LÃO HẠ

Kinh Dương Vương

1.

Dân chúng trong thị xã Y…, mọi người đều biết Lão Hạ. Chẳng những biết mà còn quen thân nữa. Lão Hạ là một con người mà hình ảnh gắn liền với nghề nghiệp hơn nửa thế kỷ khiến lão trở thành một nhân vật đặc biệt, có liên quan mật thiết đến một phần sinh hoạt hằng ngày của hầu hết mọi gia đình. Và có lẽ là ít người nghĩ đến, có thể vì đó là một điều đã trở nên hết sức tự nhiên khiến người ta ít chú ý, nhưng thực ra vẫn có đó, là dân chúng trong thị trấn, ít nhiều đã dành cho lão Hạ một cảm tình đặc biệt, như đối với một người thân, người họ hàng. Và chính vì lòng đã đinh ninh như vậy-sự tin cẩn trong tình thân ái-mà hành động của Lão Hạ vừa được phát giác-họ cho là một tội lỗi quá sức gớm guốc, không thể tha thứ được – làm cho mọi người sững sốt bàng hoàng. Người ta không nhất mực oán trách và kết tội lão một cách khắc khe như đối với một kẻ xa lạ. Nhưng họ không thể không cảm thấy buồn rầu như chính họ đã phạm phải lỗi lầm và thành thực lấy làm tiếc cho lão, thắc mắc tự hỏi, tại sao một người như lão Hạ – họ cho là có một tư cách đáng nể trọng – lại có thể phạm vào một tội lỗi kỳ dị như vậy được.

Lão Hạ là người cháu ngũ đại của một giòng họ đã đến lập nghiệp đầu tiên tại thị trấn Y…, ngay từ khi nơi đây còn là một vùng đất hoang vu với nhiều thú dữ, chỉ có một ngôi chợ nhỏ với năm ba gia đình. Ngay từ khi đó, ông tổ năm đời của lão Hạ làm nghề săn bắn, bán thịt thú rừng. Và rồi, đời này tiếp nối đời kia, cha truyền con nối làm nghề mổ thịt. Họ trở nên một giòng họ giàu nhất vùng với một gia tài đồ sộ. Cho đến đời lão Hạ, dưới sự trông coi của lão, một lò giết gia súc lớn-qui tụ hầu hết những người trong họ-độc quyền cung cấp thịt cho toàn vùng và còn mang sang các tỉnh lân cận nữa. Công cuộc làm ăn vô cùng phát đạt. Nhưng đó là chuyện thời trước chiến tranh. Cuộc binh biến đã xảy ra và kéo dài suốt ba mươi năm khiến công cuộc làm ăn của lão sa sút dần. Lò thịt đồ sộ bị bom đạn tàn phá. Người trong họ không chịu nổi tình trạng rối loạn tại tỉnh nhà đã tứ tán mỗi người mỗi ngã tìm nghề khác làm ăn. Chỉ còn mình lão Hạ cương quyết ở lại quê hương – mảnh đất đã chôn vùi bao nhiêu hài cốt của ông cha – và vẫn giữ lấy nghề nghiệp tổ tiên. Lão mở hàng thịt ngay tại nhà bán đắp đỗi kiếm sống qua ngày, tuy nhiên công việc cũng không mấy trôi chảy vì ảnh hưởng cuộc chiến, ngày càng trở nên khốc liệt. Mọi sinh hoạt trong thị trấn bị đình trệ. Mức sống của dân chúng từ lâu vốn đã thấp kém tồi tệ vì sưu thuế nặng nề và lạm phát gia tăng thì nay tình trạng càng trở nên hết sức tệ hại, phải nói là thê thảm. Nạn đói kém đã phát sinh, ở một vài nơi dân chúng ăn cây dại và ngã ra chết, nạn thất nghiệp, khiến những gia đình tuyệt vọng đã tìm đến cái chết.

Năm 19…, vào lúc mọi người hy vọng cuộc chiến kết thúc, bỗng nhiên nó lại bùng lên dữ dội. Không ai biết đó có phải là dấu hiệu cho biết chiến tranh sắp sửa tàn lụi không, nhưng có điều hiển nhiên là những hậu quả nó gây ra thật tai hại và tồi tệ hết chỗ nói. Thoạt tiên, tai họa xảy đến còn khiến người ta ngạc nhiên, vì là họ còn nuôi chút hy vọng những trò điên rồ đó rồi ra sẽ chấm dứt. Nhưng trò điên rồ đó vẫn tiếp diễn hết năm này sang năm khác một cách triền miên say sưa, trút lên đầu cổ họ biết bao tai ương thảm khốc, khiến cho chút hy vọng mong manh tắt ngấm sau đó. Người chết yên thân, người sống thì sống thoi thóp, chịu đựng một sức nặng vô biên của nỗi sợ hãi, sự đói khát, chết chóc đè lên tâm hồn và thể xác. Phần đông, dần dần tâm hồn họ trở nên chai lì đối với những nỗi đau khổ của chính mình và của người khác. Không buông xuôi, nhưng ít người còn đủ kiên nhẫn và nghị lực, giữ được lòng hy vọng dể chống chỏi lại với những nỗi khổ đau bóp nát trái tim họ. Lòng can đảm chỉ còn tìm thấy ở những cử chỉ và nét thản nhiên trên từng khuôn mặt khi họ kề vai gánh vác lấy những nỗi đau thương đưa tới với không một lời than thở.

Dân chúng tại Y… cũng không tránh khỏi cảnh ngộ đó. Có thể nói, hình ảnh của riêng họ còn khốn nạn hơn những nơi khác, vì đó là một thành phố có địa thế chiến lược, nơi luôn luôn xảy ra những trận giao tranh khốc liệt. Đã nhiều lần họ sống trong tình trạng bị bao vây hàng nửa năm. Và những khi đó, đời sống của dân chúng tại Y…trở thành một thứ địa ngục trần gian. Và có lẽ, hơn những thành phố khác, từ ngày cuộc chiến bùng nổ, họ quen nhìn cảnh nhà cửa bị tàn phá, gia tài gầy dựng bằng mồ hôi nước mắt suốt một đời, phút chốc tiêu tan ra tro bụi. Họ quen nhìn cảnh chia ly của chồng, con, cha, anh bị xua ra mặt trận để rồi không bao giờ trở lại.

