NHỮNG CHIẾC MẶT NẠ CƯỜI

Kinh Dương Vương

Nếu không biết rõ, một người lạ chắc chắn sẽ đoán sai số tuổi thật của Hai Đầu gối. Sở dĩ hắn có biệt danh đó vì hắn có lối đánh bằng đầu gối rất ác liệt. Mỗi khi hắn giở đòn, nạn nhân mạnh nhất cũng khó có thể chịu nổi ba cú đánh. Hai bàn tay hắn để những móng dài, nhọn như vuốt chim ưng, bấu vào ót nạn nhân, kéo ghịt xuống. Rồi trong cái đà bổ xuống đó, ngực nạn nhân sẽ hứng trọn chiếc đầu gối của hắn từ dưới hất mạnh lên. Tất cả những động tác đó gọn gàng, nhanh nhẹn, xảy ra chỉ trong chớp mắt, hầu như cùng một lúc, đến nỗi chính nạn nhân, từ khi trông thấy hắn, đến lúc ngã quỵ, trào máu họng, cũng chưa biết mình bị hạ bằng cú đòn gì. Hắn thường hãnh diện xòe hai bàn tay với mười chiếc móng dài được trau chuốc, bôi sơn rất cẩn thận. Màu sơn đỏ bầm của những chiếc móng tay dài ở nơi một gã con trai trông có vẻ kinh dị. Có lần, trong lúc giở ngón sở trường, một móng tay bị gẫy, hắn tỏ ra tiếc rẻ vô cùng. Hắn nói:

– Phải mất mấy tháng mới dài ra được như cũ đó anh. Giọng hắn bực tức. Cái ót của thằng đó cứng như gáy bò kéo cày.

Hắn luôn luôn ăn mặc rất tươm tất. Áo quần ủi láng, thẳng nếp. Giày mũi nhọn bóng loáng. Đặc biệt là mái tóc dợn sóng tự nhiên của hắn không lúc nào tôi bắt gặp một sợi tóc lòa xòa. Tất cả đều được bện chặt lại với nhau, láng mượt, bằng thứ dầu chải tóc loại thượng hạng, tỏa một mùi thơm dễ chịu. Thoạt trông từ xa qua bề ngoài của lối phục sức. Hai Đầu Gối tỏ ra là một gã thanh niên phong nhã, một hạng công tử bột, và người ta khó nghĩ là hắn có thể làm việc gì khác hơn là đi chim gái – hạng gái thích đọc những tuần san phụ nữ phổ thông. Nhưng nếu có dịp đến gần hắn để quan sát gương mặt khá đẹp trai, người ta sẽ kinh ngạc nhận ra một vẻ gì đã khiến hắn vượt qua số tuổi hai mươi của hắn hàng mười năm, biểu lộ từ trong đôi mắt vàng khè, chằng chịt những đường gân máu đỏ. Hắn rất ít nói. Thảng hoặc mới thấy hắn hé đôi môi đỏ như tô son luôn luôn khép chặt, để lộ một nụ cười gượng, lạnh lẽo, vô hồn. Ngay cả trong lúc nói chuyện với tôi, đôi mắt vàng của hắn luôn luôn chìm trong một thế giới khác, hoàn toàn xa lạ, và hắn sẽ làm thất vọng những ai muốn tìm cách len vào thế giới bất khả xâm đó của hắn. Hắn đi, đứng, ăn ngủ, giao tiếp với xã hội loài người, nhưng ở hắn sự cách biệt dựng cao lên, như có một bức tường ngăn bằng thủy tinh, người ta thấy hắn xuyên qua đó giống như một hình nộm hoàn hảo, biết hoạt động. Mức độ dửng dưng, lạnh lùng đã trở nên như là một bản chất ở hắn khiến những người đối diện yếu bóng vía không dám nhìn thẳng vào mặt hắn. Và nếu đã vô tình bắt gặp, ít có người chịu đựng được mà không vội quay đi nơi khác… Vì thế mà hắn không có một người bạn, dù là những người bạn trong nghề. Chính những người đó cũng cảm thấy cái vẻ vô nhân tỏa ra, bao kín lấy con người hắn như một khối băng dày. Ngoài những lúc gặp gỡ vì công vụ, mọi người đều xa lánh hắn. Hắn hoàn toàn bị rơi vào một thế giới cô độc, nhưng hắn không bao giờ tỏ ra biết tới điều đó cả. Và, nếu trong sinh hoạt bình thường hắn lầm lì, lạnh nhạt xa lạ không thích ứng được bao nhiêu thì ở một nơi chốn khác, thuộc lãnh địa của hắn, hắn có toàn quyền sinh sát, hắn tỏ ra linh động một cách khác thường. Môi trường mà ở đó, hắn cảm thấy được thở một không khí thích hợp, được sống một cách đầy đủ, sảng khoái là không khí ẩm mốc của một căn phòng thiếu ánh sáng với những bức tường tróc vôi, nhem nhuốc những vết bẩn màu nâu, với những bình điện, những dụng cụ chế tạo đặc biệt để làm cho thân thể con người đau đớn – bắt họ thú nhận ngay cả những tội lỗi không hề phạm – với mùi thịt da cháy khét, với chất nước đỏ thắm ấm nóng tuôn ra từ miệng, từ mũi. Trong không khí đó hắn như được gia tăng sinh lực, hắn sống thực con người hắn trong môi trường thích hợp, hắn trở nên nhanh nhẹn như một con cú khi màn đêm buông xuống.

– Anh đừng tỏ ra ngoan cố. Gã đàn ông giữ nhiệm vụ thẩm vấn ngẩng lên nhìn người thanh niên, nói với giọng bất bình. Gã vừa đọc xong những lời khai của người thanh niên có dáng dấp của một thư sinh chưa rời ghế nhà trường – và anh ta không được hài lòng.

– Anh phải khai tất cả những sự thật, gã tiếp. Chúng tôi muốn biết điều đó, gã ngừng lại châm điếu thuốc, rít một hơi nhẹ đoạn tựa cằm lên bàn tay có cầm thuốc, mặt quay đi nơi khác – trước đó gã nhìn chầm chập vào mặt người thanh niên – gã gõ mẩu bút nguyên tử xuống xấp giấy, cười nhạt. Theo như những lời khai của anh ở đây thì chẳng những anh vô tội mà còn tỏ ra là một người đáng cho tôi kính phục vì lòng cam đảm, vì việc làm cao cả, vô vị lợi của anh. Có lý nào như vậy mà anh gặp tôi tại đây? Hãy tỏ ra biết điều một chút đi, ông bạn.

