THƯ ĐEN

Hồ Đình Nghiêm

Tôi đến chỗ làm lúc bảy giờ thiếu năm phút. Tôi đứng hút thuốc, dựa lưng vào tấm bảng đồng khắc nổi hàng chữ “Roberto & Son”. Con đường lát gạch lồi lõm chưa ăn nắng và đám khói đằng nhà máy tái sinh giấy cũ giạt bay như một đám mây mờ đục.

  Tôi chào trả với người đàn bà dắt chó đi dạo sớm mai. Bonjour. Con chó không lớn, nhiều lông và cổ thắt nơ đỏ trông như thứ đồ chơi lên giây thiều. Nó nhìn tôi, vẫy đuôi, có vẻ mừng vui như gặp phải đồng loại và sau cùng thì vội vã chạy tới bên một cột sắt rướn thân làm công việc đại tiện. Người đàn bà moi ở túi áo ra một cái bao ny-lông, sột soạt đưa lên vẫy chào tôi trước khi khom mình thu nhặt đống phân. Bà làm từ tốn, cẩn trọng, vén khéo, như một công nhân nhiều kinh nghiệm lao động ở cửa hàng sản xuất kẹo cà-phê. Tôi nhìn lên tấm bảng cấm đậu xe và tự hỏi thành phố này có treo bảng “Cấm phóng uế- Cấm đái” như ở đất nước giàu mạnh của tôi? Cái xứ sở mà chó mỗi lúc một khan hiếm, chẳng có đất sống, chui vào mồm những thằng thú vật hai chân. Bụng tôi có hơi đau khi nhát thấy Henry xuất hiện. Cặp da ở tay này và tay kia xách túi vải có in chữ lunch bên ngoài. Henry cỡ tuổi tôi, quyền hành thấp thua chủ chút đỉnh, mặt cau có, ít khi thấy hắn vui đùa bông lơn.

– Trời đẹp quá phải không? Mày đợi chờ ai đây?

– Tôi chờ ông.

  Tiếng hú của xe cảnh sát hay xe cứu thương từ đâu chợt ré lên từng hồi, thảng thốt, bất an.

– Chuyện gì vậy?

  Mặt trời lên ở sau đỉnh nhọn tòa nhà ngân hàng thành phố, vàng rực rỡ trên những ô kính láng bóng.

– Tôi nghỉ làm hôm nay… Má tôi đau nặng…

  Henry nhìn vào mặt tôi như tìm kiếm một điều gì.

– Vào nhà thương bây giờ hay sao đây?

– Phải.

– Đi đi. Chuyện bất khả kháng phải không? Mai hẳn trở lại làm.

  Henry vỗ vai tôi. Khuôn mặt tôi chắc lộ ra nhiều nét khổ đau?

– Bà cụ lớn tuổi chưa?

  Tôi nói đại một con số. Năm mươi. Bậy thật! Nói sáu mươi thì nghe hợp lẽ hơn không? Năm mươi? Cuộc đời còn dài, sao vội đi dưỡng thương?

– Mong là mọi thứ được suông sẻ.

– Cám ơn.

  Tôi cúi đầu bước đi, ở cái lối mà tôi tin là sẽ chẳng phải đụng mặt một đứa công nhân nào khác. Má tôi chết đã lâu, hồi còn ở bên kia đại dương Và giờ này tôi đã khuấy quên bà hiện diện được bao lâu trên cuộc đời. Hưởng dương? Hưởng thọ? Má tôi chết vì bệnh gan, nhưng phiền muộn nhiều thì nó cũng có thể vật ngã một người đang khoẻ mạnh. Ba tôi có vợ bé, má tôi khám phá được chuyện vụng trộm kia và bà không mất hồn mất viá cũng uổng!

  Tôi lấy métro đi xuôi về hướng trung tâm thành phố. Sáu trạm cả thảy, không xa xôi gì nhưng khi trồi đầu bước lên mặt đường, tôi có cảm tưởng như mình vừa đặt chân vào một thành phố khác với tất cả sự dằn xóc của chuyến xe vừa lên đèo xuống núi. Đầu tôi có hơi nặng, trì trệ và tôi đứng định hướng khá lâu. Khi tìm ra quán cà-phê, Tưởng đã ngồi sẵn ở đó rồi. Má hắn còn sống và  trông hắn lúc nào cũng đỏ da thắm thịt.