Lão Hạ có sáu người con trai, chiến trường đã lấy đi một nửa. Còn lại ba đứa sau ông quyết tâm bảo vệ chúng, ông giữ chúng ở nhà dù chúng đã tới tuổi nhập ngũ. “Sống để làm việc, xây dựng đất nước và cuộc đời, có ích hơn là tiếp tay vào việc tiêu diệt một cách vô lối sinh mệnh con người”, lão Hạ vẫn nói với các con ông như vậy. Ông xây một căn hầm bí mật chìm dưới mặt đất nền nha cho các con ông ẩn núp, mỗi lần có cuộc truy lùng bắt thanh niên của nhà cầm quyền đương thời.

Hàng thịt của lão Hạ cũng còn khách lui tới. Dân chúng trong thị trấn hầu hết đã trở nên nghèo khó, tuy nhiên vẫn có một số người lợi dụng chiến tranh để trục lợi. Họ bỗng chốc trở nên giàu có. Đối với hạng người này, chiến tranh là một cơ hội tốt để họ vơ vét của cải của bất cứ ai, bằng bất cứ mánh khoé bất lương nào: nơi những đồng bào cơ cực của họ, của bọn ngoại quốc và của chính phủ. Đó là một lũ giòi bọ mà chiến tranh là một môi trường béo bở – như một tử thi thối rữa – tha hồ cho chúng đục khoét thỏa thích. Chính hạng này đã là khách hàng chăm chỉ của hàng thịt Lão Hạ.

Vào mùa hè năm 1972 , dân chúng mệnh danh là Mùa Hè Đỏ Lửa, một mặt trận lớn mở màn vào đầu mùa mưa, qua mùa Đông rồi sang Xuân. Chiến cuộc lan tràn từ vùng rừng núi về đến một vùng ngoại ô cách trung tâm thị xã ba cây số. Ngay từ đầu, con đường tiếp tế duy nhất cho tỉnh đã bị đối phương cắt đứt, và như vậy thành phố coi như bị bao vây, tuyệt lối ra vào. Mới đầu, nhờ vào số lương thực dự trữ, sinh hoạt dân chúng chưa thấy khó khăn. Nhưng sau một thời gian tình trạng thiếu thực phẩm đã dần dà xuất hiện. Hàng thịt lão Hạ, từ cuối mùa Đông đã mở cửa thất thường, có khi phải đóng cửa năm ba hôm. Việc đó khiến cho những kẻ thừa tiền không tiếc lời phàn nàn. Sự thực, tình trạng thực phẩm cần thiết chung trong tỉnh, nếu họ biết rõ còn đáng phàn nàn hơn nhiều. Trong kho dự trữ, các nhu yếu phẩm đã đến lúc khô cạn.

Trong thời gian đó, lão Hạ hết sức đi tìm mua con thịt để thỏa mãn số khách hàng khó tính, nhưng vượt cả tình trạng khan hiếm, tìm đỏ mắt, lão không thấy ở đâu còn bóng dáng một con bò, một con heo nữa. Dân chúng từ lâu, đã đến hồi phải giết thú nuôi để làm thực phẩm và để trao đổi với lính lấy ít gạo sấy vì gạo tươi đã hết. Trong một tình cảnh như vậy thì lão Hạ còn biết đào đâu ra con thịt, nên hàng thịt của lão đành phải đóng cửa.

Sang Xuân, tình cảnh còn trở nên tồi tệ hơn. Quân đối phương đã đưa cuộc chiến vào ngay trung tâm thành phố. Những cuộc đụng độ dữ dội xảy ra liên tiếp, kéo dài suốt mùa Xuân. Thành phố bị san bằng. Xác người, không chôn cất rửa thối ngay trên mặt đường dưới những trận mưa Xuân. Mùi xú uế bao trùm lên thành phố. Người ta không lo chết bom đạn nữa – vì dẫu sao còn tránh né được – mà kinh hoàng khi nghĩ đến một trận dịch có thể xảy ra. Nhưng cho đến khi tàn cuộc, trận dịch không đến và cũng không ghi nhận được một trường hợp bệnh trạng nào tương tự mà người ta đã thi nhau ngã ra chết vì đói.

Khu Lão Hạ ở chiến cuộc không lan tới. Không ai hiểu tại sao. Như một phép lạ, không có một trái đạn lạc. Ba phần tư dân chúng trong thị trấn đã đổ dồn về đó, một khu chỉ gồm hai đường phố nhỏ dựa lưng vào nhau, có một trường trung học kiểu mẫu và một sân vận động. Khu đất trở nên quá nhỏ so với số người đông đảo. Khắp nơi đều có người, từ trong nhà đến ngoài đường, từng gia đình chen chúc nhau trong những căn lều nhỏ chỉ vừa chỗ cho hai người. Quang cảnh lúc nào cũng như  một phiên chợ – nhưng không có thức ăn – và mọi sinh hoạt đều trở nên công khai dẫu có những việc tối cần một chỗ riêng tư – chỉ trong chốc lát thôi và chiếm một chỗ hết sức nhỏ nhoi đi nữa – cũng không có được. Đó là nơi ngự trị của vị thần hỗn tạp và bừa bộn. Người ta tìm thấy đủ mặt những vị thường ngày là dân tai mắt của thị trấn: mấy vị nghị sĩ, dân biểu, nghị viên hàng tỉnh, giáo sư các trường trung học và đại học tư thục và công lập… (chỉ thiếu vị tỉnh trưởng, ngay từ những giây phút đầu có tin đồn ông ta đã “di tản chiến thuật”),quí vị chức sắc các tôn giáo…

