ĐẤT HẸP

Hồ Đình Nghiêm

Nhà quàn Bougie nằm trên con đường dẫn ra ngoại ô. Nó như một lằn ranh được mọc lên, vô tình ngăn chia sự tạp nhạp của phố phường, chận đứng những thứ tiếng động dài hơi lại và rồi mở ra sau đó những lối đi trống trải, với bát ngát cánh đồng cỏ chạy tứ tán về phương trời xa. Nhà quàn, tự thân nó, đã là hình ảnh của chia lìa, của ngăn cách rồi. Mọi thứ khác chỉ trang điểm thêm vô, chỉ trùng hợp ngoài ý muốn.

  Đường tới nhà quàn cây cối xanh tươi, trồng ngay hàng thẳng lối. Cây không mấy cao và cành lá xum xuê luôn đan kết với nhau khiến người ta có cái cảm giác dễ chịu là được đi dưới sự che chắn của thứ bóng im mát chẳng đứt đoạn. Con đường không mấy rộng, có tấm bảng sơn trắng lưu ý những người lái xe hãy kềm giữ tốc độ từ ba mươi cây số giờ trở xuống. Sự yên tĩnh thường trực chiếm giữ lấy một vùng không gian. Nghe mơ hồ tiếng kêu lách cách đều đặn của cái vòi phun nước nằm cuộn mình ẩn dấu dưới cỏ như một con rắn lục kì dị. Một con rắn rung chuông nhân tạo, và gửi theo tiếng kêu của nó, nước sẽ phun đi xa, tưới ướt đẫm một vùng cỏ mượt mà. Cỏ chạy từ lề đường xi-măng lên tới tuốt nhô đất cao bưng bít tầm nhìn. Nó không giống một sân chơi golf, nó tựa một cái nghĩa địa mà người ta sợ những tấm mộ bia khi trồng dựng lên sẽ làm rối mắt, mất mỹ thuật.

  Gió hiu hiu thổi. Góc vườn nhà ai phơi những tấm khăn trải giường trắng. Sợi giây chùng xuống, vẽ một đường cong sáng ngời. Những cánh buồm không căng gió và những chiếc thuyền mãi loanh quanh không định được phương hướng. Trời hanh. Tháng bảy vẫn có những chiều mang thứ sắc màu ủ dột như vậy. Thứ ánh sáng mạnh bạo bị vây hãm bởi mây dày. Nó tức tưởi tựa một cơ thể đang sung bỗng chốc bị hao hụt khi phải dồn sức chống đỡ bệnh hoạn. Vọng bị ung thư cuống họng, những câu nói đùa của Vọng không vì thế mà mất đi cái duyên dáng thường nhật. Người ta nhìn ra vẻ lạc hồn trên khuôn mặt Vọng, nhưng sau đó những nghi hoặc của họ thảy bị nhận chìm rất mau. Họ dễ dàng tìm thấy ngay câu trả lời: Có mấy đứa viết văn luôn giữ cho mặt mình được bình thường? Vênh váo ở chỗ này và buồn bực ở chốn khác. Một con gà trống khi đứng gáy và một con gà mái đang mắc đẻ.

