không ắt hứng lấy họa lớn vào thân.

Họ hộc tốc quay về nhà, vội vàng gom góp mớ của cải, tay xách nách mang, rồi cha con, chồng vợ bồng bế, dắt díu nhau, bỏ nhà bỏ cửa, ba chân bốn cẳng ùn ùn kéo nhau…chạy giặc.

Trong những con đường chật hẹp của thị xã nhỏ bé, một buổi sáng dậy lên bụi mù và tiếng động của người, xe cộ đủ loại, đủ cỡ, những bầy gia súc chen chúc xuôi ngược.

Họ kéo đi nườm nượp, lũ lượt đổ về cái ngõ duy nhất thoát ra khỏi thành phố : Quốc lộ 14, tạo thành một giòng thác cuồn cuộn, hỗn loạn. Sự nôn nóng, hối hả của họ làm trì chậm lại cuộc hành trình.

Cây cầu gỗ bắt qua giòng sông Dakbla, bị giật sập nhịp giữa mấy hôm trước đây, mới sửa chữa tạm chỉ có thể đi được một chiều đã bị nghẽn lối : người ta, xe cộ, thú vật dồn đống lại. Dưới trời nắng, khói xe, hơi người, hơi súc vật lẫn với bụi mù làm cho làn ánh sáng trở nên vàng đục. Bầu không khí ứ đọng, ngột ngạt.

Mặc dù nhân viên công lực làm việc tháo mồ hôi cũng không  giải quyết mau lẹ được tình trạng tắt nghẽn đó. Họ hò hét, la mắng khản cổ, doạ dẫm, xô đẩy trở lại, bắn hàng loạt súng chỉ thiên cũng không ngăn lại được số người đi bộ, cố len lỏi qua hàng rào kẽm gai – chỉ chừa một lối nhỏ – để vượt  qua cầu. Người ta cố chận bắt lại những người ở lứa tuổi 16 – 50, những công chức đào nhiệm – gọi là thành phần cố thủ thành phố – nhưng cuối cùng họ bất lực, làn sóng người tuôn đến ào ạt không còn sức nào ngăn lại nỗi.

*****

 Quốc lộ 14 đang còn chờ khai thông, họ vẫn chưa đi khỏi tỉnh.

Những chiếc xe đầu tiên bị chận lại ở cây số 9. Chính quyền lại thiết lập một trạm kiểm soát. Nhân viên công lực loan báo tin cấm những “thành phần cố thủ thành phố” ra khỏi tỉnh, kêu gọi họ “ý thức bổn phận” trở về, bất tuân sẽ “bị bắn tại chỗ”. Không thấy có dấu hiệu khích lệ, dù họ đang có mặt, lẫn lộn trong đám đàn bà trẻ con. Người ta nói, nhưng không ai nghĩ là sẽ bắt và đem bắn những người đó.

Đoàn xe và người, trải dài trên một đoạn đường mười cây số, từ chỗ bị tắt nghẽn vào tận trung tâm thành phố. Chính quyền loan báo sẽ khai thông quốc lộ, dân chúng hãy yên tâm chờ. Ngày đầu tiên, người ta thấy hai chiếc GMC chở khoảng bốn chục người lính, chạy về phía có giặc. Một lúc nghe có tiếng súng nhỏ nổ, rồi tiếng súng lớn. Một vài cột khói đen và trắng bốc lên, cách chỗ đoàn người đang chờ không xa mấy. Những người lính giữ trật tự cho biết là có đụng độ. Người ta khiêng về những người bị thương đầu tiên. Dân chúng được lệnh rời xa địa điểm hành  quân.

Ngày nắng thiêu, họ chui nấp dưới hàng cây hai bên đường, dưới những mái che tạm bợ. Đêm trải miếng vải dầu, manh chiếu kiếm được trong những căn nhà đã bỏ hoang, lá cây khô, họ ngủ giữa trời sương. Và rồi, người ta chờ đợi trong tình trạng đó ba ngày đêm liền. Cuối cùng chính quyền phải khuyên họ trở về. “Khi nào giao thông tái lập, Tòa Thị chính sẽ thông báo sau”. Họ yêu cầu :”Trong khi chờ đợi, đồng bào chuẩn bị hầm hố đề phòng bom đạn. Chúng ta quyết tâm bảo vệ thành phố đến giọt máu cuối cùng”. Nhưng đó là ý kiến của chính quyền, dân chúng dường như có ý kiến riêng của họ. Có lẽ là họ không lường nổi cái độ cương quyết của nhà cầm quyền, khi mà trước đó tất cả thân nhân của những viên chức cao cấp đã yên ổn ra đi trên một chuyến máy bay đặc biệt rồi – cũng có thể do lòng hoài nghi vì những lý do chính trị thầm kín, vượt quá sự hiểu biết, tin tưởng của họ – và không thích gì chuyện phải đổ ra giọt máu cuối cùng, nên khi biết đường bộ không khai thông được, họ cũng quyết một lòng ra đi thôi, bỏ lại tất cả gia tài, chỉ mang theo một chiếc xách nhỏ.