Người thanh niên hơi ngạc nhiên khi thoạt nghe những lời lẽ phản đối nhẹ nhàng của nhân viên thẩm vấn mà anh không mong đợi.

– Thưa ông, người thanh niên đáp. Nếu ông muốn biết sự thật thì không còn điều gì khác hơn những lời tôi đã khai trong giấy nầy.

Hơi ngập ngừng, nhưng giọng người thanh niên thật bình tĩnh và rõ ràng. Chính người thẩm vấn cũng nhận thấy như vậy. Ngoài ra còn có dáng vẻ ung dung và nhã nhặn biểu lộ trên gương mặt anh ta. Tuy nhiên, gã cũng nhìn thấy, những đốt đầu tiên của bàn tay người thanh niên bám chặt lấy mét chiếc bàn gỗ thô, máu bị đẩy đi, màu da trở nên trắng. Hắn đang tận dụng nghị lực, gã nghĩ.

Lời nói của người thanh niên như một cái tát nẩy lửa quất vào mặt khiến gã bất bình. Sự nhã nhặn của gã đối với can phạm không phải để đón nhận những lời nói với giọng xách mé và thái độ bình tĩnh có vẻ ngạo mạn, xấc xược như vậy. Dưới mắt gã kẻ đối diện luôn luôn phải tỏ ra sợ sệt, quy lụy, van lơn hèn hạ như những tên ăn cắp. Một tiếng dạ thưa, hai tiếng “bẩm xếp con”. Sự nhã nhặn của gã đối với can phạm – những kẻ đã ở vào cái thế “cá nằm trên thớt” – là để tỏ ra, gã chẳng những là người vô tội mà còn là người đang cầm dao, người đại diện cho luật pháp. giá trị nhân cách của gã đối với can phạm cao vòi vọi. Gã không nói ra, nhưng với cung cách của gã, một cách thầm kín, buộc những kẻ không may kia phải biết đến điều đó. Sự sợ hãi, vẻ đê tiện ở nơi những tên đầu trộm đuôi cướp làm thỏa mãn hai khía cạnh tâm lý đó của gã. Vừa khinh bỉ chúng gã lại vừa cảm thấy tự ái được ve vuốt. Trước đây chưa một người nào đến gặp gã ở chiếc bàn gỗ quen thuộc này lại không làm gã thỏa mãn hai khía cạnh tình cảm đó. Vì vậy mà thái độ bình thản ung dung và nhã nhặn của người thanh niên đã trở thành một tội, đối với gã còn khó tha thứ hơn là những tội gã nghĩ rằng người thanh niên đã phạm đối với quốc gia mà gã đang có bổn phận bắt phải nhìn nhận.

Vẻ bất bình thoáng qua trong cái liếc nhanh của gã về phía người đối diện. Nhưng gã đã quá quen thuộc để khéo léo giấu ngay đi. “Tao như thế này mà đi giận mày à? Tức mày à?” Trong ánh mắt gã người tinh tế dễ nhận ngay ra điều đó. “Mày là hạng nhóc con, tao muốn bóp mũi lúc nào chẳng được”. Và sau làn khói thuốc nhả ra đúng lúc che mờ gương mặt gã, người thanh niên chỉ nhận ra một vẻ trầm ngâm xa vắng, như lời nói của anh vừa rồi bị rơi vào một khoảng không chẳng mảy may  có tác động. Anh ta không chờ đợi thái độ trầm tĩnh đó.

Mặc dầu lòng ấm ức, người thẩm vấn vẫn giữ được giọng ôn tồn, rất kẻ cả, tuy nhiên không che dấu hết được vẻ mỉa mai trong câu hỏi:

– Anh có biết Hai Đầu Gối không?

– Thưa ông không…?

Ông ta cười, nhưng nghe như một tiếng khịt mũi:

– Hắn ưa hạng người như anh lắm. Gã nói, liếc nhìn người thanh niên, vẻ bí mật. Anh không phải là đối thủ của hắn đâu. Ông ta tiếp. Hạng vai u thịt bắp cũng chưa kham nổi, ròm ròm như anh, tôi e… Gã bỏ lững câu nói. Và đúng như ý gã mong muốn, người thanh niên tỏ ra hơi xao xuyến, điều đó làm cho gã hài lòng đôi chút. Nhưng vẻ xao xuyến ở người thanh niên chỉ thoáng qua thôi. Cái vẻ mà người ta nhận thấy rõ nhất trên gương mặt thư sinh trắng trẻo của anh là một nỗi buồn khôn tả. Và lạ thay, chính nỗi buồn đó, biểu lộ nơi đôi mắt đã khiến cho người thẩm vấn bỗng cảm thấy khiêng dè, một cảm tình bất chợt mà rất ít khi gã bắt gặp, trong suốt quãng đời hành nghề. Tuy nhiên, gã lại không nhận ra được vẻ thương cảm của người thanh niên gởi gấm hồn nhiên đến gã trong ánh mắt buồn rầu đó.

Hành động là chấp nhận thử thách của nghịch cảnh. Người thanh niên ý thức điều đó một cách rõ ràng và dứt khoát. Không phải anh khinh thường những đớn đau thể xác đang chờ đợi anh, nhưng nỗi đau đớn đích thực chính là ở tinh thần bị nô lệ. Và anh đã làm những gì mà lương tri của một con người đòi hỏi, theo ước vọng của một đa số bị đàn áp. Bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ đã thôi thúc anh hành động hoàn toàn vô vị lợi. Lương tâm anh yên ổn, anh cảm thấy trong tâm hồn anh một niềm sung sướng nhẹ nhàng. Anh đã hành động như một con người trên ý nghĩa cao quí nhất của nó.