Vấn đề nan giải cho bọn họ là thực phẩm vì hầu như tất cả đều ra đi với tay không. Những cuộc tiếp tế nhỏ giọt của chính quyền không sao bù đắp vào sự  thiếu hụt đã trở nên quá trầm trọng. Cho nên tức thì tình trạng hỗn loạn xảy ra. Luật lệ của quốc gia từ lâu vốn đã lỏng lẻo-cướp bóc giữa ban ngày ngay tại thủ đô và dân chúng phải đăng báo điều đình với bọn cướp với lời cam đoan “không làm khó dễ” – người ta nhân danh pháp luật để làm những điều phi pháp, luật pháp chỉ là mánh khóe của những kẻ quyền thế – để bảo vệ quyền lợi của giai cấp họ và là một thứ kìm kẹp đối với bọn dân đen. Vậy thì trong một hoàn cảnh như vậy tại khu tạm cư của thị trấn Y…, người ta sẽ dễ dàng tưởng tượng ra sự thể chính quyền có thể duy trì được trật tự đến mức độ nào trong thời gian thành phố bị vây khốn đó. Đối với bọn đầu trộm đuôi cướp, gái điếm, ma cô, lũ lính đào ngũ, các tay anh chị, dân giang hồ thì tình trạng đó là môi trường tốt cho chúng hoạt động, dầu là chúng chẳng kiếm được món gì béo bở – nhưng cũng không đến nỗi phải chết đói, không đến nỗi mở mắt thao láo nhìn người khác ăn mà rỏ dãi, nhóp nhép nhai theo với miệng không, khi bị người khác bắt gặp thì vội vã nhìn lơ đi nơi khác hay cúi đầu xuống nhìn mặt đất làm ra vẻ bất cần. Đó là thái độ của những người tự nhận mình thuộc một giai cấp nào đó mà lòng tự trọng khiến họ buộc lòng trói tay họ lại trước sự thúc đẩy hồn nhiên của bản năng khiến họ lẽ ra phải chìa tay để nhận chút thực phẩm bố thí, hay chính họ phải tìm ra một cách lén lút và phần nào bất chính. Nhưng rồi đến một lúc, trong số những người đó, những người đã tự nhận ở một giai cấp cao, có văn hóa và giáo dục, bản năng sống đã vượt thắng. Người ta thấy những cô gái nhà lành, các nữ sinh viên, nữ sinh trung học, các hiền mẫu, hiền thê, không lộ liễu như những gái điếm, họ cũng kín đáo gặp gỡ những người lính trong bóng đêm ở những góc phố để đổi lấy những bịch gạo sấy, vài lon đồ hộp để nuôi sống mình và gia đình. Những bậc phụ huynh, những người chồng, người cha nhắm mắt lại để tự dối lòng là họ đã không thấy con gái, vợ họ đã làm việc ấy vì chính họ cũng chia sẻ chút thực phẩm của các người thân mang về. Cho đến sau cuộc chiến, đó là những kẻ còn sống sót, dầu với một thân thể tiều tụy và tâm hồn bị thương tổn. Trong khi đó cuộc chiến vẫn tiếp diễn và số quân ngã xuống của cả hai bên mỗi ngày vẫn  không được chôn cất, thảng hoặc trong những giờ tạm ngưng tiếng súng người ta chỉ kịp mang về chất đống ở một trường tiểu học gần khu bệnh viện quân sự. Đó là những xác chết tìm thấy, hầu như ngay trước mắt. Còn biết bao những tử thi khác bị bỏ quên?

Suốt những đêm dài Lão Hạ khổ tâm vì thấy những xác người đã bị để cho thối rửa đi một cách phí phạm. “Thật vô ích, thật vô lý!”. Lão vò đầu bứt tai cố tìm ra một biện pháp để cứu vãn tình trạng mất mát uổng phí ấy. Mà đối với lương tâm nghề nghiệp, lão cảm thấy điều đó là một điều mỉa mai, thách thức một cách xấc xược khiến lão không tài nào chịu nổi.

Một đêm, cơn trầm tư  đã làm loé ra trong óc lão một tia sáng. Lão liền đứng bật dậy, tay run run vuốt chòm râu bạc, sảng khoái, lão đi tới lui trong phòng, miệng mỉm cười đắc ý, mắt sáng rực nhìn ra trời đêm. Hai bàn tay lão nắm chặt lấy nhau, nôn nóng. Thỉnh thoảng lão dừng bước, mái đầu bạc phơ cúi xuống, mắt nhắm lại trong chốc lát như đang sống trong hành động, rồi lại ngẩng đầu lên, hai mắt sáng long lanh như có tia lửa, bước đi hăng hái vòng quanh phòng.

Như tôi vừa kể, trong thời gian đó tình trạng an ninh trong khu phố hết sức lỏng lẻo. Không kể đến sự  hỗn loạn của số người tạm cư, bọn lính từ mặt trận rút về tuôn vào phố xá, đi nghênh ngang như một lũ cướp ngày. Hết lớp này đến lớp khác, tha hồ vơ vét đồ tế nhuyễn nhét đầy túi – sau đó, trong những tử thi thấy có người còn giữ nguyên những đồ vừa lấy được. Lạc vào thành phố, trông họ giống như một bọn trẻ con – nhưng hung tợn – được thả lỏng vào gian hàng bán đồ chơi.

Một hôm nhà lão Hạ cũng bị một tốp lính đột nhập. Nhưng trái với những chủ nhân khác, hoặc là phản đối để bị đánh đập, hoặc khóc lóc van xin, hoặc riu ríu vâng lời, Lão Hạ đã vui vẻ tiếp đón họ, thân tình như những người bà con. Lão hối vợ làm một mâm cơm thịnh soạn, mời bọn lính trận đánh chén. Họ như những người buồn ngủ vớ được chiếu manh, tha hồ ăn uống một bữa no say. Khi ra về lão Hạ còn cho mỗi người một gói mang theo, và nhét vào túi họ một món tiền lớn nữa. Mấy người lính cám ơn lão rối rít, lưỡi líu lại, nói không thành tiếng – vì say mà cũng vì xúc động – và họ hứa sẽ làm những điều lão Hạ tha thiết yêu cầu. Lão Hạ nhìn theo những chiếc bóng nghiêng ngã xa dần trong bóng đêm mỉm cười hối hả quay vào. Bỗng lão dừng lại, lắng tai nghe. Có tiếng đàn bà khóc ở căn lều xéo góc nhà lão. Lão không còn lạ gì những âm thanh thê thảm đó. Từ một tháng nay nạn đói đã thực sự hoành hành, số người chết gia tăng nhanh chóng. Hằng ngày nhìn những gương mặt ốm xanh xao với hai mắt lõm sâu, ngơ ngác, lòng lão đau thắt.