Bấy giờ chỉ còn duy nhất một lối thoát bằng đường hàng không quân sự Mỹ. Họ kéo nhau ra phi trường ngồi chờ chực máy bay Mỹ đến để xin đi, mặc những cuộc pháo kích, họ bất kể. Họ đi bất cứ đâu, tùy theo lộ trình của các chuyến bay : Pleiku, Nha Trang, Cam Ranh, Đà Nẵng hay Sài gòn… Miễn là họ được rời xa vùng đất mà họ nghĩ, rồi đây sẽ trở thành bình địa bởi đạn pháo kích, bom B52, như một thành phố ở phía Bắc đã nhận chịu số phận đó.

Những người thừa tiền đã không ngần ngại thuê một chiếc trực thăng với giá hai, ba trăm ngàn để chỉ đưa gia đình năm, sáu người từ Kontum về Pleiku, tính theo quốc lộ chỉ non năm mươi cây số. Để mua sự sống, cái giá đó cũng còn quá rẻ, nên các phi đoàn trực thăng, trong thời gian đó, song song với việc hành quân, rất hăng hái làm công tác dân vận, cũng là dịp cứu nhân độ thế.

Ở trong cư xá bệnh viện, chúng tôi cũng chia sẻ hoàn cảnh chung. Cư xá có khoảng mươi người. Thoạt tiên người ta cùng có chung ý tưởng sống chết có nhau. Đi cùng đi, ở cùng ở. Nhưng rồi vì tình trạng căng thẳng tinh thần kéo dài quá sự chịu đựng, nên cuối cùng họ không giữ được ý tưởng ban đầu. Bằng cách này, cách khác, dần dà thấy xảy đến cảnh chia lìa. Mỗi người tự tìm lấy lối thoát cho riêng mình, tùy theo dịp may đưa đến.

Hậu và Thao là hai chị em ruột cùng làm chung một sở. Cả hai đều còn độc thân. Trong khi mọi người đều hầu như  bị tê liệt do tình trạng bất khả kháng của tình thế, chỉ còn ngồi chờ một phép lạ xảy ra để cứu vớt họ ra khỏi tình cảnh bế tắc, tôi không khỏi khâm phục hai cô gái đó, về tinh thần chiến đấu của họ. Trong thời gian chúng tôi ngồi nhà, chịu trận, họ luôn luôn vắng mặt. Họ chạy khắp nơi, khắp chốn, nghe ngóng, thăm dò rồi trở về tường thuật cho chúng tôi đầy đủ những chi tiết về các tin tức thu lượm được. Hai cô chạy đến bất cứ chỗ nào nghe nói có thể giúp phương tiện cho chúng tôi. Liên lạc với những quân nhân cao cấp, có thế lực, không nề hà hạ mình, chịu những sự cợt nhã để mong được việc. Dầu không thành công, hai cô cũng đã giúp ích cho chúng tôi về mặt tinh thần. Có hai cô, chúng tôi cảm thấy yên tâm. Khi số người trong cư xá đã lần lượt tách rời, Hậu và Thao nói với chúng tôi xin cho hai cô được lo liệu riêng, vì tình thế đã có vẻ cấp bách lắm rồi. Chúng tôi buồn  lòng chia tay họ.

Mọi người đã đi hết. Tôi bàn cùng vợ tôi liều đi theo họ, ra phi trường ngồi chờ máy bay Mỹ. Ngoài lối đó, không còn cách nào ra khỏi thành phố đang chuẩn bị đón tiếp bước chân tử thần này nữa. Chúng tôi không đủ can đảm để ra phi trường, có thể, sẽ trở thành cái đích bất đắc dĩ  cho một trái hỏa tiễn đui mù nào đó… Như vậy mọi lối thoát cho chúng tôi xem ra có vẻ bế tắc. Nhưng chẳng lẽ ngồi chờ chết, nên suốt một tuần lễ, mỗi ngày chúng tôi ra ngồi ở sân cỏ bệnh viện – tương đối còn an toàn – chờ đợi vô vọng những chuyến trực thăng đến di tản bệnh nhân để xin quá giang. Nhưng mãi cho đến khi hai mắt của chúng tôi gần như mù vì bụi cát do những cơn gió lốc mùa hạ và lớp đất bám trên người dày tưởng có thể gieo hạt được rồi mà bóng dáng những chiếc trực thăng vẫn chưa thấy đâu. Bấy giờ những chiếc trực thăng đối với chúng tôi giống như những thiên sứ trời cho xuống cứu vớt chúng tôi vậy. Nhưng lại là những thiên sứ lười biếng không làm tròn bổn phận. Chúng tôi cứ ngước mắt lên trời nhìn chúng bay lượn nhỡn nhơ, chẳng chút đoái hoài đến thân phận khốn khổ chúng tôi.

Giữa lúc chúng tôi tuyệt vọng, buông xuôi rồi thì một thiên sứ bổng hiện đến. Một chiếc trực thăng từ đâu bay tới liệng thấp, đảo nhiều vòng trên đầu chúng tôi và hạ xuống trên sân cỏ bệnh viện. Máy vẫn nổ, chong chóng cuốn bụi cát bay mù trời. Một viên phi công nhảy xuống hối thúc chúng tôi lên. Như những người chết đuối vớ được phao cấp cứu, chúng tôi lên máy bay cùng với vài gia đình nữa. Mọi người thầm cảm ơn trời đất đã không phụ lòng kẻ ăn ngay ở lành, gia ân cứu nạn. Mọi người vừa mới hoàn hồn, không ngăn nổi niềm vui tràn ngập lòng họ. Họ mỉm cười nhìn nhau với những ánh mắt sáng ngời niềm hy vọng. Có lẽ vì sung sướng quá, sự may mắn đến bất ngờ ngoài sự cầu mong, họ không biết phải nói những lời gì để cảm ơn mấy viên phi công mà họ nhìn bằng ánh mắt tôn kính như những vị cứu tinh trời sai đến cứu họ, vừa trìu mến như những người thân yêu.