Anh không oán trách những người đã xem anh là kẻ thù nghịch của họ cần phải trừ khử. Vì nếu CÔNG BÌNH – là hai chữ rất đáng yêu – mà kẻ độc tài hay sử dụng, thì điều mà người bị đàn áp sẽ cảm thấy đó là BẤT CÔNG, không thể nào khác được. Đàn áp là cái thế yếu của kẻ độc tài, còn vùng lên chống đối là thế mạnh, ở về phía những kẻ yếu kém. Mỗi bên hành động theo tư thế riêng của mình, giống nhau trong cố gắng, sự khác biệt lớn lao nằm ở cùng đích, Cả hai cùng nỗ lực, nhưng một đằng nỗ lực đem đến ánh sáng, đằng kia nỗ lực duy trì bóng tối.

Anh không tin rằng, giữa thời đại này, chỉ thiện tâm không mà thôi lại có thể đem lại một kết quả tốt. Tuy nhiên chính nhờ tin vào sự chỉ đạo của lương tri con người mà những hành động hướng đến cùng đích tốt ở nơi anh đã phát khởi. Cùng với lòng tin tưởng rằng, hễ có một ý hướng tốt trong công việc, tất sẽ có những quyền lực vô hình phò trợ. Tâm trạng đó thật cổ điển và hoàn toàn có tính cách tượng trưng, nhưng chính đó là nền móng căn bản của truyền thống nền luân lý của dân tộc anh, nhờ đó, trong sinh hoạt xã hội người ta đã biết cư xử với nhau công bằng, không cần đến nền pháp luật áp dụng những hình phạt nhằm hạ thấp, tiêu diệt phẩm giá con người như trong xã hội hiện tại, bị ảnh hưởng những chủ thuyết căn cứ trên bạo lực, mạnh được yếu thua.

Những gì xảy đến cho dân tộc anh từ hơn nửa thế kỷ trở lại đây làm băng hoại tận nền móng luân lý nhân bản ấy. Chính anh cũng đã từng hoài nghi tính chất thụ động của nó, khi anh thấy bạo lực mỗi ngày một thắng thế, và những gì gọi là “ở hiền” đều chẳng được “gặp lành” mà còn trái lại. Nhưng anh cũng ý thức sâu xa rằng, sự duy trì nền luân lý dựa trên căn bản tình người đó là một việc hệ trọng và cần thiết, liên hệ mật thiết đến sự tồn vong của dân tộc anh và cả nhân loại nữa.

Sự thắng thế của nền văn minh dựa vào bạo lực để bành trướng có tính cách nhất thời, giống như sức mạnh của một triều sóng đang dâng. Những gì nằm trên đà tiến của nó sẽ bị tiêu diệt, trong đó có con người. Nhưng cơn sóng không thể tiêu diệt hết con người và tiếp tục dâng lên mãi, sẽ có ngày sức đẩy khởi nguyên yếu đi, cơn sóng nguôi dần và hạ xuống, chìm mất trong lượng nước vĩ đại của đại dương. Cơn sóng đó phát xuất từ Tây Phương và Mỹ Châu, đang tràn sang Đông Phương, và Đông Phương chính là lượng nước vĩ đại của Đại dương mà cơn sóng sẽ tan vào.

Nhưng đó là xét theo cùng đích. Đời sống con người không phải bao giờ cũng đặt ở cùng đích mà có tính cách giai đoạn. Con người cần phải có những phản ứng thích nghi để đối phó – sự đối phó nhằm bảo tồn cùng đích – cứu vãn và hàn gắn kịp thời những gì do cơn sóng tàn phá, kể cả việc tự đặt mình làm vật chướng ngại, nhằm thức tỉnh hay làm giảm bớt sức mạnh tàn phá của nó.

Trong đất nước anh có một số người chỉ đủ trí khôn ngoan để tránh khỏi sự tiêu diệt của cơn sóng bạo lực, bằng cách tiếp tay đẩy cho cơn sóng nhanh hơn, và thu nhặt những lợi lộc do cơn sóng mang lại trong đà tiến tiêu diệt đồng bào họ. Đối với dân tộc, họ là những phần tử mà lớp người trẻ của anh có bổn phận phải nói cho họ rõ sự lầm lẫn đáng phàn nàn đó, lôi họ trở về với cộng đồng dân tộc, trở về trong truyền thống trật tự của một xã hội được thiết lập trên nền tảng của một nền luân lý có nhân tính.

Anh và những người trẻ tuổi khác, một buổi sáng đã đi rao giảng chân lý đó, nhưng đã bị những nô lệ của bạo lục đến dập tắt. Anh không lấy làm lạ tại sao người ta không nhận ra cái thiện ý trong việc làm của bọn anh. Điều đó cũng dễ hiểu, như mật ngọt và hương thơm bao ngoài viên độc dược bao giờ cũng quyến rũ cho người ta thích nuốt hơn là vị chua, đắng của một viên sinh tố. Hương thơm ý vị của hoa mộc, hoa sói bao giờ cũng khó nhận hơn là hương ngọt ngào mê hoặc của loài hoa ăn thịt.

Gã thẩm vấn ngước lên nhìn gương mặt đăm chiêu của người thanh niên, cảm thấy rõ gã đã thật sự bất lực trong việc thuyết phục anh nhận những tội trạng như gã mong muốn. Đây là lần thứ ba gã gặp lại người thanh niên tại bàn thẩm vấn này, và đến đó, công việc ở giai đoạn đầu của gã đã chấm dứt.

– Thôi được, gã xếp lại những tờ khai, nói với người thanh niên bằng một giọng giận dỗi, hăm dọa. Nếu anh không muốn được đối xử tử tế thì chúng tôi sẽ có những biện pháp khác. Gã hơi cao giọng để nhấn mạnh những tiếng sau cùng. Lúc đó anh có hối hận thì đã muộn. Đừng trách tôi sao không nói trước.

Người thanh niên không trả lời, nhưng trong ánh mắt lặng lẽ anh tỏ ra đã nghe rõ những lời của hắn ta. Anh hoàn toàn không có gì phải ân hận khi giữ vững những lời khai và vì đó mà anh nhận chịu những hậu quả thế nào đi nữa. Sự thật của chân lý thì duy nhất, làm sao anh có thể công nhận một sự thật nào khác nữa? Anh không thể hiểu được hai tiếng CÔNG BÌNH thốt ra từ miệng của những kẻ đại diện cho bạo lực khi họ đàn áp những người kém thế.

Người thẩm vấn gõ cán viết vào mặt bàn làm hiệu. Một người đàn ông vội vàng bước vào. Chiếc còng được tra vào cổ tay người thanh niên, anh bước theo gã đàn ông.