– Xin nghỉ nguyên ngày luôn hay sao? Hắn hỏi.

– Ừ. Nguyên ngày.

  Tôi ngồi xuống chiếc ghế nhựa, ở vỉa hè. Tấm bạt căng trên đầu còn lưu giữ một phần bóng tối mà bình minh chưa xua đi nổi. Chiếc ghế nhẹ, đứng chông chênh trên nền xi-măng tráng có hơi nghiêng. Tôi nghĩ tới những điều dối trá mà người ta phải ngụy tạo khi có chuyện cần. Sự dửng dưng khi đó và lòng dấy lên chút thỏa mãn về tài đóng kịch của mình.

– Ông làm ở đó lâu chưa nhỉ?

– Bốn năm.

  Tôi trả lời Tưởng. Nói lên một con số mà chính tôi cũng ngờ vực về mức độ chính xác. Hy vọng đúng. Khoảng đó, không lâu hơn được. Những cổ máy ở đấy hằng năm còn phải tu sửa huống gì con người, chịu đời chi thấu! Bốn năm. Lương mỗi năm được tăng thưởng cho thêm hai mươi xu. Thứ “dầu mỡ” đó chẳng đáng gì với một đầu óc lâu lâu tự biết kiểm thảo bản thân. Mồ hôi đổ ra trong khoảng thời gian dài ấy có thể ví như chó nghiêng chân đái rầm rộ một trộ. Không đùa. Thật khiếm đảm!

– Tại sao ông hỏi vậy?

  Tưởng nhìn cô bồi bàn đang bày thêm bàn ghế ra ngoài trời:

– Để biết là khi đó ông đã thành hôn với Hân chưa?

  Người bồi bàn tiến lại gần. Cô chít băng-đô đen, tóc vàng mịn, vầng trán cao, mặt thanh thoát và có vẻ học thức. Chắc cô chỉ làm bán thời gian cho quán Van Houtte này.  Khuôn viên đại học có lẽ là chỗ đứng thích hợp với cô hơn.

– Ông dùng gì?

– Cà-phê đen, loại pha đậm, xin vui lòng.

  Tôi nói trong khi nhìn tách cà phê sữa đặt trước mặt Tưởng. Hắn thắp thuốc, hắn thở khói:

– Tôi suy nghĩ nhiều. Mình có rảnh việc không? Mình có nhiều chuyện không? Nhưng sau cùng, vì tình bạn, tôi thấy khó chịu và quyết định làm chuyện này giúp ông.

  Tưởng phát biểu cảm tưởng. Có vẻ ái ngại và tôi nghĩ lý ra kẻ bối rối phải là tôi thì trông hợp tình hơn. Tôi nhìn sâu vào trong quán. Những ngọn đèn vàng, bóng tròn, buông xuống lưng chừng trên mỗi vuông bàn. Nó không sáng lắm, nhưng nhìn lâu, mắt tôi hoa lên.

– Ông nghĩ gì?

– Tôi nghĩ trước sau ông vẫn là người bạn tốt.

  Tôi trả lời và tôi tự đo lường mức thành thật có trong câu nói.

  Cô gái đi ra, lùa theo chân bước là mùi thơm của tất cả những loại cà-phê rang chín quyện lẫn trong sự chuyển dịch ấy. Nếu là tình nhân, tôi sẽ nói với cô: Cà-phê trên thế gian không ngon bằng đôi môi em. Cô đặt từ tốn tách cà-phê xuống bàn cho tôi. Mặt nước đen sóng sánh và kề cận là đôi môi tô vén khéo màu son hồng. Hân dùng son môi hiệu Shishedo, khi thì Lancôme, lúc khác lại thấy Dior. Tôi không hiểu được sự thay đổi ấy, trong khi đôi môi Hân trước sau vẫn thốt lên một chữ “Bye” mỗi sáng tiễn tôi bước ra khỏi nhà.. Thủy chung, không nhiều lời. Chẳng sáng tạo thêm thắt chữ gì khác. Khô khan.