Tôi vuốt tay vuốt tóc, lau mặt lau mày cho được sạch sẽ, sửa sang lại áo quần cho ngay ngắn, như sắp ra mắt một nhân vật quan trọng mà tôi hết lòng kính mến. Tôi thay mặt bà con ngỏ lời cảm tạ họ. Tôi ứng khẩu đọc một bài diễn văn ngắn với những lời lẽ vô cùng đẹp đẽ với tất cả lòng xúc động của tôi đối với hành vi cao thượng của họ. Chúng tôi nguyện sẽ kết cỏ ngậm vành, ghi tạc ơn sâu. Tôi hỏi tên tuổi họ cùng địa chỉ, để khi sóng lặêng gió êm, chúng tôi sẽ tìm đến đền ơn trong muôn một.

Tôi nói với viên phi công phụ, nhờ chuyển lời lại viên phi công chính. Lòng tôi tràn ngập hân hoan, thầm khâm phục mình về tài diễn đạt trung thực những ý tưởng tế nhị trong lúc tâm hồn vừa mới thoát khỏi trạng thái rối ren. Viên phi công phụ im lặng nghe tôi nói, mỉm cười rất dễ thương rồi nói qua máy vô tuyến. Tất cả mọi cặp mắt đều nhìn anh, chan chứa niềm vui và lòng cảm phục. Anh ta quay ra, cũng trong ánh sáng chan chứa tình thương yêu ruột thịt của chúng tôi bao trùm lên người anh. Anh nhìn tôi thật nhanh rồi hướng mắt ra khung cửa, ngập ngừng hỏi tôi:

– Xin lỗi, ông có phải là ông Thật, ở bệnh viện không ?

– Thưa ông, tôi cũng làm ở bệnh viện, nhưng không phải tên Thật, tôi có biết ông ấy. Tên tôi là Hưng. Ông có việc gì cần hỏi thăm, tôi rất vui lòng nói lại khi gặp ông ấy.

Vẫn không nhìn tôi, gã hỏi :

– Ông có phải là người trong gia đình của ông Thật không ?

– Dạ thưa ông không. Tôi vội nói thêm, nhưng chúng tôi là bạn cùng sở.

– Trong số người đi ở đây có cô nào tên Hậu và Thao không?

– Dạ không. Ông quen hai cô ấy? Tôi là bạn họ, ông có thể nhắn bất cứ gì, tôi sẽ nói lại giùm. Hình như hai cô ấy đã đi được rồi.

Gã phi công phụ lưỡng lự :

– Cảm ơn ông, không. Chúng tôi cũng không quen họ.

Gã quay vào phòng lái. Chúng tôi nhìn nhau lo lắng. Đột ngột, chiếc trực thăng đổi hướng bay, hạ thấp xuống, đảo một vòng rồi hạ cánh bên lề quốc lộ trên một vạt ruộng lúa mới trổ. Chúng tôi ngơ ngác hỏi nhau:

– Tới Pleiku rồi hả?

– Ủa, ở đâu vầy nè?

– Sao đi Pleiku mà bay mau dữ vậy?

Viên phi công phụ từ buồng lái bước ra giục chúng tôi:

– Bà con xuống đây đi. Mau lên, kẻo VC thấy được bắn bây giờ.

– Nhưng… Nhưng… Hình như chưa tới mà… Ở đây là chỗ nào? Tôi bối rối hỏi viên phi công. Gã ngó lơ, tiếp tục hối thúc:

– Bà con xuống gấp giùm đi. Chúng tôi còn công tác hành quân.

Sau đó không muốn chúng tôi chần chờ, gã yêu cầu chúng tôi xuống bằng cách đẩy ra khỏi máy bay.

Đứng trong ruộng lúa, nhìn theo chiếc trực thăng xa dần chúng tôi thắc mắc và hoang mang. Ra đến quốc lộ, chúng tôi mới thấy còn đang ở Tân Phú, cách Kontum sáu cây số, nghĩa là chúng tôi chưa đi được tới đâu cả.

Không có xe cộ, chúng tôi phải đi bộ trở về. Vợ tôi lúc nhảy từ máy bay xuống bị trặc chân, về lại đến chỗ khởi hành cách đây chưa quá mười phút, mắt cá chân sưng to lên. Giữa đường lại gặp cơn mưa giông, ướt lóp ngóp, chiều lại đứa bé lên cơn sốt.

*****

 Chúng tôi còn kẹt lại khoảng một tuần lễ nữa. Lúc ấy vòng đai bảo vệ thị xã đã lui về cách trung tâm thị xã không quá năm cây số. Chúng tôi sống những ngày lo âu, hít thở cái không khí bất trắc của trận mạc đã tràn về bao phủ lên thị xã.