Người thẩm vấn phải mất một khoảng thời gian ngắn để vượt qua cơn bối rối. Gã chưa kịp có phản ứng gì khi người thanh niên gật đầu chào, ngỏ lời cảm ơn và từ giã, thì anh ta đã đi khuất sau khung cửa.

Tôi gặp lại Thanh tình cờ tại một thành phố trên cao nguyên, khi tôi ghé vào một hàng cà phê bên vệ đường. Sự thay đổi ở Thanh toàn diện đến nỗi, lúc đầu tôi không nhận ra – dù là Thanh đã nhận ra tôi trước – nếu Thanh không thấy sự ngỡ ngàng của tôi, lên tiếng:

– Thanh  đây mà, anh quên rồi à? Thanh cười buồn.

Tôi cũng nhận ra nơi nét mặt Thanh vẻ bối rối. Tôi nắm chặt lấy bàn tay Thanh, siết lại một cách nồng nhiệt:

– Ồ! Thanh! Lâu quá rồi không gặp. Tôi vồn vã nói, nhưng giọng tôi không được tự nhiên lắm. Tôi ôm lấy vai Thanh siết lại thân mật. Thanh mau lớn quá, tôi hối hả nói tiếp. Mới ngày nào… bây giờ… đã trưởng thành rồi.

Tôi hỏi thăm gia đình ba má Thanh, những thay đổi bình thường trong đời sống của Thanh và những việc vặt vãnh khác. Tôi lấy làm lạ, dầu là tôi đã hết sức tỏ ra thân mật để chuộc lại cái lỗi vô tình lúc đầu, Thanh vẫn giữ vẻ buồn buồn ở gương mặt cúi xuống như muốn tránh ánh mắt tôi. Đứng bên tôi mà như Thanh đang trong một thế giới nào khác. Thanh không trả lời những câu hỏi của tôi, mãi sau, Thanh mới ngẩng lên và nói sang một chuyện khác không liên hệ.

Sự thay đổi ở nét mặt và cái dáng vẻ của Thanh hiện tại đã khiến tôi ngạc nhiên hết sức. Ngoài mái tóc quăn tự nhiên, trước kia luôn luôn bồng bềnh, nay đã được chải gọn mà tôi còn nhận ra, Thanh không còn giữ lại những gì trước kia, dầu ở một chi tiết nhỏ nhặt, đã in trong ký ức tôi, hình ảnh của một cậu học sinh trung học…

Dạo đó chúng tôi ở cùng xóm. Cái xóm nhỏ gồm những gia đình công chức chiếm một quãng ngắn con đường khuất nẻo trong khu thành nội. Gia đình Thanh ở đầu đường, căn nhà liên kế với chiếc cổng sơn màu lục nhạt và giàn hoa giấy nở hoa đỏ ối vào mùa hạ. Tôi còn nhớ mãi Thu, chị đầu của Thanh, cô nữ sinh đệ nhị trường Đồng Khánh, với mái tóc thề óng mượt, gương mặt bầu bĩnh trắng hồng, mắt to đen nháy, hay đứng dưới giàn hoa giấy, ngậm một chiếc lá xanh giữa hai vành môi đỏ mọng.

Thanh là con trai thứ hai, cậu học trò đệ tam trường Quốc Học, lúc nào áo cũng bỏ ngoài quần, tóc quăn bồng bềnh, chăm học nhưng cũng không kém mơ mộng. Những đêm trăng, rất khuya, tôi còn thấy Thanh cùng với vài người bạn trong xóm cùng lứa tuổi đi dạo trên con đường ngập ánh trăng hai bên rợp bóng lá. Họ hút thuốc lá thơm mua lẻ và huýt sáo miệng nho nhỏ… Thỉnh thoảng Thanh có đưa cho tôi đọc những bài thơ lục bát và những bài viết ngắn, như một loại tùy bút ngẫu hứng. Thơ của Thanh thường gởi gắm một tâm sự ướt đẫm sướt mướt của một mối tình khó thổ lộ với một cô gái nào đó. Tuy có vẻ ủy mị nhưng rất hợp với tuổi vô tư mười bốn của Thanh và sự say mê có vẻ lý tưởng, trong sáng rất đáng yêu.

– Sau này Thanh  sẽ trở thành một thi sĩ, một văn sĩ nữa. Có lần Thanh đã hồn nhiên nói với tôi như vậy.

– Để ca tụng tình yêu hả? Tôi nhìn Thanh, cười trêu chọc.

– Thanh nói thật mà. Thanh nói thêm bằng giọng rất trang nghiêm. Ca tụng tình yêu nhân loại kia.

Dạo đó tôi đang học năm cuối của chương trình đệ nhị cấp. Tôi làm trưởng ban báo chí của trường và Thanh đã có những bài thơ đăng trong tờ Nội san.

Ba Thanh, ông Y… nghe đâu là một công chức thuộc ngành cảnh sát, nhưng suốt mấy năm ở xóm đó chưa lần nào tôi trông thấy mặt ông. Ông làm việc trên cao nguyên, thỉnh thoảng mới về thăm nhà.

Trong biến cố Mậu Thân, xóm tôi bị tàn phá hầu hết. Ngôi nhà Thanh cũng bị bom làm sập. Ông Y… về rước cả gia đình lên cao nguyên, từ đó tôi mất hẳn liên lạc với Thanh. Mãi đến nay mới gặp lại.