  Có cái cầu vồng mọc mờ nhạt, lưng chừng phía sau nhà quàn. Óng ả, huyền hoặc. Mưa rơi ở nơi nào mà chốn này hơi nước lẫn về trong gió hiếm. Lá xao xác, như nó biết rùng mình khi ngửi ra mùi hương trầm phảng phất. Mùi tử khí rất Viet-nậm. Một nhân viên nhà quàn ngồi trực nơi bàn kê ở lối ra vào. Hắn có khuôn mặt láng lẫy đặc thù của một dân tộc hãnh diện về món Pizza, Spaghetti. Hắn vô cảm, không dị ứng với đám mây trì nặng từ trong trôi dạt ra, nhưng hắn sẽ đứng lên, can thiệp với bộ điệu chẳng mấy thiện cảm nếu thấy một kẻ buồn miệng đang đứng lớ ngớ châm lửa điếu thuốc. Sau lưng hắn là cái hành lang thắp đỏ những bóng điện yếu ớt, buồn tủi màu vàng đục. Hành lang quáng gà, là con lộ duy nhất mở ra những căn phòng có kẻ thuê nằm chờ hoá thân về với cát bụi. Và cái nhà quàn này, sao nó có đầy sự đe doạ như cái Baté motel trong phim Psycho? Thuỳ Mị bước lên những bậc cấp, cô nghĩ tới tấm màn nylon treo trong bồn tắm, cái bóng đen đứng thầm lặng bên ngoài và rồi tiếng kêu thảng thốt của những cái móc sắt khi tấm màn bị níu kéo, bứt rời.

  Vọng nằm căn thứ 5. Cửa rộng mở nhưng ngược lại có cái giá dựng tấm bảng đen đứng án một góc. Những con chữ bằng nhựa trắng sắp trên bảng xộc xệch như thứ đồ chơi cho trẻ con học tập mẫu tự và vọc đùa với toán số. Nó không tiên liệu trước sự rắc rối dành cho những thân chủ người ngoại quốc cho nên tên Vọng không cách nào có được cái dấu nặng bên dưới. Vong là vong thân, là tiêu vong, là biến mất là xoá sạch. Còn Vọng? Là sự chấn động, là dội về, là âm ba, là trùng trùng những sân si chẳng bao giờ diệt sạch.

  Những người đến viếng linh cửu thảy đều phải đi qua cái bục gỗ. Ngọn đèn, cây bút và cuốn sổ đặt ở đó lưu giữ chân bước rụt rè của họ lại trong phút giây. Nếu trong quang cảnh dễ làm chảy nước mắt này mà ai đó lòng còn dấy lên những tạp niệm u tối khác, giả như nhác thấy một “người đẹp” vừa xuất hiện sáng loà; thì họ rất dễ dàng để biết ngay ra cái xuất xứ hiển lộng kia. Tên họ và địa chỉ chưa khô nét mực còn nằm cứng người trên trang giấy.

  “Xin lỗi, cô là Thuỳ Mị có phải không?”

  Người con gái thoáng bối rối, hoặc giả đó là cái bối rối thường trực khi cô đặt chân vào lãnh địa của nhà quàn.

  “Lâu quá rồi, có thể Thuỳ Mị đã khuấy quên tôi”.

  Thuỳ Mị. 365 rue Vincent. Appt. #25. Ville St-Lảuent sẽ rụt rè ngó lên khuôn mặt thằng đàn ông. Trong lúc này, cô không thể bình tâm mà lục soạn trí nhớ mình được, vả lại cái đứa đứng gạ chuyện kia chẳng có đui què mẻ sứt gì ráo. Nó bình thường tới độ tầm thường, nó chẳng mang dấu vết dị hình để khiến mình phải thảng thốt nhìn nhận ra ngay. Thằng đàn ông hiểu được chuyện ấy hơn ai cả, hắn còn biết thêm một điều, là khi đứng gần kẻ chết, tuồng như lòng dạ của kẻ còn sống có phần nào mềm đi. Độ lượng hơn, rộng rãi hơn, quên bẵng đi những hoài nghi mà thường khi họ xem đó là cách ứng xử an toàn nhất trong cuộc sống.

  “Muốn hay không, khi đến nhìn mặt Vọng lần cuối này, mặc nhiên chúng ta đã có một sợi dây liên hệ nào đó rồi, Thuỳ Mị thấy không?”