Ban ngày lẫn đêm, tai chúng tôi không ngớt vang dội những âm thanh bất ổn. Và chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, thính giác chúng tôi học hỏi được cách phân biệt một cách chính xác mỗi loại tiếng động trong dòng âm thanh đổ vỡ bất tận.

Không cần nhìn thấy, chỉ nghe từ xa, chúng tôi cũng biết được đích xác tiếng động cơ đó là của loại máy bay nào : trực thăng “chuồn chuồn”, “nòng nọc” hay “sâu đo”, phản lực “con ma” hay “sấm sét”…Vận tải loại “cá voi”, “cá mập”…

Tiếng đề-pa của hỏa tiễn 122 ly nghe “bụp” như chiếc bong bóng nổ, rồi ngay sau đó “sạt sạt” hay “rét rét” rất kinh khủng như tiếng run lên của hàng vạn lưỡi thép mỏng – tùy theo xa hay gần – tiếp theo tiếng nổ ầm ỉ dòn tan, ngắn gọn, có vẻ dứt khoát.

Tiếng pháo binh nhà bắn đi thì chát chúa nhưng đục khàn, đạn réo veo veo, vọng lại những tràng ục ục như tiếng sôi bụng được khuếch đại. Những tiếng nổ từ xa vọng về sau dãy núi xanh nghe rền rền, có vẻ uể oải, lười biếng.

Không thể lầm lẫn, vượt lên trên hết mọi âm thanh là những tràng tiếng nổ ầm ầm đầy vẻ đe dọa, kéo dài hơn sáu mươi giây của hàng trăm trái bom thả xuống từ pháo đài bay B52. Một bức tường khói đen bốc lên cao, che lấp những tảng mây, hàng cây, dãy núi. Thành phố rung chuyển khi những chấn động liên tục lan truyền tới. Ngôi nhà, tưởng như có bàn tay của người khổng lồ nắm trọn lấy mà lay. Mái tôn, các cánh cửa, vách tường run lên bần bật. Về phía con người, tác động của những làn sóng chấn động đó vang dội vào lòng ngực chúng tôi như một mặt trống buộc phải tiếp nhận những cú dùi không thiện cảm. Toàn thân chúng tôi, từ bên trong máu huyết, thịt xương, trong mỗi tế bào cấu tạo bị những làn sóng chấn động làm cho rúng động. Chúng tôi có cảm tưởng thân thể bị chia lìa ra từng phân tử và rồi, tất cả những phân tử rời rạc đó giật nẩy lên, run rẩy, chao qua chao lại, tạo cảm giác hoang mang, sây sẩm.

Vợ tôi ôm choàng lấy đứa con trai nhỏ, chốc chốc giật mình, khóc tức tưởi. Nàng vỗ về:

– Ôi à…Tội nghiệp con mẹ. Cái bom nó đánh thức con. Nó không để con ngủ. À à…Để mẹ đánh nó. Mẹ đánh nó năm roi, nó hư quá. Thôi con mẹ ngủ, chóng ngoan mẹ cưng. Tôi nghiệp con mẹ quá. Con mẹ còn nhỏ mà cái bom nó không cho con mẹ ngủ hả. Mẹ gọi cái bom về đánh ba roi nhé. Nàng kéo con ôm sát vào lòng mình như có ý che chở.

Vợ tôi xót xa cho tình cảnh giấc ngủ không yên của đứa bé vì tiếng bom vọng về. Trong tình cảm chủ quan của một người mẹ có lẽ tôi cũng không nghĩ  gì khác hơn nàng. Nhưng tôi hiểu rằng, chẳng phải nàng không biết đến, còn bao nhiêu những đứa trẻ khác kém may mắn hơn, chịu một số phận hẩm hiu, thê thảm hơn con nàng nữa. Thì chính tay nàng đã từng vá lại những mảnh thịt rách nát trên thân thể những đứa trẻ đó, băng bó lại những phần da thịt cháy bỏng, cắt đi những cánh tay, những bắp chân bụ bẫm còn thơm mùi sữa mẹ. Và nàng cũng đã từng xót xa, đau đớn, khi phải bó tay, không giành giật lại được sự sống của chúng trong bàn tay tử thần.

Những trẻ thơ trút hết máu ra trên đất cát, những đôi mắt ngây thơ vô tội của chúng khép lại vĩnh viễn, từ bỏ ánh sáng, trời xanh, những bầu vú sữa căng, con búp bê nhỏ, những gương mặt, ánh mắt trìu mến của mẹ cha. Các em chết một cách đau đớn, nhưng tâm hồn các em hoàn toàn thanh thản, không mảy may oán hận những kẻ gieo tai họa đưa cái chết đến cho các em. Những người lớn, những kẻ đã trưởng thành.

Đêm dài thêm với giấc ngủ chập chờn những cơn mộng mị. Mắt nhắm nhưng tâm trí chúng tôi tỉnh thức. Thỉnh thoảng đứa bé lại giật mình khóc ré. Tiếng cành cây bị gió lay động, quét trên mái tôn, tôi tưởng tượng ra như tiếng va chạm của đôi cánh một loài cú đen đang bay lượn trên nóc nhà báo điềm mộng dữ.