Thanh đưa tôi về chỗ Thanh ở, trong một xóm khuất sau thành phố. Thanh nói muốn ở riêng cho có tự do, gia đình ba má Thanh ở chỗ khác. Tôi nhận thấy có một uẩn khúc gì trong đời Thanh nhưng không tiện vặn hỏi. Căn phòng của Thanh vuông vức, vách quét vôi xanh nhạt còn mới thật xinh xắn và thoải mái cho một thanh niên sống độc thân. Tôi ngạc nhiên về sự xếp đặt gọn ghẽ, ngăn nắp của căn phòng. Tất cả các đồ dùng, tuy giản dị nhưng đâu vào đó, sạch sẽ như có một bàn tay nội trợ luôn luôn chăm sóc đến. Tôi đến chơi nhiều lần, không một lần nào tôi bắt gặp vẻ luộm thuộm bừa bãi, là đặc tính cố hữu của những chàng trai sống độc thân. Cái bàn viết trải vải hoa mầu nhạt kê ở góc phòng, trên để mấy quyển sách – truyện trinh thám và kiếm hiệp – và vài món lặt vặt. Chiếc giường ngủ đơn trải ra trắng, thẳng thớm, kê ngang với bàn viết. Trên đầu giường, một cái tủ thấp để bình hoa – Thanh hay cắm những bông cúc mầu tím và hồng – dưới chân tủ, một lò điện Thanh chỉ dùng để nấu nước pha trà hay cà phê. Trên vách tường, chỗ bàn viết nhìn lên, Thanh treo bốn hay năm chiếc mặt nạ luôn luôn được thay đổi. Cuối dãy mặt nạ là một ống sáo tre và cây đàn Tây ban cầm. Ở những bức tường còn lại, Thanh treo một vài ảnh tài tử xi nê ngoại quốc, nhưng đặc biệt không tìm thấy một tấm ảnh khỏa thân nào mà ở phòng của những người bạn độc thân khác, tôi thấy treo nhan nhãn.

Thanh hay vắng nhà thất thường, nhất là về đêm. Có những đêm tôi ở lại chơi nhưng Thanh không về, hay về rất muộn vào lúc hai ba giờ sáng, dáng điệu mệt mỏi, chán nản. Có khi Thanh vắng nhà hai ba ngày liền, hoặc ghé về vội vàng lấy những chiếc mặt nạ gói lại cẩn thận rồi đi ngay. Không bao giờ Thanh tỏ vẻ băn khoăn hay muốn cho tôi biết những hoạt động riêng tư đó. Cũng có khi Thanh nằm nhà cả tuần lễ… Trong thời gian đó, lẽ ra chúng tôi tìm thấy lại mối dây ràng buộc của những kẻ xa quê, nhưng tuyệt nhiên tôi thấy Thanh không tỏ ra một tình cảm nào để cho tôi nương theo đó mà hâm nóng lại. Không bao giờ tôi nghe Thanh nhắc lại những kỷ niệm cũ, về gia đình Thanh cũng như không hỏi han gì về đời sống của tôi hiện tại. Không bao giờ Thanh để lộ trên nét mặt một tình cảm nào đó hay thổ lộ một tâm sự. Đôi lần tôi cố gắng gợi ra những kỷ niệm có tính cách tâm tình. Thanh đều lẳng lặng nghe với nét mặt xa vắng, khiến tôi có cảm tưởng những lời nói của tôi rơi vào một khoảng không bao la không tiếng vọng.

Chúng tôi sống cạnh nhau, im lặng như hai chiếc bóng, cả ngày không nói với nhau quá dăm câu tối cần thiết. Tôi đọc truyện kiếm hiệp, Thanh làm công việc riêng – và duy nhất, tôi không hề thấy Thanh làm gì khác nữa – cặm cụi bồi giấy lên một cái khuôn đất nung có hình mặt người để làm những chiếc mặt nạ, rồi lại cặm cụi bôi màu vẽ rất cẩn thận – những dụng cụ dùng để làm việc đó Thanh để trong một cái thùng giấy cất trong tủ, chỉ khi nào làm mới lấy ra, sau này tôi mới biết điều đó. Có nhiều lần, bao nhiêu mặt nạ trên tường Thanh mang đi hết cả. Thanh lại hối hả làm những cái khác.

Những chiếc mặt nạ đã được Thanh tô màu rất kỹ và đẹp, nhưng tất cả đều mang một vẻ nham nhở, khó thương đến cực độ. Trong việc tạo ra vẻ đáng ghét cùng cực ở những chiếc mặt nạ, tôi thấy Thanh có một khả năng đặc biệt gần như thiên khiếu, không khác gì một nghệ sĩ lành nghề. Không theo một tiêu chuẩn trang trí nào, nhưng Thanh đã biết chọn lựa màu sắc và những đường nét phối trí làm cho những chiếc mặt nạ có vẻ đáng kinh tởm. Tôi nhận thấy sự khoái chí một cách chua chát ở Thanh được biểu lộ cùng với độ kinh tởm mà Thanh tạo ra được ở những chiếc mặt nạ đó. Đó là bộ mặt của những hung thần, ác quỷ, những kẻ xua nịnh, hèn hạ và độc ác. Có lẽ là sự thành công hẳn ở khía cạnh đó – ít ra là đối với riêng tôi – vì tôi không thể nào giữ cho lòng mình tránh khỏi bị khơi dậy một mối ác cảm độc địa khi nhìn vào những chiếc mặt nạ đó. Những cái trán ngắn ngủn đầy ngu xuẩn và phản trắc, những đôi mắt lé, ti hí gian xảo, những cụ cười giơ cả răng lợi ngạo nghễ, thách thức đáng ghét thậm tệ. Tôi nói cho Thanh biết cảm tưởng đó, Thanh chỉ ngẩng lên nhìn tôi im lặng với hai tròng mắt vàng.

Chắc không phải về phía Thanh, tôi cảm thấy mỗi ngày cái không khí ngột ngạt khó chịu, những khi tôi tiếp xúc với Thanh, nhìn thấy gương mặt của một người luôn luôn chìm đắm trong một thế giới hoàn toàn bưng bít tôi không mảy may len vào được, dù tôi đã cố gắng hết sức. Cả những khi Thanh nhìn tôi nữa, trước ánh mắt vô hồn của Thanh, tôi có cảm tưởng mình chỉ là một tĩnh vật. Hình như Thanh cũng nhận ra ảnh hưởng của Thanh đã đưa đến một trạng thái tê liệt trong tình cảm của tôi và Thanh cố gắng cải thiện lại trong cách cư xử. Thanh chịu nói chuyện, tỏ ra săn sóc đến tôi, nhưng thật là thảm hại, vì những cố gắng của Thanh đã chống lại một cái gì hầu như đã trở thành một bản chất sâu xa trong con người Thanh, nên cử chỉ trở thành gượng gạo, vụng về tội nghiệp.

Thực ra, cái tôi cần đâu phải là những sự chăm sóc có tính cách đàn bà đó. Tôi cần Thanh biểu lộ trung thực những tình cảm, những xúc động của một con người. Tôi cần thứ hơi ấm áp của một con người tỏa ra bao phủ lấy nó trong những sinh hoạt tầm thường nhất, ngay cả trong khi nó bày tỏ lòng hờn giận, ghen ghét.