  Tách cà-phê nóng, ngon, đậm đà. Tôi nhớ hình ảnh Má tôi ngày xưa vẫn luôn cúi mặt xuống tách trà vừa pha, để cho khói xông thẳng vào đôi mắt mở lớn. Làm vậy để được gì? Tôi không biết. Bà nói với tôi: Con muốn có đôi mắt đẹp thì cắt hộ má đống hành kia. Tôi kể cho Hân nghe chuyện đó với một phụ chú: Lúc nhỏ anh là đứa khóc nhiều.

– Đây, chỉ có hai tấm ảnh này là rõ nhất.

  Tưởng nói khi tôi vừa đặt tách xuống dĩa. Chùi tay vào quần, tôi đón lấy cái “món quà” mà Tưởng hứa sẽ trao. Nó xa xỉ, nó tốn kém thời giờ. Nó làm Tưởng mệt mỏi và nó có thể làm đổ vỡ tan hoang tất cả những thứ mà người ta kiểu cách gọi là lâu đài tình ái. Tôi nhắm mắt giây lâu, nghĩ là hãy cố giữ sự bình thản tối thiểu trước mặt Tưởng. Hắn điện thoại cho tôi và hắn lập ngôn: Cái gì cũng vậy, nói có sách mách có chứng, vấn đề là ông có chịu đựng nổi không.

  Tôi mở mắt nhìn xuống. Đôi nhân tình ôm eo nhau đứng đợi đèn lưu thông chuyển màu ở một ngã tư đông đúc xe cộ. Đôi tình nhân nhắm mắt hôn nhau ở bên một quầy hàng bán hoa tươi. Hai tấm ảnh có hiện rõ ngày tháng ở bên dưới và khoảng cách sai biệt là ba hôm. Một tấm chụp Hân mặc áo xanh. Tấm kia thì áo trắng khoét rộng cổ. Tôi nhìn gã đàn ông trong hình. Cao ráo, chải chuốt, bảnh trai. Và nói tóm hắn có cái vẻ gì đó khó nhìn.

– Hắn là kỹ sư làm ở công ty điện lực thành phố. Ngồi ở đây ông có thể thấy cái cao ốc đó, cách chỗ Hân làm chỉ một block.

  Tôi lật úp hai tấm ảnh vào nhau rồi đặt xuống bàn. Tôi đốt một điếu thuốc, cố tập trung ý nghĩ.

– Ông xin nghỉ việc nguyên ngày phải không? Nếu muốn, trưa nay tôi dắt ông vào cái quán ăn mà hai người thường hẹn hò.

– Để làm gì? Để ăn trưa hay sao?

  Tưởng thở khói thuốc vào mặt tôi:

– Tôi vẫn ngỡ là ông muốn nhìn thấy thái độ của Hân khi đó.

– Tôi không muốn. Ông thì sao? Ông dằn lòng được trước cái cảnh ngộ kỳ cục ấy không? Nó khó xử quá. Cho bản thân ông và luôn cả vợ ông. Thật bẻ bàng!

  Tưởng cười khan trong cổ. Tiếng cười có thể diễn dịch ra ba chữ: Hết ý kiến.

– Vậy chứ ông tính sao?

– Tôi không biết. Có lẽ cái tôi mong muốn giờ này là sự tỉnh táo. Ông uống thêm cà-phê không?

  Tưởng đứng lên:

– Không. Tôi đi làm bây giờ.

– Cám ơn ông đã bỏ công sức trong mấy ngày qua..

– Nếu còn cần gì ở tôi thì hãy gọi điện thoại và nhớ là đừng làm chuyện dại dột.

  Dại dột. Tôi lập lại chữ đó trong đầu. Thật là khôi hài. Tôi nhớ lại ngày vượt biển, ngồi trên ghe giữa phong ba, đầu óc tôi cũng đã từng lập lui lập tới hàng trăm lần: A di đà Phật cứu khổ cứu nạn. Sau đó tôi tới bến bờ tự do trong bình yên và nghĩ lại thấy con người đôi khi phải dại dột liều thân ra đi kiểu đó. Không dại dột không yên thân với bọn bất nhân.