Trong những ngày đêm đó, như có một giao ước ngầm: chúng tôi cố tránh những cử chỉ, những lời nói có thể gieo sự lo lắng cho nhau. Nhưng đến một đêm, sau những trận không tập của B52 quá gần, trực thăng bay sầm sập, phản lực gầm thét như xé tan cả bầu trời, vợ tôi đã không còn chịu đựng được, nàng thấy cần chia sẻ nỗi âu lo:

– Anh ạ, em điếc cả tai, ngực tức ran. Nàng nói, đè bàn tay lên ngực.

– Anh cũng vậy em ạ. Tôi trả lời, sít lại gần, vuốt tóc an ủi nàng.

Giọng nàng như sắp khóc:

– Làm sao, anh?

– Chưa hề gì, hãy còn xa mà, em. Tôi trả lời, lòng thiếu tự tin.

– Năm cây số đâu phải là xa…

Nàng không phải chịu đựng không khí đe dọa đó lâu hơn nữa. Vài hôm sau, vợ tôi và đứa con rời khỏi thành phố nhiễu nhương.

Có chuyến trực thăng của người quen thuê còn chừa một chỗ cho nàng quá giang. Khi Nguyệt đưa xe đến đón, vợ tôi khóc oà:

– Không ! Không ! Anh ơi ! Em không đi một mình đâu. Nàng có vẻ quyết liệt. Em chờ cùng đi với anh, có vợ, có chồng.

Em phải đi trước với con, nhất định như thế. Tôi cố tỏ ra bình tỉnh và cứng rắn, nhưng giọng tôi rung lên. Không dễ còn một dịp may khác cho chúng ta trong hoàn cảnh này đâu em. Em ơi, còn một mình anh mới dễ bề lo liệu. Anh có thể đi bộ, băng rừng lội suối được. Em và con là sao kham nổi việc đó.

Nàng khóc run lên trong tay tôi, bấu chặt lấy tôi không muốn rời ra:

– Lúc sống yên ổn có nhau, trong cơn hoạn nạn em bỏ anh, em đi một mình…Không, em không làm vậy đâu, anh ơi !

– Không phải em bỏ anh, tôi cố phân trần, dỗ dành nàng. Giọng tôi lạc hẳn. Em phải nghĩ  đến con chúng ta. Trong hai đứa phải có một đứa sống nuôi con. Ở lại, lỡ chết cả hai thì ai nuôi con mình ?

– Em chết với anh. Nàng khóc nấc. Chết hết. Con mình cũng chết.  Em đi để được sống một mình, bỏ anh ở lại… Anh chết… Em còn sống làm chi nữa !

Chiếc xe đến rước vẫn còn để máy nổ chờ. Nguyệt có vẻ bồn chồn. Tôi đưa mắt ra dấu cho nàng. Nàng bước tới giật lấy đứa bé từ tay vợ tôi. Tôi vất cái xắc đựng đồ ăn khô theo rồi bế xốc nàng lên xe. Nàng vùng vằng. Nguyệt vừa bồng đứa nhỏ vừa ghì giữ nàng. Xe ra đến cổng bệnh viện, tôi còn nghe vẳng lại tiếng khóc của nàng. Nàng gọi tên tôi liên hồi, tuyệt vọng, như những tiếng kêu trong giờ vĩnh quyết.

…”Trong hai, phải còn một đứa sống để nuôi con…” Tôi nghe vọng âm chính giọng mình. Đột nhiên hai mắt tôi trở nên mờ và ấm nóng.

*****

Xế trưa, Lâm lái xe đến báo tin Hà Phương, cháu gái chúng tôi đã đi được sau ba hôm ngồi chờ máy bay ở  “Bãi đáp cây số 5” – cùng với đám thân nhân gia đình binh sĩ – và suýt xảy ra tai nạn. Khi máy bay rời khỏi mặt đất, một nhân viên phi hành Mỹ gạt xuống bớt một số người vì trọng lượng vượt quá số ấn định. Nếu không có một người quen kịp nắm tay giữ lại thì cô bé đã bị rơi xuống từ chiều cao mười thước.

Chúng tôi ngồi nói chuyện trước hiên nhà, dưới bóng mát dàn su vừa trổ hoa và những trái đầu tiên. Vài con ong vo ve đến hút nhụy. Trên bãi cỏ xanh mướt mịn màng, một đàn bò vô chủ – có đánh dấu bằng sơn đỏ trên lưng – đang ung dung nhai cỏ. Trời xanh cao trong vắt, mây trắng bay từng đám lững lờ. Gió thổi nhẹ, lay động những chiếc lá thanh xuân mơn mởn.

Lâm nằm dài người trên võng. Tôi mở cửa vào nhà – căn nhà chúng tôi đã đóng chặt cửa, bỏ hoang từ suốt tuần nay. Trong bóng tối mờ mờ, không khí ứ đọng, thoang thoảng mùi ẩm mốc, tạo ra một cảm giác lạnh lẽo, xa lạ. Tôi đứng nhìn sững tất cả đồ đạc quen thuộc – cái tổ ấm xinh xắn của chúng tôi luôn luôn vang lên tiếng nhạc êm ái, giọng cười ấm áp của vợ tôi, trong trẻo tươi sáng của con tôi – bàng hoàng trong ý nghĩ, rồi đây, tôi sẽ phải xa rời nó, không biết bao giờ trở lại, và số phận nó sẽ ra sao trong khi tôi vắng mặt.