  Giọng nói hắn nhỏ, gần như thì thầm bên tai cô. Làm như to tiếng hơn một chút thì có thể đánh thức Vọng dậy, và đó là điều mà chẳng ai muốn cả. Thuỳ Mị xem đó là cách lý giải hay nhất, cọng thêm chút tự trọng bởi không làm phiền đám đông. Cô cần một người đồng hành để giúp cô có sự can đảm khi đứng sát bên quan tài Vọng. Với cô, bao giờ người chết cũng dễ sợ cả và cô luôn ngờ vực câu nói: “Sợ là sợ người sống chứ ai lại đi sợ kẻ chết!” Trước khi bước lên bậc tam cấp, ở ngoài sân Thuỳ Mị đã nghe tiếng nói đùa của hai gã đàn ông: “Tụi này nó lấy chữ Bougie để cầu chứng môn bài mần ăn nghe cũng hay nhỉ? Mẹ, ông ngán tới độ teo bu-ri”. Thuỳ Mị hiểu chữ teo bu-ri nhằm ám chỉ cái vật gì và cô không cho lời đùa nghịch kia là vô duyên. Cô sợ nhìn mặt người chết, dẫu người đó là Vọng. Và cô sẽ không hiểu được bộ phận nào trên cơ thể cô sẽ teo lại khi đối đầu với niềm sợ hãi. Có một đứa tự nhận là người quen cũ khiến Thuỳ Mị đỡ phải teo… tim.

  “Tôi không biết cách thức vái lạy người chết. Tôi đi theo Thuỳ Mị để bắt chước học lóm, đồng ý không?”

  Thuỳ Mị gật đầu. Không ai đủ nhẫn tâm để từ chối lời yêu cầu đáng thương ấy cả.

  Vọng. Cuối cùng thì tôi cũng đến được gần anh. Tôi đến trễ và một lần nữa, giữa chúng ta luôn còn đó sự ngăn chia. Lần này thì trầm trọng hơn, nó chẳng giống trò chơi cút bắt nữa. Anh bị đạp mạng và anh sẽ thực sự biến mất. Còn tôi, bao lâu nữa thì tôi mới thực sự quên hẳn anh? Người ta bôi son trét phấn làm anh lạ lùng hẳn ra, anh trẻ trung anh tươi hồng tới độ kỳ cục. Phấn son là thứ của đàn bà, người ta cho phép đàn ông sử dụng khi mà kẻ đó đã thực sự xuôi tay. Anh có bực mình vì chuyện đó không? Thời trước, anh vẫn xa lánh những đứa mà anh bảo chúng nó luôn đeo mặt nạ. Anh luôn cô đơn, bởi vì trước tiên anh là một nghệ sĩ, và sau rốt, tôi đồng tình với anh một điều: Thật khó cho chúng ta kiếm được một người bạn chân tình, bên kia trái đất cũng như bên này bán cầu. Thôi anh đi, cõi vĩnh hằng kia biết đâu lại chẳng dễ thở hơn dương thế? Hằng năm, vào ngày này tôi sẽ nhớ thắp lên cho anh một nén hương.

  Thuỳ Mị bước ra khỏi đám đông, đi tới cửa. Cô dừng chân dưới bậc thềm, đứng hít thở mùi đất nồng mùi cỏ ẩm. Đầu hơi váng vất, đôi mắt cay. Thuỳ Mị nhìn nhớ ngoại cảnh một lát rồi mới biết đâu là trạm dừng của xe buýt để mang cô về lại thành phố.

  “Lên xe đi. Tôi sẽ chở Thuỳ Mị về”.

  Thuỳ Mị nhìn thằng đàn ông ngồi trong xe, trước tay lái. Xe nổ máy, lăn bánh chậm rãi bên hông cô.

  “Tôi tên Đán. Tôi nghĩ là sẽ có nhiều điều mà Thuỳ Mị muốn biết”.

  “Về chuyện gì?”

  “Về Vọng”.

  Đán. Cái tên chẳng đánh động chút gì vào ký ức Thuỳ Mị.

  “Anh với Vọng quan hệ ra sao?”