Giữa lúc đó hàng thịt lão Hạ mở cửa.

Sống lâu trong bom đạn, người dân đâm ra dạn súng dạn đạn, coi súng đạn như những người thân khó tính. Ngay cả cái chết đối với họ cũng nhạt nhẽo, như khi người ta đổi một chiếc áo cũ này để lấy một chiếc áo cũ khác, không có gì lạ, không có gì mới mẻ. Vả chăng, họ sống cũng như chết, chỉ là vấn đề thời gian sớm muộn, nên họ coi chết cũng như sống một đời sống khác, may ra còn có được sự yên ổn – hơn lúc nào hết, thần thánh trở nên có giá trị đối với họ : Chúa, Phật, ông bà tổ tiên được họ réo gọi luôn luôn – nên mặc dù đạn rớt nổ ầm ầm trong các đường phố, bay veo véo bên tai, làm nhiều người mất mạng, khi hay tin hàng thịt lão Hạ mở cửa, họ tấp nập kéo tới mua, xông pha trong lằn tên mũi đạn.

Bọn nhà giàu có thì ham ăn quên chết, nhịn lâu ngày họ nhớ thịt đến phát điên, nay nghe có thịt tươi, vội vàng tới mua ngay. Những người còn được chút ít tiền thì nghĩ rằng, ôm tiền mà chết thật phí của, thôi thì, thà ăn được miếng thịt rồi có chết cũng sướng thân. Chỉ có những kẻ nghèo không có gì để ăn thì cần ăn để sống, nên họ cũng lê lết tới hàng thịt Lão Hạ để xin bố thí miếng thịt, khúc xương về. Vì thế mà hàng thịt lão Hạ không ngớt người lui tới. Có điều lạ là lão Hạ có vẻ không để ý tiền bạc, không lợi dụng thời cơ để làm giàu. Lão vẫn bán với giá phải chăng như ngày thường. Ai mua thì lão bán, những người đến xin lão vẫn vui vẻ cắt cho, còn có phần hậu hỉ nữa là khác.

Hàng thịt của lão không ngớt khách, từ tinh mơ cho đến chiều sẫm. Và thịt không bao giờ thiếu, thịt tươi, thịt luộc ê hề, nhưng đặc biệt người ta không thấy có thủ vĩ, không có chân giò – mặc dầu những thứ khác như tim, gan, cật, ruột, phổi đều có đủ – nhưng trong hoàn cảnh ngặt nghèo này quí hồ là có thịt tươi để ăn, không ai để ý đến sự thiếu sót đó.

Rất đều đặn, cứ vào khoảng đầu mỗi đêm, một chiếc xe “đốt” mui bít bùng từ trong bóng đêm hiện ra dừng lại ở cửa vào nhà sau của lão Hạ. Những bóng người trên xe nhanh nhẹn chuyền xuống cho lão những gói hàng lớn đã được cột ràng dây cẩn thận, mỗi lần hơn kém khoảng hai mươi gói trở lại. Các gói được tạm để dọc bờ tường, và khi chiếc xe không đèn đóm chầm chậm quay đầu tiến vào đêm tối, lão Hạ, vợ lão và ba đứa con trai – từ trong hầm trú ẩn chui ra – không gây một tiếng động nhỏ, khiêng từng gói hàng vào nhà, xong đóng cửa lại. Mọi việc luôn luôn diễn ra hoàn toàn trong sự che phủ của bóng đêm. Họ như những bóng ma, đúng giờ, hiện ra trong chốc lát rồi biến mất.

Sau đó, trong nhà sau của lão Hạ, ở gian mổ thịt, công việc bắt đầu. Dưới ánh sáng bập bùng của một ngọn đuốc dầu lớn tỏa khói đen cay nồng, lão Hạ mình trần – thân thể lão còn lực lưỡng – đầu quấn khăn, quần đùi ngang gối, đứng trước bàn mổ tay cầm một con dao phay bén ngót.

Ở một góc, vợ lão ngồi canh chừng một nồi nước lớn, sôi sùng sục. Đứa con nhỏ nhất đứng bên cạnh, tay cầm một cái gầu to, giữ nhiệm vụ xối nước lên con thịt.

Hai đứa con lớn, đứng sau lưng lão khiêng một gói hàng bọc pông-sô kín đầu kín đuôi, đặt lên bàn mổ, rồi lui về chỗ cũ.

Lão Hạ mất công mở những vòng buộc bằng dây điện thoại – nếu là dây vải thì con dao lão chỉ roẹt một cái là đứt phăng – và lão nhăn mày cằn nhằn khi gói hàng vừa được mở ra. Lão vất tấm pông-sô rất mạnh vào xó nhà :

–  Lại quên cởi bỏ áo quần… Đã dặn không biết bao nhiêu lần rồi.

Nhưng lão tỏ ra kiên nhẫn làm công việc đó. Bộ áo quần màu ô-liu dính bùn và máu khô được gùi lại, vất vào chung chỗ với chiếc pông-sô. Đây chỉ là trường hợp đặc biệt – nhưng không phải là hiếm xảy ra, Lão Hạ đã dặn chỉ lấy những hàng đã bỏ đầu và áo quần thôi, nhưng rồi lần nào họ cũng quên.

Con thịt khá đẩy đà, trắng trẻo khiến lão Hạ hài lòng. Sau khi nhìn thoáng qua gương mặt con thịt với đôi mắt nhắm như đang chìm trong giấc ngủ sâu thẳm, lão lật qua lại để xem xét các vết thương. Lão luôn luôn để tâm lo lắng đến những vết thương trên thân thể các con thịt, xem có nhằm vào những chỗ làm mất nhiều thịt không. Nếu là ở ngực thì có khi quả tim và hai lá phổi bị hư nát, ở bụng thì cái bao tử và bộ lòng phải vứt bỏ, nhưng lão buồn nhất, là khi con thịt bị nát cả hai bắp đùi, vì đó là phần cho nhiều thịt nhất. Lão thường phàn nàn, người ta dùng nhiều thứ đạn lớn quá làm hư mất thân thể các con thịt một cách phí phạm. “Không nên làm phí của trời đất”, lão Hạ thường nói với những người thân.