Có những đêm Thanh đã thổi sáo cho tôi nghe, hay vừa đánh đàn vừa hát. Nhưng quả thật là tiếng sáo tha thiết và cái giọng hát ấm, gợi cảm của Thanh vẫn không xua đuổi đi được cái lạnh lùng bí mật thiếu sinh khí ở Thanh. Tiếng sáo và tiếng hát truyền cảm có thể phát ra từ một bộ máy, nhưng còn gì kinh sợ hơn, ở đây, bộ máy đó được chế tạo thành một hình người hoàn hảo. Tôi có thể mê say tiếng sáo và giọng hát, nhưng làm sao tôi có thể yêu thương chiếc máy phát ra những âm thanh? Làm sao tôi có thể cảm thấy một nhân tính nơi chiếc máy đó? Nhân tính của một con người hẳn là cái phần cao quí bên cạnh bản năng của một con thú, và không phải bao giờ nó cũng biểu lộ một cách hoàn toàn. Nhưng cả hai sẽ được dung hòa ở mức độ hơn kém để tạo thành cái sinh khí nơi họ. Ở Thanh, tôi không tìm thấy, ngay cả cái bản năng thú vật nữa. Tôi không thể duy trì sự giao tiếp với một con-người-như-Thanh. Hình như ở Thanh đã tỏa ra một vẻ gì, chỉ nghĩ đến việc gặp lại Thanh thôi tôi cũng đã cảm thấy kinh sợ.

Bẵng một thời gian khá lâu, sự liên lạc giữa tôi và Thanh bị cắt đứt hẳn. Một hôm, không do đường bưu điện, tôi nhận được thư của một người lạ – bỏ vào hộp thư trước nhà – không đề tên họ người gởi, chỉ ghi một biệt danh như biệt danh của những tay anh chị làng dao búa. Trong bì có một xấp giấy viết tay dày, nét chữ, như của một người đau, run rẩy, nguệch ngoạc và một trang giấy lẻ, ghi mấy giòng chữ lem luốc bằng bút chì:

“Tôi không thể sống mãi với lòng thù hận mỗi ngày đè nặng lên tâm hồn tôi, xóa mất hẳn nhân tính tôi. Nhưng tôi cũng không thể tìm thấy một sự hòa giải khả dĩ nào để trở lại trong thế giới loài người, dưới mắt tôi, tình thương của họ đã bị tiêu diệt. Một đốm tàn của lương tri tôi cho tôi biết rằng không nên nuôi dưỡng lòng hận thù và gieo rắc nó. Tôi không thể tìm lại tình người trong thế giới con người, có lẽ đó là một lỗi lầm vượt ra ngoài ước vọng tha  thiết của tôi mà tôi mong được tha  thứ.”

“Tôi chỉ còn một phương cách duy nhất để tiêu diệt lòng thù hận bằng cách xóa bỏ chính tôi.”

“Anh hãy đọc thiên tự thuật tuyệt mệnh nầy với lòng bao dung và thương xót cho một tâm hồn đồng loại đau khổ.”

“Tôi về gặp lại cha mẹ và các chị em tôi ở thế giới bên kia. Có lẽ đó là niềm sung sướng duy nhất tôi cảm thấy trước khi từ biệt cõi đời.”

Vì thiên tự thuật khá dài nên tôi không tiện chép cả ra đây. Và còn có những đoạn mà hầu như sự xúc động cùng cực của tác giả trong khi viết đã khiến cho sự diễn đạt ý tình không được minh bạch. Tôi chỉ xin trích lại những đoạn chính trong sự tôn trọng – hết sức tôn trọng – tinh thần bản di chúc của người quyết tâm tuyệt mệnh.

“… Tôi là hiện thân của một loài quỷ mang hình dáng con người. Tôi tự cảm thấy được điều đó và qua mắt nhìn của những người chung quanh tôi.

Trước kia tôi cũng là một con người, nhưng từ khi tôi để cho lòng thù hận chế ngự tôi, từ khi tôi xua đuổi tất cả những gì gọi là nhân tính nơi con người tôi, chỉ giữ lại và nuôi dưỡng cái phần đáng ghê tởm nhất là ác tâm, thì tôi biến ngay thành một thứ quỉ sống. Quỉ chết có lẽ còn tha thứ được, nhưng quỉ sống là một giống quỉ đáng cho con người kinh khiếp. Chung quanh tôi không phải hiếm thấy giống quỉ đó, thế nhưng chúng nó khéo biết che dấu, chẳng những qua hình dáng con người mà cả đến những tình cảm nữa – vì đã là quỉ thì chúng còn giữ làm gì thứ xúc động phù phiếm đó của giống người – nhưng tôi, tôi không che dấu, tôi muốn cho mọi người đều biết tôi là quỉ sống. Vì thế trong hàng ngũ quỉ sống tôi lại bị chính đồng bọn tỏ vẻ ghê tởm, khinh bỉ, như vậy, lũ quỉ sống đó tỏ ra với con người chúng không phải là quỉ sống, để cho chúng dễ bề đột nhập vào hàng ngũ con người giở những thủ đoạn hãm hại họ mà đôi khi chúng còn được họ tỏ lòng biết ơn nữa. Cho nên, dẫu là quỉ sống, tôi còn có chút niềm hãnh diện, ở chỗ, tôi là một con quỉ sống “có tư cách”. Tôi lấy làm buồn vì còn phải mang hình dáng con người. Lẽ ra tôi phải mang đúng bộ mặt thật của giống quỉ, như thế, từ linh hồn đến thể xác tôi không còn có điều mâu thuẫn, ai cũng thấy rõ tôi là một con quỉ, họ có thể đề phòng tôi, như vậy là đúng lẽ công bằng. Họ không còn kêu than vào đâu được một khi họ rơi vào nanh vuốt của tôi!”