Trong phòng riêng của chúng tôi, trên giường ngủ, tấm vải phủ nệm còn thẳng với nguyên cả gối chăn. Tôi có cảm giác đang lọt vào căn phòng của một đôi vợ chồng nào xa lạ, ngắm say mê những tư vật của gia chủ vắng mặt một cách tò mò, mà chỉ nhìn qua sự thân trọng trong cách xếp đặt những đồ vật nho nhỏ, cũng thấy được có sự chăm chút, khéo léo  của bàn tay một người đàn bà, từ đó, bộc lộ mối tình đằm thắm của nàng đối với chồng con.

– Nghịch cảnh nào đã khiến họ cắt lòng rời xa tổ ấm của họ? Tự đặt cho mình câu hỏi đó, lòng tôi bùi ngùi xúc động.

Tôi ra sau vườn bắt một con gà mái làm thịt – trong số hơn trăm con gà đẻ mà chúng tôi đã khổ công chăm sóc chắt chiu trong hai năm trời, bây giờ thả ra thành gà hoang. Đàn gà quen người, tưởng tôi ra cho chúng ăn nên bu quanh lại. Tôi đi rồi người ta sẽ đến bắt chúng. Tôi tiếc đứt ruột, nhưng lòng phải tự nhủ “áo người nước Sở!“

Khi mổ bụng con gà tôi cũng lấy được một cái trứng nóng hổi, như vợ tôi những ngày trước đây.

– Gà sắp đẻ, anh ạ. Nàng nói, đưa cái trứng đã cứng vỏ cho tôi coi, mắt rưng rưng muốn khóc. Không bị làm thịt, chắc lát nữa nó đẻ hả anh?

“Phải, nếu đừng làm thịt…”. Tôi chợt nghĩ đến trường hợp một thiếu phụ có mang gần ngày sinh, ngồi chờ máy bay ở phi trường, cách đây vài hôm. Mảnh đạn pháo kích đã giết chị chết. Vết thương ở bụng làm thai nhi lòi ra ngoài.

Chị còn sống được mấy phút để nghe tiếng khóc của đứa con. Sau đó cả hai mẹ con cùng trút linh hồn”. Nếu không bị mảnh đạn, tôi nghĩ, chắc chị sẽ sinh được một đứa con”.

Ăn xong chúng tôi ngồi nói chuyện vui. Chúng tôi cùng cười nhưng rồi, thấy cũng chẳng vui được mấy. Lâm ra về, tôi dặn theo:

– Chiều trở lại chơi. Có lẽ không hy vọng gì đường bộ khai thông được.

Khi Lâm trở lại tôi đã có một quyết định dứt khoát.

– Thế nào? Lâm bước vào, hỏi.

– Lên phi trường! Tôi quả quyết.

– Định làm đích cho hỏa tiễn à?

– Còn cách nào khác? Tôi cười, đưa bàn tay cho Lâm coi.

– Sinh đạo của tôi dài lắm.

– Thì đi. Lâm cười theo, mặt thoáng vẻ ái ngại.

Tôi hiểu ngay. Đã ba lần trong hai ngày qua, Lâm đã suýt chết vì đạn pháo kích ở đó, cũng chỉ vì đưa người đi.

Lâm chờ. Tôi ra sau nhà dở chiếc bội thả bầy gà mười lăm con mới nở được hai tuần, xua chúng ra bãi cỏ. Con mái mẹ xù lông, nhảy xấn xổ đến cắn tôi.

– Đi đi, các con ơi! Tôi xua tay nói. Ra ngoài kia, ngoài bãi cỏ kia mà kiếm ăn. Tao bỏ tụi bây rồi. Từ nay, mỗi ngày tao không còn cho tụi bây ăn nữa đâu. Đi đi, bươi đất bươi cát, kiếm giun kiếm dế mà sống.

Con gà mái mẹ kêu tục tục, hai cánh xòe rộng, lăng xăng lít  xít lo bảo vệ con.

Những chú gà con sợ hãi chạy tán lạc, kêu chiêm chiếp. Một vài con chạy quấn vào chân tôi. Trong lúc hối hả xua đàn gà đi, tôi đã dẫm chân lên một chú. Nó chỉ kịp kêu lên một tiếng thất thanh, ngã lăn ra đất, ngáp ngáp vài lần, trước khi chết, ở khóe miệng rịn ra một vệt máu đỏ thắm.

– Trời! Tôi kêu lên, đến nước này rồi. Thôi, tao lỡ. Đã bảo ra ngoài kia kiếm giun dế ăn mà không nghe.

Gà mẹ đã túc con ra đến bờ rào. Tôi đem xác con gà chôn cạnh gốc cây đu đủ rồi quay lại với Lâm.