Xem xét xong, lão mừng thầm là con thịt không bị vết thương nào nặng. “Hình như chỉ có một viên đạn xuyên vào trái tim nó mà thôi”. Lão Hạ nghĩ thoáng qua rồi nhanh nhẹn chặn lưỡi dao lên khoảng yết hầu con thịt cắt đứt lìa cuống họng. Đoạn lão dùng một khúc đòn – đã mòn khuyết – nện lên sóng dao để chặt khúc xương cổ. Phần đầu – tóc hớt cao nhưng ra đã dài – đứt lìa sau ba cái nện, lão Hạ dùng dao hất văng cái đầu xuống chiếc thùng sắt lớn kê ngay dưới đầu bàn mổ. Một ít máu đậm đặc từ khoảng cổ cụt chảy ra đọng lại trên thớt gỗ.

Sau khi đã chặt hai bàn tay và chân, Lão Hạ đứng xê ra một chút. lập tức đứa con nhỏ, có vẻ đã quen việc, múc một gáo nước nóng xối đều lên con thịt rồi trở về chỗ cũ. Lão Hạ bước tới, cạo, xong gọn gàng lật úp lại. Thằng bé lại múc nước xối lên từ hai vai xuống đến mông và hai bắp đùi. Lão Hạ tiếp tục công việc, tiếng lưỡi dao chạm vào làn da soàn soạt. Rồi thằng bé múc nước lạnh trong một thùng phuy xối tráng lại. Khi con thịt đã sạch sẽ, da nó trắng phau như màu giấy, lão Hạ bắt đầu xẻ.

Trước hết lão cắt lìa hai cánh tay ra khỏi đôi vai, rọc sâu vào lớp thịt đến tận xương rồi lọc lấy riêng thịt ra. Kế đến hai bắp đùi rồi tuần tự những phần khác. Lão chỉ giữ lại xương sườn và cột xương sống thôi, xương tay chân và những thứ không dùng được lão lùa cho rốt vào chiếc thùng sắt.

Tất cả số thịt lấy được lão cho vào một trong hai chiếc càng xế để trong một gian buồng nhỏ, kín đáo.

Con thịt thứ hai, thứ ba, thứ tư  kế tiếp được xẻ, không có gì đặc biệt. Thảng hoặc lão Hạ càu nhàu vì con thịt quá gầy, còn trẻ quá hay già quá. Nhưng đến con thịt thứ năm và thứ sáu, lại rơi vào trường hợp đặc biệt : còn nguyên cả áo quần mà lại là lính của phe bên kia. “Đối phương…”, lão lầm bầm nói trong khi vẫn tiếp tục công việc. Và tất cả các động tác của lão cũng diễn ra như vậy. Cũng nhanh nhẹn, gọn gàng. Khi cần thì lão mạnh tay, khi không cần lão vẫn nhẹ nhàng, không hề bị sự chi phối tình cảm nào đối với con thịt mà lão gọi là “đối phương” cả. Dưới mắt lão, chỉ là những con thịt, không phân biệt.

Trong cung cách làm việc của lão Hạ, nếu tinh ý, sẽ nhận ra có một vẻ âu yếm đặc biệt đối với các con thịt, có thể nói hầu như đó là sự bày tỏ lòng sùng kính trong một buổi lễ tạ ơn linh thiêng.

Trong khi Lão Hạ làm việc, không khí trong phòng như đọng lại. Người ta không còn nghe một âm thanh nào khác ngoài những tiếng động đục, vô tư của lưỡi dao chạm vào làn da, xương cứng hay thớt gỗ. Tất cả mọi người đều giữ một sự im lặng tuyệt đối. Hai đứa con lớn, sau khi khiêng gói hàng đặt lên bàn mổ, lui lại sau lưng lão Hạ, hai tay buông thỏng vòng phía trước bụng, đứng thẳng, ánh mắt chăm chú nhìn cha làm việc. Thằng bé giữ nhiệm vụ xối nước cũng đứng yên khi không có công việc. Nó đứng không nhúc nhích như một pho tượng.

Vợ lão Hạ giống như chiếc bóng, một người câm, ngồi canh lửa nồi nước, thỉnh thoảng múc nước đổ vào, thêm củi. Vài lần trong suốt buổi tối, lão Hạ gọi vợ để khoe một con thịt mập, có bắp thịt rắn chắc, hoặc phàn nàn về một con thịt ốm, thịt nhão… Lúc ấy mụ ta mới rướn cổ lên mà nhìn chút xíu cho vừa lòng chồng, rồi lại cúi mặt xuống, ánh  mắt mụ buồn rầu thiểu não.

Chỉ có một mình lão Hạ là luôn luôn hoạt động và gây ra những tiếng động nên những khi lão dừng tay nghĩ, bầu không khí như bỗng nhiên đông đặc lại, chỉ còn ngọn đuốc dầu hỏa cháy bập bùng là có sinh khí, và ngọn đuốc như một ánh mắt đỏ linh động, một nụ cười ngạo nghễ, nghiêng ngã nhả từng đợt khói đen lên  trần nhà tối ám.

–  Cộc!  Cộc!… Cộc! Cộc!

Vào lúc công việc sắp hoàn tất, thình lình có tiếng đập cửa mạnh khiến mọi người giật mình. Họ nhất loạt quay nhìn ra cánh cửa sau nhà đang chìm trong bóng tối, chờ đợi. lão Hạ cũng đã ngừng tay. Một lúc không thấy gì, lão lại tiếp tục công việc.

– Cộc! Cộc!…. Cộc! Cộc!