  “Lên xe rồi hẳn nói. Thứ bảy, đợi cả tiếng mới có xe buýt”.

  Thuỳ Mị nhìn quanh. Bên phải, đồng cỏ rộng và xa lộ vạt xẻ một đường đen hút mắt dẫn tới cây cầu treo. Xe cộ chạy ùa về phía đó như có ma đuổi. Hai ba giờ chiều, trời đất âm thầm chứa một nỗi buồn trĩu nặng làm chân đi chóng mỏi. Thuỳ Mị mở cửa, trong xe có tiếng nhạc quen thuộc, xa vắng. “Nhớ tới ngày nào cùng bước xuống… mùa thu quyến rũ anh rồi…”

  “Tại sao không rẽ tay trái?”

  “Đi theo lộ trình xe buýt à? Mình lấy xa lộ sẽ mau hơn”.

  “Bao lâu thì người ta sẽ chôn cất anh Vọng?”

  “Thứ hai. Có lẽ vậy”.

  “Tại sao ở bên đây cứ nghe tin người chết hoài, trong khi lý ra…”

  “Lý ra điều gì? Buồn bã, lạc lõng, thương nhớ cũng dễ làm mình đổ bệnh vậy!”

  “Tôi không tin. Ở bên nhà, mọi điều kiện sống đều tồi tệ hơn đây vậy mà người ta cứ sống nhăn. Sống trân tráo”.

  “Vì họ còn lòng tin. Họ chờ đợi, họ hy vọng”.

  “Hy vọng?”

  “Bị rớt xuống biển sông ai cũng mong leo được lên thuyền… Thuỳ Mị qua đây đã lâu chưa?”

  “Gần ba năm”.

  Thuỳ Mị trả lời, thoáng khó chịu. Cô nới lỏng sợi dây an toàn.

  “Anh Đán thì sao?”

  Đán nhìn chiếc áo trắng Thuỳ Mị mặc. Sợi dây đen gài chéo lên đó, luồn ở giữa và vì vậy ngực của Thuỳ Mị có cái gì đó bắt mắt.

  “Mười hai năm. Tôi sắp đổi xe lần thứ ba… Ý tôi muốn nói là xứ này, tuyết nó làm tuổi thọ của mỗi chiếc xe kéo dài được sáu năm thôi. Thuỳ Mị thấy đó, sắt thép còn vậy huống hồ con người!”

  “Anh quen anh Vọng trong trường hợp nào?”

  “Hồi nãy trong nhà quàn tôi cũng tự hỏi vậy mà không nhớ ra. Một trận nhậu? Một buổi ra mắt sách? Một cuộc triển lãm tranh? Dẫu sao thì chúng tôi cũng đã có với nhau những thứ gần như tình bạn. Tôi mến con người nghệ sĩ có ở Vọng… Thuỳ Mị khát không? Tụi mình ghé vào một quán nước nhé?”

  “Không cần thiết, khi khác đi. Tôi thấy chẳng được khoẻ”.

  Mây dồn xuống thành phố. Những vệt nắng loang lỗ rải đều trên đường bị chùi sạch đi. Trời sẽ đổ mưa, và mưa sẽ tắm gội đồng đều những thứ cắm trên mặt đất, chẳng bỏ sót. Người ta sẽ dễ dàng hơn trong việc xẻ xắn một cái mộ huyệt. Những cây dù đen sẽ trương ra, mưa tráng một lớp thuỷ tinh trước tầm nhìn, nhấp nhô những bóng đen di chuyển bên hàng thập tự trắng có trong một nghĩa trang gầy ốm bóng cây.

  “Chẳng được khoẻ? Có cần uống thuốc không? Advil? Tylenol?”

  “Anh có sẵn?”

  “Không. Gần đến nhà rồi. Đừng đổ thừa là lối lái xe của tôi dễ làm kẻ khác chóng mặt. Ai cũng thế cả, bước khỏi nhà quàn làm sao mà giữ lòng được thư thái?”