“Tôi chưa được ăn gan của tất cả các giống vật nên không dám đưa ra đây lời quyết đoán về phẩm chất thượng hạng của gan giống vật nào. Tuy nhiên, trong một giới hạn, và căn cứ vào các giống vật tôi đã được ăn gan chúng, thì không có gan giống vật nào ngon qua được gan giống người. – nhất là được ăn thứ gan tươi, còn nóng hổi thân nhiệt, máu rỏ chưa kịp đọng. Tôi không hề là một nhà giải phẫu bao giờ, nhưng tôi có thể lấy gan người một cách khéo léo. Tôi biết rõ vị trí lá gan nằm ở khoảng xương sườn thứ mấy, chỉ cần một chiếc lưỡi lê nhọn, sắc, đâm vào chỗ đó, rạch một đường theo xương sườn khoảng một tấc, lật ngang lưỡi lê lại cho hai xương sườn hơi tách ra, tức thì lá gan phọt ra ngay, chỉ việc cắt đi, thế là xong. Công việc lấy gan đó đôi khi chỉ xảy ra trong chớp mắt, chính nạn nhân của tôi cũng chỉ cảm thấy đau đớn chút ít mà không biết việc gì xảy đến cho y, còn mở to đôi mắt nhìn tôi một cách ngạc nhiên ngây thơ nữa.”

“Nhưng đó chẳng qua chỉ là một trò giải trí, đúng hơn là thuộc nhu cầu vật chất mà tôi luôn luôn xem thường – tôi là một con quỉ sống đặc biệt khinh thường vật chất. Đó là một mâu thuẫn lớn giữa tôi và đồng loại quỷ của tôi, khiến chúng khai trừ tôi ra khỏi hàng ngũ, vì chúng luôn luôn là hạng thu góp chẳng những xương máu của con người mà cả đến những của cải tiền bạc nữa. Điều đáng kể đối với tôi là nhu cầu thuộc lãnh vực tinh thần. Con người cũng thường hô hào là họ quí trọng đời sống tinh thần, thực ra theo nhận xét của tôi, cùng đích của đời sống họ là theo đuổi những nhu cầu vật chất. Sự xô xát xảy ra trong những cuộc tranh giành ảnh hưởng quyền lợi vật chất, là những cuộc xô xát đẫm máu, khiến cho đến ngay như tôi là quỉ cũng phải kinh sợ. Riêng tôi, chỉ cần thưởng thức sự đau đớn của con người là tôi đủ no nê rồi, khỏi cần phải ăn uống gì nữa. Sự đau đớn của người bị tôi hành hạ càng mãnh liệt thì sự sung sướng trong linh hồn quỉ của tôi càng ngây ngất đê mê.

Sự đau khổ của con người như một chất ma túy, tôi tận hưởng sự đau khổ của họ giống như họ đã tận hưởng chất ma túy, tôi được đưa vào một thế giới tuyệt diệu, siêu phàm. Có khi tôi tham lam để cho sự đau khổ của con người xâm nhập vào linh hồn tôi quá độ, đến nỗi làm cho tôi ngã ra bất tỉnh. Tuy nhiên, đó là những cơn say huyền nhiệm. Tôi bàng hoàng thấy mình phiêu bồng trong một thế giới kỳ diệu, ở đó, tôi được gặp lại cha mẹ tôi, chị em tôi đang mở to những đôi mắt rạng rỡ niềm vui, những nụ cười tươi thắm, như thầm gởi đến tôi những lời khen ngợi, khuyến khích tôi trả thù con người cho họ hơn thế nữa, hãy tỏ ra tàn nhẫn vượt bực, trội hơn ngàn lần sự tàn nhẫn mà con người đã đem đến cho gia đình chúng tôi.”

“… Đêm đã khuya, có lẽ đã qua những giờ đầu của một ngày mới. Cả gia đình tôi đang yên giấc, chỉ còn mình tôi đang ngồi ôn lại bài vở trong gian phòng nhỏ. Thình lình, một tiếng nổ long trời lở đất phát ra ngay trong nhà tôi, làm đèn đuốc tắt ngấm, người tôi bị nhấc bổng lên, rơi xuống nẩy đom đóm mắt ngực tôi tức hầu như không thở được trong một lúc, gạch đá rơi xuống ào ào đè lên người tôi. Tôi nhắm nghiền mắt lại, yên trí rằng tôi sẽ chết. Nhưng ngay sau đó tôi tỉnh lại. Một mùi khói khét lẹt hắt vào mũi, vào miệng tôi. Lửa bắt cháy. Tôi vội vàng bương gạch đá chỗi dậy, chạy loạng quạng, đầu va vào một xà nhà. Trời! Tôi hoảng hốt kêu thầm, khi nhận ra toàn thể ngôi nhà tôi đã sập. Tôi nghe tiếng những người thân bị thương rên rỉ. Tôi chạy lại phía buồng ngủ của gia đình, mò mẫm trong bóng tối. Máu! Tay tôi vấy những máu lẫn với bụi cát, còn ướt đẫm. Tôi kêu lên như một người điên:

– Ba ơi! Má ơi! Tôi khóc. Chị Thu đâu? Cu Tý, Gái Lớn, Gái Nhỏ đâu? Có tiếng cha tôi rên siết ngay bên cạnh tôi. Tôi tìm thấy ông bị đè dưới những cây gỗ, gạch vụn. Đầu kê lên một cây sắt cong queo và chân ông đã bị gẫy.

– Ba ơi! Tôi đau đớn gọi ông, rờ rẫm lên khuôn mặt ông nhầy nhụa những máu. Tôi thốt lên những tiếng kêu vô vọng như người mất trí. Làm sao tôi có thể đem ông ra khỏi những cây gỗ đang đè lên người ông? Làm sao tôi băng bó vết thương đang tuôn xối máu ở chiếc chân gẫy lìa của ông?!

– Ba chưa chết, cha tôi thều thào. Ba còn chịu đựng nổi. Con hãy lo đi cứu mẹ và các em con. Đi mau lên!

Tôi bỏ ông lại đó, chui lòn người qua những xà nhà ngang dọc. Dưới đống gạch ngói này, mẹ tôi ở đâu? Chị tôi, em tôi ở đâu?

– Mẹ ơi! Chị Thu ơi! Gái Lớn, Gái Nhỏ ơi! Tôi kêu lên như một con chó tru, nước mắt chảy ràn rụa làm mờ cả hai mắt. Tôi nghe có ai gọi tên tôi. Tôi tiến về phía đó và đụng vào một cánh tay người. Tôi cúi xuống nhặt lên, bàn tay có mang chiếc vòng cẩm thạch.