Nhưng rồi tiếng đập cửa lại nổi lên lần nữa, lần này kéo dài ra. Mọi người có vẻ nao núng chú mục nhìn về phía cánh cửa đã cài then, vẫn không nhúc nhích. Vợ lão Hạ mắt thất thần, ngóng cổ lên ngó dáo dác như một con thú bị săn đuổi tìm đường lẩn trốn. Cầm chặt con dao phay, tay cầm bó đuốc, Lão Hạ tiến ra. Cửa vừa mở, mọi người chưa kịp nhìn thấy gì thì một cơn gió lạnh từ bên ngoài bóng tối thổi tốc vào, ngọn đuốc run lên dữ dội xanh xao rồi tắt ngấm. Bóng đêm như bức màn lớn chụp úp lấy gian nhà đột ngột như dìm mọi người vào trong một nấm mồ. Tiếp theo, trên nền trời đen nghịt, một tia chớp dài vẽ một đường sáng ngoằn ngoèo. Ánh sáng xanh lè của tia chớp soi rõ, giữa khoảng cửa trống, một cành dương liễu lá dày gẫy gục, rũ xuống đu đưa trong gió, như mái tóc một người đàn bà bị treo ngược trút đầu xuống… Tiếng sấm nổ rền. Mưa trút xuống ào ạt.

Mụ vợ lão Hạ ôm mặt kêu rú lên thất thanh. Lão Hạ nhẹ nhàng đóng cửa lại, trở vào trong bóng tối. Khi ngọn đuốc đã được thắp sáng trở lại, mụ Hạ mắt tròn xoe, len lén nhìn lão qua kẽ tay che mắt. Lão Hạ đưa mắt nhìn một vòng ra chung quanh như để xem có gì thay đổi không, nhưng mọi vật vẫn còn nguyên : ba đứa con lão – vẫn còn đứng tại chỗ của chúng, không xê xích, như ba pho tượng gỗ, mụ vợ – ngồi gục đầu bên lò lửa – hai càng xế thịt…., lão yên tâm tiếp tục công việc.

Khi con thịt cuối cùng được làm xong thì hai càng xế thịt cũng vừa đầy. Trong một chiếc rổ lớn, lão để riêng những bộ lòng : tim, gan, cật, ruột – lão đã cẩn thận bỏ đoạn ruột già đi – Số thịt đó ngày mai sẽ tiếp tục nuôi sống đám dân đói khát trong khu phố của lão.

 – Cứu tôi với! Cứu tôi với! Cứu… tô ô ô… ôi…

Tiếng kêu nhọn hoắc lanh lãnh, hấp hối của một người đàn bà như một lưỡi kiếm thép đâm soạt màn đêm đen căng thẳng. Một tiếng kêu thảng thốt, tuyệt vọng thoát ra giữa đêm đen, vang dội trong các ngõ ngách âm u của một thành phố đổ nát, len lỏi vào tận cùng những xó góc, rung lên, thấm vào những đống gạch vỡ vụn, vào dấu vết của hoang tàn. Một tiếng kêu thống khổ gợi lòng thương cảm, đánh thức dậy những tâm hồn chập chờn trong giấc ngủ mộng mị dưới những căn hầm sâu trong lòng đất, tối tăm, ẩm ướt, với lũ chuột ghẻ lỡ và đàn côn trùng.

– Cứu tôi với ! Cứu tôi với ! Cứu…

Tiếng kêu thất thanh phát ra từ miệng một mụ già xỏa tóc, ngửa mặt lên trời, chạy rong trong các đường phố chết, vắng tanh không một tiếng động – ngay như bước chân nhẹ nhàng của bọn mèo hoang, của lũ chuột cống đi tìm những thây ma thối rửa – đầy tràn cơn vắng lặng rình rập, lạnh lẽo của những họng súng đen ngòm chực chờ nhả đạn.

Từ dưới hầm sâu, người ta rùng mình lắng nghe cái giọng run rẩy, the thé, não nuột vọng đến, nỗi sợ hãi dâng lên như có một bàn tay lạnh giá của tử thi sờ lên khắp thân thể khiến họ chết điếng. Mọi người chờ đợi nghe một tiếng súng nổ dòn, để rồi sau đó tiếng kêu tắt ngấm như một lưỡi dao cắt ngang một sợi tơ căng thẳng. Trí tưởng tượng của họ vẽ ra hình ảnh một thân người bổ sấp xuống, giãy giụa trên vũng máu, hai tay cào vào mặt đất sút móng. Nhưng cái giọng kêu thảm thương còn tiếp tục vang đến tai họ… xa dần, xa dần….

Sau đó, toán lính tuần đêm bắt đem về trụ sở một mụ già và ở đó người ta nhận ngay ra mụ.

Một người ngạc nhiên lên tiếng:

– Vợ Lão Hạ đây mà! Sao lại ra nông nỗi nầy?

– Chắc mụ ta bị lão đánh đập. Giọng rụt rè của một người khác.

Người thứ hai cãi :

– Không phải đâu, tôi biết Lão Hạ mà. Lão rất hiền lành, yêu thương vợ con lắm. Tôi ở đây đã hai mươi năm, chưa hề thấy lão ta mắng vợ bao giờ.

Mụ Hạ ngồi co ro ở góc phòng, tóc rối bù, hai mắt mở lớn lắm lét nhìn quanh gian phòng, nhưng ánh mắt mụ như nhìn vào một cõi riêng chỉ có mụ trông thấy. Miệng mụ phát ra những chuỗi dài những tiếng vô nghĩa, nghe không rõ và thỉnh thoảng mụ cười lên the thé như có một việc gì làm mụ vui thích, rồi thình lình mụ im bặt, mụ tiếp tục nói lảm nhảm những câu không đầu đuôi. Mọi người quan sát mụ với ánh mắt ái ngại.

– Trông bà ta như người mất trí. Một người đưa nhận xét.

– Ừ! Phải đấy. Nhiều người tán đồng. Bà ấy như bị quỉ ám.

– Bà ta cứ nói xàm. Nghe kìa! Cái gì “máu máu”, “đầu lâu”, “làm thịt người”, “thây ma”?

– Bây giờ tính sao? Đem trả mụ cho Lão Hạ đi chớ?