  Xe chạy qua một cái chợ lộ thiên. Mùi cá tanh ở đầu đường và cuối đường là mùi thơm của đào, dâu, cam, chuối trộn lẫn cùng đủ thứ hoa tươi.

  “Buổi tối khi chợ vãn, ở lòng đường còn gửi mùi lên ô cửa phòng tôi. May một điều là họ không hoán đổi vị trí cái chợ cá. Ban đêm thao thức, ngửi mùi trái cây vương vấn, tôi có cảm giác mình là một oan hồn đang hưởng “chùa” thứ hương hoa của bá tánh!”

  Thuỳ Mị đổ người ra trước khi xe dừng ở một vuông sân đất. Bên kia hàng rào lưới sắt có bọn nhỏ tụ tập đá banh, những thứ tiếng động không ngớt tràn ra ngoài đường cái, kể cả bụi bặm.

  “Vào nhà một lát cho biết. Tôi để dành cho Thuỳ Mị một ngạc nhiên”.

  “Tôi đang có mặt ở đây, giờ phút này, chưa đủ là một ngạc nhiên à?”

  Đán mở cánh cửa gỗ không phát tiếng, dùng lưng để dọn sẵn một lối đi.

  “Tôi có giữ được hai bức tranh Vọng vẽ đã lâu. Bảo đảm Thuỳ Mị sẽ xúc động khi nhìn lại chúng”.

  “Anh còn bảo đảm chuyện gì khác cho tôi không?”

  Thuỳ Mị nói khi bước vào phòng. Đán bật đèn, đóng hai lần cửa.

  “Đừng đùa. Hãy uống trước một viên thuốc cho bảo đảm rồi hẳn nói chuyện”.

  “Anh ở một mình?”

  “Tạm thời thì như vậy. Bởi vì cuối cùng thì ai cũng phải lập gia đình cả, đúng không?”

  “Chưa chắc”.

  “Thuỳ Mị ngồi xuống đó đi. Ừ, chưa chắc; nhưng có thêm một người trong nhà thì đỡ lạnh lùng, đỡ trống trải, đó là chưa nói tới trường hợp bị ốm đau… Tôi mở quạt máy cho mát, Thuỳ Mị thấy nóng không?”

  Gió đi qua rồi lại lùa về. Tóc Thuỳ Mị rối và tấm màn buông che cửa sổ lay động từng hồi. Căn phòng ngăn nắp. Thuỳ Mị nhận xét, bởi vì thực ra nó chẳng có gì nhiều để bày biện, để tạo nên sự lộn xộn. Tạm bợ, và dường như điều ấy không nhằm chứng minh chủ nhân là một kẻ độc thân. Đán từ phòng sau mang ra hai ly nước. Thuỳ Mị đón lấy uống rồi nhăn mặt đặt xuống bàn:

  “Thứ gì vậy?”

  “Một loại rượu nhẹ, để xua đuổi tử khí. Thuỳ Mị biết không, những tay làm ở nhà đòn, những đứa rửa ráy xác chết đều phải tợp rượu mạnh cả”.

  “Vậy à. Họ mượn nó để tránh đụng mặt với niềm sợ hãi?”

  “Không rõ. Tìm đến rượu thì có nhiều nguyên nhân, đa số đều phát xuất từ buồn nản… Thật lạ lùng, trước đây tôi quen được một người bạn do bởi ngồi chung bàn trong một cái đám cưới thịt rượu ê hề. Giờ này thì đám ma… nếu Thuỳ Mị cho phép tôi dùng tới chữ bạn”.

  “Vách trống trơn, tranh đâu không treo?”

  “Tôi treo trong phòng ngủ. Để tôi mang ra xem, và Thuỳ Mị sẽ hiểu do đâu tôi đặt nó trên đầu chỗ nằm”.