  Tưởng vỗ vào vai tôi trước khi bỏ đi. Sáng nay thằng Henry cũng vỗ về y hệt và hắn mong cho tôi được suông sẻ mọi chuyện. Tôi gọi thêm cốc cà-phê để nhâm nhi, tự nhủ lòng, mình đang là kẻ hạnh phúc, hiểu theo nghĩa tôi đang thảnh thơi trọn ngày mà chẳng phải đứng vật lộn với cổ máy gây nhiều tiếng động. Một ngày nào đó tôi sẽ bị lãng tai vì nó, và về già tôi sẽ bút đàm với Hân để cô khỏi khô hơi rát cổ. Nghĩ cũng có cái thích thú. Bởi lẽ, có những điều mình sẽ ngượng mồm biết bao khi nói ra. Viết thì dễ hơn, thoăn thoắt; đại loại như: Con bà mày, đồ phản bội theo trai… Chữ viết của tôi ai cũng bảo là chững chạc, cứng cáp, rồng bay phượng múa; đẹp hơn chữ của bác sĩ cả ngàn lần.

  Nắng xâm thực vào chỗ tôi ngồi. Người bồi bàn thay cho tôi cái gạt tàn thuốc mới và cô bắt đầu trương những cây dù ra, trên những chỗ ngồi trống vắng khách. Tôi theo dõi mọi động tác của cô rồi vô tình ngó thấy chiếc áo cô mặc để hở hai hạt nút trên cùng. Tôi nhìn lại tấm ảnh Hân mặc áo rộng cổ, nếu Hân khom mình cúi xuống, có lẽ thằng đàn ông kia sẽ thấy thấu suốt những gì có ở bên trong. Ngực tôi hơi đau, thứ râm ran khác thường, chẳng giống như đang ôm một kiện hàng nặng bá thở đi từ xe tải lạng quạng chất đống vào kho. Thằng Henry có một nhận xét mà tôi không mấy tin: Người Việt tụi mày làm việc cần cù và giỏi chịu đựng! Giỏi chịu đựng? Thì cũng tới một chừng mực nào đó thôi. Dồn chó vào chân tường thì e câu chuyện sẽ tới hồi gay cấn. Tin không?

  Tôi chào cô bồi bàn mặc áo hở ngực khi bước ra đường. Nếu được ôm cô ta vào lòng để hôn say đắm, Hân nhìn thấy và liệu Hân có lồng lộn ghen tuông? Tôi chui xuống métro, đứng đợi chuyến tàu sẽ tới với điệu bộ của một kẻ vô gia cư. Khi người ta không có cho mình một chỗ trú thân, có lẽ người ta sẽ hoang mang về một đích đến. Tôi muốn trở về nhà ngủ một giấc nhưng chăn nệm mền gối bừa bộn ở đó làm tôi ngại ngần. Nó là thứ hình ảnh dễ dẫn dắt trí tưởng người ta đi xông xáo tới một bến bờ tồi tệ cùng cực. Những cọc nhọn trơ ra dưới thủy triều nước rút.

  Đường hầm đầy gió, cuốn theo nó là tiếng động u u và rồi thì hơi nóng bỏng rát chạy vụt qua. Tôi bước vào thân tàu điện, con rắn khổng lồ này chuyên chở hơn cả triệu hành khách tất bật đi về mỗi ngày. Nó xâm xoàng cảm mạo, cả triệu sinh linh kia sẽ xớn xác túa ra đường, hoảng loạn tìm cách tới chỗ làm như thể đang chạy giặc với cái miệng léo nhéo chửi rủa: Đồ ác đức bất nhơn! Một ngày nào đó, bọn khủng bố sẽ mang bom đi dạo chơi dưới ấy. Bạn làm gì nếu vấn nạn thực sự xảy ra? Câu hỏi được dân chúng nêu lên và trăm câu trả lời từ phiá thẩm quyền chưa hề làm an lòng một ai. Người dùng phương tiện di chuyển công cọng chỉ biết thốt một chữ. Và chữ ấy tôi cho là đúng đắn nhất, hay ho nhất: Fuck. Chữ dở tệ là chữ: Oh,my God!