– Thì đem trả. Tội nghiệp. Mới hôm qua đây, gặp bà ta nơi hàng thịt, còn tỉnh táo đứng bán với Lão Hạ. Sao bây giờ…

Một người đến nắm tay mụ lôi dậy, mụ Hạ co rúm người lại, đôi mắt khiếp đảm đảo lia lịa, nhìn anh ta vẻ van lơn như một con thú bị thương cùng đường nhìn gã thợ săn.

– Máu! Máu! Mụ thì thầm, giọng rền rỉ.

– Đi về nhà với chồng bà. Người đàn ông dịu dàng nói với mụ. Về nhà với chồng con bà. Anh ta dỗ dành.

Mụ Hạ trả lời, thân thể mụ run lên như bị một cơn sốt rét:

– Máu! Thây ma! Làm thịt!

Người đàn ông ra sức kéo, mụ Hạ trì xuống và ông ta nhận thấy mụ có một sức mạnh khủng khiếp, ông đành phải chịu thua. Không ai lôi nổi mụ ra khỏi chỗ mụ ngồi. Cuối cùng người ta phải xúm nhau trói mụ lại mới khiêng mụ ra xe được. Mụ dẫy dụa, lăn lộn, khóc lóc thảm thiết như người ta sắp đem mụ vào lò sát sinh.

Toán tuần tiểu chở mụ Hạ về nhà.

Khi mụ Hạ nổi cơn điên bất ngờ mở cửa vụt chạy ra khỏi nhà, lão Hạ đã đề phòng đem dấu tất cả các gói hàng đang làm dở dang, khiêng hai càng xế đựng thịt cất vào buồng. Khi nghe có tiếng chân người lao xao và tiếng gõ cửa, lão bình tỉnh ra mở. Vừa trông thấy mặt chồng, mụ Hạ nhảy chồm thét lên khiếp đảm:

– Nó đó! Nó đó! Bắt nó mau lên! Bắt! Bắt! Cứu tôi!  Cứu tôi!… Làm thịt! Thây ma!

Gã toán trưởng bắt tay Lão Hạ, vẻ trịnh trọng:

– Chúng tôi gặp bà nhà ngoài đường nên đem bà về cho ông. Dường như bà nhà không được bình thường?

– Dạ. Lão Hạ điềm nhiên trả lời. Bà nhà tôi mới bị mấy hôm nay. Nhà làm thịt, thấy máu me mãi bả đâm sợ… nên… Dạ, xin cảm ơn ông.

– Đêm nay không xẻ thịt à? Gã toán trưởng hỏi, nhìn quanh quất.

Lão Hạ xoa hai tay vào nhau:

– Dạ, có chớ. Xong xuôi cả rồi..  Để chúng tôi kính biếu các ông ít lòng về nấu cháo ăn khuya.

– Ấy! Thôi… Ông Hạ, của ông mua để bán mà. Gã toán trưởng từ chối nhã nhặn nhưng giọng đầy khuyến khích.

– Dạ. Có chi đâu, chỗ quen biết cả mà. Lão Hạ nài nỉ ra vẻ hiếu khách. Nhà cũng còn ít rượu nếp, xin biếu các ông luôn, uống cho ấm bụng, dạo này trời lạnh.

– Vậy à? Gã chép miệng. Vậy ra ông còn rượu nếp. Như vậy thì được, ông đã có lòng chúng tôi không dám từ chối, quả trời có lạnh thật.

Mặt nở nang, gã vui vẻ nói:

– Lòng heo luộc nhắm với rượu nếp trong đêm khuya thì nhất. Nhắm xong ăn bát cháo ấm bụng lắm.

Lão Hạ lại xoa hai tay vào nhau:

– Dạ… xếp nói phải, trời lạnh, lòng heo luộc… rượu nếp!

Đứa con nhỏ lão Hạ bưng ra một rổ lòng chay, có đủ món: một quả tim, hai trái cật, một lá phổi, một khúc phèo non và một lá gan.

Mắt toán lính sáng lên, sự hứa hẹn một bữa nhậu lòng tươi với rượu nếp khiến vị giác họ hoạt động mạnh. Họ kín đáo nuốt nhúm nước bọt vừa vã ra ở đầu lưỡi. Cả bọn cùng cất tiếng cảm ơn lão Hạ một cách nồng nhiệt.

Toán lính tuần vừa đi khỏi, lão Hạ đem vợ nhốt vào buồng rồi trở ra tiếp tục công việc. Mặt lão không vui. Phần lo bệnh tình vợ, sợ công việc bị bại lộ, phần bất mãn mấy gã giao hàng lần này không chọn lựa kỹ, các con thịt gần phân nửa không còn được nguyên vẹn, ốm và không được tươi, vài con có mùi, phải bỏ. Đêm đó lão Hạ chỉ lấy được một càng xế đầy thịt, chiếc thứ hai chỉ được lưng phân nửa.

Số lượng và phẩm chất thịt nơi hàng lão Hạ lên xuống tùy theo độ tăng giảm của chiến trận trong thành phố. Vào những ngày cuộc chiến dữ dội thì hàng thịt của lão đầy ắp và thịt tươi rói, trái lại, chỉ có những cuộc chạm súng thường thôi thì thịt ít đi và có khi kém tươi. Khi cuộc chiến lắng dịu hàng tuần thì lão Hạ phải nghỉ việc (thảng hoặc có bày ra bán cũng chỉ trong chốc lát vì số thịt có ít).

Sự tương ứng hiển nhiên đó không khiến cho bất kỳ người nào để tâm đến, vì lẽ, điều đó không hệ trọng. Cái điều chiếm hết tâm trí họ là làm sao cho khỏi chết: chết đạn, chết đói và cuối cùng nếu có phải chết vì đạn thì cũng cố được chết với cái bụng no… thịt!

Vào cuối những ngày cuộc – chiến – không – phân – thắng – bại sắp tàn lụi hẳn, trong một khoảng thời gian vài tuần, hàng thịt lão Hạ phải nghỉ việc.