  Đán quay lưng. Hắn cao hơn Vọng, hơi chải chuốt. Hắn có dáng vẻ một tên làm ở cửa hiệu bán xe hơi, hoặc một công ty chuyên lo ba cái vụ bảo hiểm. Những công việc hoàn toàn trái khuấy với con người Vọng. Thuỳ Mị uống thêm một ngụm nước. Ngọt, chua, nồng và tê lạnh ở đầu lưỡi. Trong rượu tuồng như có pha sẵn một ít mùi vị trái cây. Một đằng nó làm giải khát và đằng khác nó bay biến đi mau, để lại một cần cổ khô khốc, đòi hỏi đền bù.

  “Trong hai bức, đây là bức mà tôi quý nhất”.

  Đán nói. Hắn đặt tấm tranh trên một chiếc ghế trống, kéo lùi sát vách, vừa đủ mãn nhãn tầm nhìn. Hắn vặn vẹo những ngón tay vào nhau, nhìn rõ nét đổi thay có trên gương mặt Thuỳ Mị. Nụ cười nở ra trên miệng hắn, tự mãn không kém một kẻ vừa làm nên một kỳ tích. Hắn đặt đít xuống mặt nệm, cái soà rùng mình lan truyền qua người Thuỳ Mị một cơn sóng. Nỗi váng vất có ở nhà quàn đã rút khỏi người Thuỳ Mị, thế vào đó cô đón nhận một sự rung động kỳ quặc.

  “Dưới chữ ký của Vọng có để năm. Đã mười lăm năm, theo tôi người trong tranh vẫn chẳng có gì đổi thay”.

  Thuỳ Mị mãi miết nhìn như đang bị thôi miên. Như một người ngồi trước gương soi và lạc hồn nuối tiếc khi nhìn ra sự tàn phai có trên nhan sắc mình. Tủi hờn và cảm động làm Thuỳ Mị muốn khóc. Thuỳ Mị khoả thân trong tranh nhìn tới cô bằng ánh mắt dịu dàng. Vọng vẽ thật xuất thần, tia nhìn đằm thắm kia nửa như an ủi cô, nửa biết đe doạ. Nó làm Thuỳ Mị ngạt thở.

  “Anh Đán. Tôi muốn… anh bán lại bức tranh này cho tôi”.

  “Bán nó? Theo cô thì tôi phải ra giá là bao nhiêu… Một tác phẩm nghệ thuật…”

  “Bao nhiêu cũng được… Anh nói đi”.

  Đán cười. Tiếng sắc, cao. Suốt buổi, lần đầu tiên Thuỳ Mị nghe giọng cười của hắn. Cô nghĩ, có gì bất thường đang rung nơi cần cổ kia.

  “Nếu tôi là đứa không túng thiếu, không cần tiền bạc thì Thuỳ Mị tính sao?”

  Ly rượu làm đầu Thuỳ Mị trì nặng. Mặt cô nóng và có lẽ cô chẳng còn chút sáng suốt để toan tính. Cô ngồi yên trên ghế, bềnh bồng với tất cả những hình ảnh cũ vừa lùa về. Trời nóng, chiếc áo thun ướt đẫm dán vào da thịt. Một góc vải trắng che mất nửa người Vọng, đầu tóc anh rối và con mắt dưới đó như một luồng sáng thỉnh thoảng quét lên cơ thể Thuỳ Mị. Nó có thể lột trần mình ra một cách kỳ diệu, trung thực đến độ phải phát hoảng khi mình nhìn thấy bề mặt tấm tranh. Nếu dùng cọ nhỏ để chấm một nốt ruồi son bên trên ngực trái thì khi ấy tranh với người sẽ là hai giọt nước.

  “Anh đừng chơi ác. Xin anh hiểu cho bức tranh này nguyên thuỷ là của tôi. Một ngàn đồng, anh đồng ý không?”