*****

Từ nhà tôi đến phi trường, quãng đường thẳng chỉ hơn một cây số. Lúc xe chạy đến khu Võ Lâm, Lâm nhìn tôi, nháy mắt cười. Tôi gật đầu tỏ ý đã hiểu: chúng tôi đã lọt vào vùng đất tử thần ngự trị. Kể từ giờ phút đó, bất cứ lúc nào, chúng tôi cũng có thể trở thành cái đích của một trái hỏa tiễn 122 ly pháo kích. Tinh thần căng thẳng cùng cực, tôi lắng tai chờ nghe tiếng đề-pa để kịp có phản ứng. Xe chạy ngang công viên thị xã – có tượng vua Quang Trung cỡi ngựa, tay vung kiếm – tôi thấy một đám đông dân chúng đang ngồi chờ trời tối để xuống phi trường.

Lúc xe đổ con dốc trước Tòa Hành chánh, chúng tôi đã có thể trông thấy vòng rào phi trường. Xương sống tôi ớn lạnh. Cảnh vật chung quanh cũng vẫn thế: con đường thẳng tắp, bờ cỏ xanh, đám tùng trong sân Tòa Tỉnh tươi tốt, dưới mắt tôi chúng nhuốm mầu tang tóc, đứng im sững trong trạng thái rũ liệt như chúng đang chờ chết.

Người lính địa phương đứng gác trước cổng nhìn theo xe chúng tôi cười vu vơ. Một lúc nữa đây, trái hỏa tiễn từ trên trời rơi xuống và đời sống anh ta kết thúc, một cách giản dị. Chính chiếc xe chở Lâm và tôi, cũng có thể, trong một tích tắc nữa đây sẽ tan tành, số phận chúng tôi bị định đoạt.

Chúng tôi đã lọt vào chiếc lưới của tử thần bủa ra rồi. Lưỡi liềm bén ngót của lão đang lia vun vút trên đỉnh đầu. Sự sống của chúng tôi đang cầm giữ có cái vẻ mong manh của một đồ vật dễ tan vỡ, như bọt nước, chỉ còn biết tìm nguồn an ủi vào cái điều mà tôi hết sức không ưa, gọi là “số mệnh”. Mỗi giây phút trôi qua chúng tôi còn được thở, mắt còn trông thấy ánh sáng, tai còn nghe những âm thanh của mặt đất, điều đó như ân huệ hiếm hoi được bố thí từ “gã”, là ân nhân của bủn xỉn, keo kiệt.

Con người bị vất vào cuộc đời ngoài ý muốn, điều đó hiển nhiên, sự tệ hại, thê thảm là ở chỗ, chính con người không có quyền sống đời mình theo những ước vọng tối thiểu. Họ bị những thế lực cưỡng bức đưa vào ngõ cụt, khó bề chống chõi.

Lâm nhìn tôi, hất mặt về phía rặng núi xanh xa xa phía phi trường đang chìm mờ mờ trong sương khói. Tôi nhìn theo hướng mắt Lâm.

– Chính ở đó. Lâm nói.

Có thể như thế được chăng, chúng tôi là nạn nhân của một trò chơi nghiệt ngã? Một trái hỏa tiễn phát xuất từ đó, bay qua bầu trời xanh, rơi xuống nổ, rồi sự sống của chúng tôi tiêu tán! Sự sống, một cái gì hết sức thiêng liêng, quý báu, không thể đền bù, không thể thay thế, phút chốc tan ra thành mây khói!

Con người không tạo được sự sống, nhưng con người sẵn sàng tiêu diệt nó nhân danh những cứu cánh mù mờ.

Xe dừng lại trước cổng phi trường có dây kẽm gai giăng – trên nguyên tắc không cho dân chúng vào phi trường để bảo vệ an ninh cho họ! Lâm nhảy xuống, tới nói nhỏ với gã lính gác. Tôi chờ. Gã có vẻ không hài lòng. Hai bên kỳ kèo. Cuối cùng cũng thỏa thuận được. Lâm móc túi rồi hai bên bắt tay…

Bên trong, trên một phi đạo, chiếc trực thăng gẫy chong chóng chưa được câu đi. Gần nhà đợi đổ nát, một máy bay vận tải loại “cá mập” bị nhiều lỗ thủng to. Hôm qua, máy bay vừa đáp thì một trái đạn rớt ngay trước đầu làm chết một viên phi công Mỹ. Tường nhà đợi sập, cửa kính vỡ toang, tôn lợp bay như lá.

Lâm ra về. Tôi vào ngồi núp dưới một lô cốt của đại đội bảo vệ an ninh phi trường, có bao cát sơn dầu hắc chắn chung quanh và trên đầu. Sự phòng thủ thô sơ đó không có hiệu quả bao nhiêu, song cũng đem lại cho tôi sự yên tâm của giống đà điểu khi đã chui đầu xuống cát. Rải rác trong những lô cốt chung quanh, người ta đã đến ngồi chật từ lúc nào. Ở giữa họ, bỗng nhiên tôi thấy nỗi lo âu được chia sẻ. Có những khoảng thời gian dài, như một tử tù vô tội, tôi quên đi được sự kinh hoàng về nỗi đang chờ đợi nhát dao tối hậu kết liễu đời sống mình, khi cổ đã kê sẵn trên thớt gỗ.

Nếu chẳng may có một quả hỏa tiễn rơi xuống đây thì tôi cũng không phải chết một mình, có nhiều người sẽ cùng chịu số phận đó và như thế có vẻ “vui” hơn. Tôi ghê tởm nhận thấy mình vừa có ý nghĩ đó, nhưng tôi tìm ra ngay lý lẽ để tự bào chữa và tha thứ. Tôi cũng không hiểu tại sao, lúc ấy, tôi muốn, nếu tôi chết thì không phải chết một mình, nhiều người cùng chết với tôi như vậy. Tôi sợ phải chết lẻ loi.