  Lạy Chúa tôi! Sao giờ này rồi mà métro vẫn đông người thế? Đồ cái thứ chây lười lao động. Một ông già ngưng đọc tờ nhật báo trải rộng để phóng đôi mắt đục lên. Sau cùng ông thu xếp mọi thứ lỉnh kỉnh để nhường chiếc ghế trống cho tôi. Người ông ta hôi khai, tệ hại thua một đứa trẻ con không làm chủ được cái vòi phun nước của mình. Tôi nhớ tới bố của Hân, đã lâu tôi chưa có dịp gặp lại ông. Cái lão già mà ngày xưa luôn treo tấm bảng “Coi chừng chó dữ” trước nhà, ông tạo ra đủ thứ chiến tuyến kiên cường mà tôi buộc phải đánh thắng để lấy được con gái ông. Thời trai trẻ, ông có địa vị và dưới mắt ông tôi là thứ không đáng để ông ngó tới, dù chỉ nửa con mắt. “Mày biết thơ văn không?” Ông hỏi. “Chút chút” Tôi thành thật khai báo. “Nếu biết rằng em đã có chồng. Mày nhớ câu sau là gì không?” Tôi gãi đầu: “Em ơi đừng tưởng thế là xong!”. Được lắm. Vô nhà đi. Hân ơi, có cậu nào tìm mày đây này. Hân xuất hiện, cô la toáng lên: “Kỳ cục, bố chả biết gì ráo! Nguyên văn của người ta là: Nếu biết rằng em đã có chồng. Trời ơi người ấy có buồn không?…”. Ông gạt ngang: “Câu mày diễn ngâm chẳng thể sánh với câu kia được. Phải biết hăm dọa chứ. Buồn làm đếch gì?”

  Tôi  ngồi khoảng mười phút thì xuống trạm Victoria, nơi có đặt trụ sở sinh hoạt hội cao niên. Sáng sớm, ông đã ngồi ở đó, bên tách trà, trước mặt là bàn cờ tướng gần tàn quân với một mái đầu bạc khác làm đối thủ. Tôi nhìn xuống vuông cờ có hàng chữ “Hạ thủ bất hoàn” kẻ giữa biên giới hai nước xanh đỏ. Bố của Hân không để ý tới sự hiện diện của tôi, mọi chú tâm ông đã dành cho ván cờ đang tới hồi bị vây kín. Có thể ông băn khoăn chẳng biết sẽ lên con sĩ hay kéo con xe về án ngữ bên hông. Con pháo của ông đứng ở một vị trí lý ra không nên đóng trụ ở đó. Tưởng nói với tôi: “Moa là người ngoài nên sáng suốt hơn toa, kẻ ở trong cuộc”. Bố của Hân không sáng suốt bằng tôi là chuyện đương nhiên. Ông đi hỏng một nước cờ để đổi lại được giọng cười rộn ràng của đối phương. “Chiếu. Đã chịu thua chưa?” Nếu tôi lâm trận, có lẽ tôi cũng chẳng thay đổi được cục diện. Mọi chuyện đã trễ mất rồi. Câu nói còn nước còn tát e không áp dụng được trong trường hợp này.

– Bố rút con pháo về đứng ở đây thì chưa hẳn đã thua.

– Khỉ, sao không nói sớm!

  Ông nhìn lên tôi và chẳng hề thắc mắc vì sao tôi lại đứng ở sau lưng ông vào giờ phút đó.

– Cậu này là con ông đấy à?

– Phải. Con rể. Kiếm bố có chuyện gì?

– Lâu lâu cũng nên tạt ngang rũ bố đi ăn trưa.

– Cậu này mặt mày ngó đàng hoàng hiếu thảo hơn mấy đứa con tôi.

  Ông già lạ mặt nhận xét, dù ông không ngó tôi phút giây nào cả. Có lẽ ai rũ mình đi ăn, kẻ đó đích thực là đứa có bộ mặt đàng hoàng đẹp trai. Ông đang dàn quân ra, đầy đủ quân số để gây chiến một trận khác. Bố của Hân cũng thế, những con cờ đặt lóc cóc xuống lại vị trí ban đầu của nó.

– Bố chưa đói. Phải gỡ hòa ván nầy mới tính được.

– Ông xuất quân đi.

  Bố của Hân kéo cổ pháo vào giữa:

– Dạo nầy con Hân nó ra sao? Giời ạ, nó đi đâu biệt tăm cả tháng nay?