Bất thình lình, có cuộc chạm súng dữ dội xảy ra ngay trung tâm thành phố. Tuy nhiên, đó chỉ là sự hiểu nhầm giữa hai đơn vị bạn (nguyên do hai tên lính của hai binh chủng say thứ rượu “cồn” pha nước lã mà ra) khiến cho mươi người chết và bị thương mấy chục. Những xác chết được mang vào để ở nhà xác quân y viện, chờ đơn vị đến nhận lãnh. Sáng hôm sau người ta khám phá các xác chết đã biến mất trong đêm, kẻ trộm chỉ để lại một cái thây đã gần như hư nát hết mà thôi.

Ngay sáng hôm sau hàng thịt lão Hạ mở cửa bán thứ thịt tươi rói ngon lành.

Sau khi xảy ra vụ mất xác, ông chỉ huy trưởng quân y viện ra lệnh canh phòng khu nhà xác cẩn thận. Thực ra việc đó cũng đã xảy ra một vài lần trước đây rồi, nhưng vì lúc ấy đang trong cuộc chiến, nhà xác đầy quá, để tràn ra cả ngoài sân cỏ, việc mất xác không ai để ý. Và rồi ngay đêm hôm sau, toán lính canh bắt được bốn gã đàn ông mặc quân phục, trèo tường vào trộm xác. Cuộc điều tra tiến hành cho biết có sự liên hệ giữa họ và lão Hạ, với hàng thịt của lão. Hay tin, dân chúng thị trấn chấn động, thấy mình đã từng là đồng lõa. Lão Hạ bị bắt ngay sau đó.

Một thời gian không lâu sau ngày Lão Hạ bị bắt, khắp thành phố lan tràn một bệnh lạ:  bỗng nhiên người ta cảm thấy gan ruột cồn cào, bao tử như co thắt dữ dội và không dung nạp được bất cứ loại thực phẩm nào dầu đơn giản đến đâu. Bao tử họ như một chiếc võng đu đưa, hay hơn nữa như một bong bóng căng phồng đầy hơi đòi bốc lên trời cao. Họ cảm thấy cơn buồn mửa trào lên chận lấy cổ họng, họ nôn mửa một trận cho ra trò, mửa tận mật xanh mật vàng, mửa luôn ra cái bao tử, cả gan cả ruột. Nhưng cơn buồn nôn không chịu thoát ra, nó cứ nằm đó, cuối cùng sau bao cố gắng họ chỉ có những cơn nôn oẹ chiếu lệ, nhổ ra một ít nước bọt đặc quánh và ít rớt dãi.

Tuy nhiên cơn bệnh kéo dài không lâu, họ tìm ra được thuốc để tự chữa. Họ tự nhủ: nào, còn gì nữa đâu để mà ói, mửa ra nữa kia chứ? Chỉ toàn là một thứ làm bộ làm tịch, vờ vĩnh phỉnh phờ thôi. Tất cả đã tiêu ma hết rồi, thành máu, thành thịt của chính mình đây rồi, còn gì trong cái bao tử thường xuyên trống rỗng nữa để mà ói mửa?  Nó đã biến thành đời sống. Vậy thì mắc mớ gì lại phải tự hành hạ mình như mình là một tội nhân phải hối cải? Bộ không phải đã nhờ đó mà đời sống mình được kéo dài ra một cách khá dễ chịu sao? Nó có gây trở ngại gì cho thân thể mình đâu, nếu không nói là nó đã nuôi dưỡng bồi bổ thân thể mình. Vậy thì: cớ gì mình phải tỏ ra như là ghê tởm nó, ghê tởm mình? Có phải cái đó là một trò giả dối mà lương tâm cũ mòn khốn nạn của mình đặt bày ra không? Mà nào đâu mình có tội tình gì. Đời sống con người, phải, chính sự sống con người là một cái gì không thể thay thế được mà người ta còn không ngần ngại bắt nó ngừng nghỉ một cách không thương xót thế kia, sá gì cái phần còn lại vô nghĩa là thân xác vô hồn? Phải vậy không? Thế gì tội tình gì lại phải bắt mình chịu hình phạt về cái điều mà mình không cho như là tội lỗi đó?

Chấm dứt ngay cái trò phỉnh phờ rởm đó đi.

Cứu vớt sự sống. Phải, hãy cứu vớt sự sống từ sự chết.

Thế rồi cơn bệnh họ chấm dứt sau đó một cách nhanh chóng, hoàn toàn như gặp được thuốc tiên!

2.

Vụ án Lão Hạ gây một dư luận sôi nổi trong nước. Thoạt tiên người ta định xử kín trong một tòa án quân sự – vì nội vụ có liên quan đến những người lính – dù họ không còn linh hồn nữa. Nhưng ngay khi Lão Hạ bị bắt, một phóng viên địa phương đã viết một thiên điều tra cho đăng trên một nhật báo ở thủ đô khiến dư luận trong dân chúng không ngớt bàn tán xôn xao. Báo chí liên tiếp kêu gọi chính quyền nên đưa vụ án ra xử trong phiên tòa dân sự, vì lão Hạ – can phạm – là một công dân không có liên hệ gì đến quân sự cả. Vả chăng, tính chất của tội phạm có một tầm mức quan trọng đặc biệt, coi như một trường hợp điển hình, nên càng phải làm cho vụ án trở nên có tính cách công khai.

Mặt khác, về phương diện pháp lý, giới tư pháp cũng bối rối không ít, vì trong luật hiện hành và những bộ luật cũ hiện còn sử dụng, lập pháp chưa hề dự trù hình phạt cho một tội phạm như vậy.

Tư pháp phải trình nội vụ lên Hành pháp. Hành pháp đưa  qua Quốc hội để soạn thảo luật mới. Trong một phiên họp kín, Hạ viện chấp thuận một dự luật bổ túc điều… của bộ hình luật, định án chung thân cấm cố cho tôi trạng tương tự, nhưng khi đưa lên Thượng viện dự luật đã bị bác với số thăm tối đa, viện dẫn lý do: “yếu tố chính của tội trạng thuộc lãnh vực tinh thần và do một hoàn cảnh đặc biệt” đã không được chú ý. Với lại, không gian và hoàn cảnh đặc biệt mà trong đó can phạm đã “hành động” – Thượng viện tránh dùng chữ “Phạm tội”