Ngồi bên cạnh tôi, một bà cụ người Huế khoảng sáu mươi tuổi, nét mặt buồn rầu. Bà bế một đứa bé khoảng ngoài năm. Bàn tay hồng nhỏ nhắn của nó đang nghịch ngợm mấy sợi tóc bạc của bà lòa xòa xuống bên vành tai, trái tai trễ xuống, lỗ xâu rộng, không có hoa tai.

Tôi huýt sáo khẽ gọi. Nó quay lại nhìn, hồn nhiên cười hết miệng. Hai gò má phính hồng vun lên, lúm đồng tiền. Đôi mắt to đen nhánh vui tươi. Tôi nhớ đến đứa con trai nhỏ của tôi. Bây giờ nó đang ở đâu, và ra sao? Liệu tôi còn sống để gặp lại nó không hay rồi đây gặp sự chẳng may, tôi nằm xuống và chẳng bao giờ còn trông thấy mặt con tôi nữa!

Đứa bé đưa tay về phía tôi. Tôi móc túi lấy bao diêm đưa cho em. Bà cụ rơm rớm nước mắt nói với tôi:

– Đây là thằng Thọ, cháu nội tui đó cậu. Cha nó đi lính Trung đoàn 42, bị kẹt trên Tân Cảnh. Coi như chết rồi. Mẹ nó nóng ruột lên tìm, đợi mãi mấy bữa ni chẳng thấy tăm hơi. Tui biểu đừng đi, nó không nghe. Nó để lại cho tui ba đứa con. Thằng Phước sáu tuổi. Con Lộc  bốn tuổi với thằng Thọ ni đây, mới giáp năm. Đêm qua máy bay tới, tui yếu quá chen lên không nổi, bị gió chong chóng quạt té nhào. Thằng nhỏ ni rớt lăn như trái mít. May có người lượm lại kịp, không thì bể đầu dập não chết rồi. Còn hai đứa tê đi mô mất. Người ta nói thấy chúng nó chen lên máy bay được rồi. Không biết họ chở chúng về phương trời mô nữa chớ. Rồi làm răng mà sống, trẻ nít mới năm sáu tuổi. Chừ còn lại hai bà cháu đây. Tui đợi ba ngày ba đêm rồi, không biết đêm nay có máy bay mà đi không đây.

– Còn tui đợi cả tuần lễ rồi đây thì sao na bà?

Một người đàn ông sồn sồn, da ngăm đen, đầu quấn khăn kẻ ô vuông, đứng ngoài sân, nghe bà cụ nói, xen vào, ông nói giọng Bình Định:

– Đợi ba ngày bên sân bay MACV, thêm bốn ngày ở đây nữa rồi ý.

Ông vừa vấn xong điếu thuốc to bằng ngón tay cái, đưa lên miệng, lè lưỡi thấm nước miếng dán.

– Xin cái giấy đi tản cư thiệt hết hơi – thật ra là giấy xin phương tiện máy bay – ông nói tiếp. Ông Phó Tỉnh ký, ông Tỉnh ký rồi ông Cố vấn Mỹ ký, rốt cuộc cũng trớt he. Trưa qua may có chuyến trực thăng “sâu đo”, tống bả với mấy đứa nhỏ đi được rồi mới yên cái bụng.

Điếu thuốc đã được dán, kẹp giữa hai bàn tay dùi đục, móng cáu đen. Ông móc túi lấy ra cái máy lửa “zíp-pô”. Oâng bật lửa, nhưng lửa không bắt. Ông đóng nắp, rảy mạnh một cái.

– Người ta ào lên đông quá, ông kể tiếp. Ông lính Mỹ, ổng gạt xuống bớt. Ối thôi, người rớt xuống như sung rụng vậy. Có một ông già chịu không thấu, nằm chết giả, người ta xúm lại réo ba hồn chín vía, hèn lâu mới tỉnh lại. Còn tui, rớt xuống nghe cái hự, tưởng gãy ba sườn, bể gan bể phổi rồi chớ. May chưa về chầu ông bà nên mới còn đứng nói đây.

Ông nghiêng đầu châm thuốc, thở ra vài đợt khói mỏng:

– Cũng không biết nẫu chở đi ngả nào. Đồng bào mình, hễ thấy máy bay tới là ùn ùn kéo lên, bất kể máy bay về đâu. Nghe có chuyến nẫu chở từ Kontum lên Benhét rồi đuổi xuống, khóc lóc, năn nỉ gì mặc kệ. Còn hai gia đình ở đâu tận trong An Lộc lại thả xuống Kontum, đang đứng lớ ngớ đàng kia kìa. Chuyện tréo cẳng ngỗng, thiệt cười ra nước mắt.

Một tiếng “bụp” chấm dứt câu nói của ông.

– Pháo kích! Tôi vội la lên. Bà con nằm xuống.

Không quá ba giây sau, trái đạn xé không khí bay tới, vượt qua đầu chúng tôi. Một tiếng nổ chát chúa phát ra, làm rúng động không khí và mặt đất.