  Đán cởi ca-vàt ném xuống ghế, hắn trạc áo và xắn cao ống tay lên gần nách. Hắn có bôi đeỏoant ngăn mồ hôi và mũi Thuỳ Mị ngửi được thứ mùi thơm làm choáng váng. Bức tranh, ly rượu, căn phòng đóng kín cửa, quạt máy khuấy động thêm sự bần thần… Mọi thứ có vẻ như sắp đặt.

  “Trời đã đổ mưa, xem chừng nó giữ Thuỳ Mị lại đến tối”.

  “Anh Đán, thực ra thì anh muốn gì?”

  “Thuỳ Mị đoán thử coi”.

  Thuỳ Mị nhìn hắn. Không. Vọng chẳng thể có một người bạn như hắn. Cũng như hắn không thể làm chủ bức tranh này được. Không đủ tư cách!

  “Anh có bao rác không? Loại bao rác lớn”.

  “Để làm gì? Thế áo đi mưa à?”

  “Làm phiền anh bọc hộ bức tranh kia lại, xong rồi tôi sẽ nghe theo điều kiện đánh đổi của anh”.

  “Tốt lắm. Tôi rất yêu sự thẳng thắng của Thuỳ Mị. Tôi cũng rất có cảm tình với cái tên Thuỳ Mị. Thuỳ Mị… Tại sao lại không là Thông Minh? Làm thêm một cốc rượu nữa nhé?”

  “Sẵn lòng. Uống cho có can đảm”.

  “Nói nghe ghê vậy? Không sợ say sao?”

  “Được say lại càng tốt. Khi say thường người ta phải mửa ra, đúng không? Một ngày nào đó cái chợ cá đằng kia sẽ dọn tới đây cho xem, anh tin không?”

  Rượu đổ tràn ra ngoài ly, chảy ướt một vạt áo Thuỳ Mị. Màu trắng bị hoen ố, nước xâm thực mau trên sứa vải tựa cái tả lót của một đứa bé đang làm bậy. Chẳng hề chi. Rồi mưa sẽ tắm gội tuốt những dơ bẩn khác có trên người. Cơ thể Thuỳ Mị nóng ran. Cô nằm dài xuống ghế, đầu nhức buốt:

  “Tôi đọc ở đâu đó chuyện kể một bà mẹ thuê nhà ở gần chợ… Chắc anh chưa hề nghe qua? Ở gần chợ nên đứa nhỏ chửi thề như sáo. Hoảng quá bà mẹ liền mang con tới mướn nhà sát nách một trường học… Đã gói dùm tôi bức tranh chưa?”

  Cái ly thuỷ tinh trên tay Thuỳ Mị rơi xuống nền gỗ. Tiếng vỡ dội vào ngực cô đau râm ran một nỗi buồn của mất mát. Thuỳ Mị nghĩ tới những hạt nút bị cởi tháo ra, áo này áo nọ, quần này quần kia. Da dẻ sẽ nổi gai và sau đó… Cô nhắm nghiền mắt lại. Trong trí cô, khuôn mặt phấn son kỳ quái của Vọng lại hiện ra. Anh ta nhắm mắt nhưng sao khuôn mặt anh ta hoàn toàn không được thư giãn như một kẻ ngủ say. Vọng ơi, có lẽ em cũng đã chết một nửa người rồi!

  Mưa cào rầm rộ trên cửa gương. Quạt gió vẫn luân phiên thổi. Thuỳ Mị co rút người lại khi bên tai cô có tiếng thở rất gần. Hâm hấp nóng. Tấm nệm của futon lún xuống, mùi thuốc bôi nách xông đầy. Chiếc giày cao gót rời khỏi chân, lăn lóc đâu đó rồi nằm yên. Thuỳ Mị chìm dần, chìm… sâu. Bao lâu thì Vọng sẽ bị hạ huyệt?

Hồ Đình Nghiêm

 257 total views,  3 views today

Bình luận