– Chị Thu! Bàn tay của chị Thu! Chị Thu ơi, chị chết rồi… Tôi áp bàn tay chị vào má tôi, run rẩy.

Tôi tìm thấy mẹ tôi bị một bức tường ngã đè lên bụng. Nghe tiếng mẹ tôi rên rỉ, thở dốc, tôi quíu chân chạy vòng quanh bức tường, réo mẹ tôi như gọi hồn. Tôi có cảm tưởng nếu tôi ngừng không gọi nữa thì mẹ tôi sẽ chết, mẹ tôi sẽ bỏ tôi.

– Con ơi… Thanh ơi! Tiếng mẹ tôi từ dưới bức tường yếu ớt vọng lên.

– Con đây, mẹ ơi! Tôi đáp lời mẹ tôi trong tiếng khóc. Làm sao con có thể cứu mẹ đây, bức tường nặng quá!

– Mẹ chắc không sống nổi đâu con, mẹ sắp chết. Con lo tìm mấy em, ba con, chị Thu…

Tôi không dám nói với mẹ tôi rằng ba tôi… và chị Thu.

– Không, không! Tôi vội la lên. Con phải cứu mẹ! Con phải cứu mẹ! Tôi thét lên điên dại. Mẹ đang có mang, mẹ sắp đến ngày sinh. Con phải cứu mẹ. Mẹ ơi!

Tôi cố gắng hết sức mình để nâng bức tường lên nhưng không xê dịch được mấy phân. Tôi đá vào nó, tôi cắn nó, tôi đập đầu tôi vào nó. Nó nặng quá, nó cứng quá, nó cứng ngắc, nó đè lên người mẹ tôi bụng đang mang bào thai. Tôi lấy một thanh gỗ nậy lên, bức tường nhớm được một khoảng ngắn, nhưng mẹ tôi không còn đủ sức để lê ra nữa. Trong khi tôi đang cố gắng nâng cao bức tường lên nữa thì một tiếng nổ kinh hồn lại phát ra. Mắt tôi nẩy lửa, khúc cây trong tay tôi văng biến đi, bức tường sập xuống lại. Hơi thở tôi bị tắt đột ngột. Tôi hoàn toàn bị dìm vào một màn tối.

Sau thảm cảnh đó, gia đình tôi còn lại hai người, cha tôi và tôi. Nhưng cha tôi không thể còn gọi là một con người được nữa. Cha tôi đã biến thành một con vật lạ với phần thân thể còn lại đầy những mảng sẹo to, đỏ lòm, nhăn nhúm. Tôi đã hoàn toàn không còn nhận ra cha tôi nữa khi ông được đưa về từ tàu bệnh viện Mỹ nếu người ta không nói cho tôi biết “con vật lạ” đó là cha tôi, Nguyễn Văn Y… Cảnh sát trưởng thuộc Ty CS X…, với cái đầu không còn một sợi tóc, lớp da đầu ăn liền xuống tới hết gương mặt cùng một màu loang lổ trắng và hồng của làn da non vừa mới kéo, với hai mắt mù, tai điếc, với hai bàn tay bị cắt cụt lên tới vai, hai chân cụt lên tới háng. Tôi không còn tìm ra một đường nét nào còn sót lại, dù là nhỏ nhặt để tôi nhận ra đó là cha tôi. Tiếng nói của ông cũng thay đổi. Ông cố gắng diễn đạt, nhưng tôi không nghe được thứ âm thanh hình thành từ chiếc miệng trong không còn răng ngoài không còn môi của ông. Tôi sờ vào người ông, đưa mặt tôi cạ vào làn da ghê tởm của mặt ông, cách thế duy nhất tôi hy vọng ông nhận ra tôi, đứa con trai của ông nhờ một phép lạ còn sống sót sau cuộc tàn sát. Tôi thấy từng miếng da ở đó giật giật, rồi cả người ông lắc lư, đầu ngúc ngắc, trông ông giống như một con lật đật. Đó là cơn xúc động của ông, khi ông nhận ra tôi. Ông khóc, nhưng nước mắt không còn chảy ra ở hai khóe mắt mù, tôi chỉ nhận ra ở cái miệng không môi, méo mó, láng xầy, khi mếu kéo theo những khoảng da nhăn nhúm làm cho gương mặt không còn lông mày hay một sợi lông nào khác – một gương mặt trụi lũi – trở nên khủng khiếp, nhờn tởm.”

“… Cha tôi – khối thịt ghê tởm đó – là kết quả của lòng nhân đạo con người, của khoa y học của một quốc gia văn minh, hùng mạnh nhất của nhân loại thế kỷ hai mươi. Khi nhận thấy lại cha tôi trong một tình trạng như vậy tôi mới cảm thấy tận cùng sự mỉa mai của lòng nhân đạo mà con người đã thể hiện trong việc cố gắng cứu sống cha tôi. Tôi nghĩ rằng, duy trì sự sống của một con người trong một tình trạng thê thảm như vậy, thật là một hành động phi nhân. Tha để hắn chết đi lại là một hành động nhân đạo có ý nghĩa.”

“Sự ban bố lòng nhân đạo trong việc cứu sống cha tôi chẳng khác nào sự thể hiện lòng nhân đạo trong việc thiết lập những cô nhi viện khi người ta đem giết chết hết cha mẹ của lũ trẻ con đi. Đó chẳng qua là hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu một loại tình cảm mà người ta gọi là lòng bác ái của một hạng người nào đó – như nhu cầu ăn uống, bài tiết. Đó là một cách lấp liếm, một cách chạy tội đối với lương tâm họ. Đó là một việc làm được phân công có hàm ý: một kẻ giết người cho một kẻ khác có dịp cứu người. Và họ đều cảm thấy có sự khoái trá trong công việc, thỏa mãn được nhu cầu tình cảm riêng – một thứ tình cảm bệnh hoạn – nơi con người họ, cho giấc ngủ họ được yên, cho bữa cơm họ được ăn ngon miệng. Bởi lẽ, nếu họ đừng tìm cách giết chết cha mẹ những đứa trẻ, giúp đỡ cho họ nuôi dưỡng được con cái của họ, thì chắc chắn, không một bậc cha mẹ nào lại đưa con mình vào cái nhà ban-bố-tình-thươ