  Nếu tôi đưa hai tấm ảnh ra cho ông xem giờ này, hẳn ông sẽ phát biểu: “Sao ở chốn công cộng mà chúng mày giở trò tình tứ kiểu văn minh Tây phương đồi trụy thế hở!” Tôi đứng yên, lòng nhủ thầm chẳng biết tuổi thọ của mình có bằng hai khứa lão này không?

– Nó hứa hẹn hôm nào nhà cửa rộng rãi khang trang sẽ thỉnh bố mẹ về ở cho vui. Mẹ chúng mầy đoán già đoán non, không khéo mà cái Hân nó có chửa ông ạ! Có tôi bên lưng, chỉ bày kinh nghiệm đẻ đái để được mẹ tròn con vuông … Coi, để tôi đập con chốt này xem sao.

  Ván cờ khởi đầu thường chẳng có gì hứng thú để xem. Tôi đi loanh quanh trong trụ sở vắng lạnh. Đèn néon thắp màu sáng xanh, vách treo đầy những tấm bảng, dán đầy những tấm hình chụp qúy vị bô lão có chú thích bên dưới: Sinh hoạt trại hè…Làm việc từ thiện công quả ở chùa… Đi du ngoạn Ngũ đại hồ… Tham quan nhà thờ nổi tiếng bắc Mỹ… Dọc theo bờ tường là những bản tin ghim đầy tựa như bích báo. Có tờ cong queo vàng úa của ba bốn năm trước, có tờ nặng nề mang một nội dung nửa trịnh trọng nửa ngô nghê nằm dưới chữ thông cáo. Không ai thấy, tôi gỡ xuống được ba vuông giấy. Tôi đi lại góc phòng, nơi đặt cái máy photocopy. Tôi xé nhỏ những chữ cần thiết, chắp vá và xếp đặt chúng vào máy. Photocopy ở đây giá rẻ hơn bên ngoài, chỉ năm xu cho mỗi lần sử dụng. Bấm nút, tôi nôn nóng đợi chờ thành quả, rồi tờ giấy sẽ được máy nhã ra.

– Ông cứ đập con mã đó đi, bất quá thì tôi thí cờ thôi. Ngựa đổi pháo cũng chẳng hề chi.

– Để xem, tôi đập con ngựa. Xe ông ăn qua. Tôi bỏ đây chiếu, rồi ông tính sao?

– Chả tính gì cả. Ông thua ván cờ này nữa chứ không khỏi. Nói năng chi lôi thôi.

– Ủa, chớ đi đâu thế?

– Con sẽ trở lại. Bố cứ xơi con ngựa ấy đi, nó đứng án ở đó lợi hại quá.

  Bố của Hân nghe lời. Có đồng minh, ông dùng cờ đánh mạnh tay xuống con ngựa đỏ. Chát. Chết mày chưa?

– Ái dà. Một mình tôi đọ sức với hai cha con hay sao đây?

– Thôi, mày đi đi, kẻo bố ăn ván này chẳng có gì vẻ vang. Mày có tiện đường ghé mua cho bố ổ mì thịt.

  Tôi bước ra khỏi phòng sinh hoạt hội cao niên. Tôi đi dáo dác như một lão già lạc mất con cái. Đừng bỏ ba một mình, trời lạnh quá sao đành… Phố phường chộn rộn, quẹo trái, quẹo phải. tôi băng qua hai ngã tư thì đụng mặt với nhà bưu điện. Tôi mua một cái phong bì cọng thêm con tem giá nội địa. Tôi dùng tay trái, viết khó nhọc tên họ Ngọc Hân lên trên cái địa chỉ quen thuộc của tôi. Kềm giữ lắm hàng chữ cũng bị lên xuống run như giun bò. Cũng ngộ thật, chưa bao giờ tôi viết chữ bằng tay trái, lần đầu tiên thử nghiệm lại đè vợ mình ra mà lè lưỡi gò tới gò lui. Có là thánh, Hân cũng không tài nào biết được thư này do chính tay chồng cất công gửi đi. Tôi nhét hai tấm ảnh vào phong bì và đọc lại tờ giấy phô tô cọp dê trước khi gấp làm tư để niêm kín: “Nhằm gầy dựng và phát huy truyền thống đạo đức của người Việt… đời sống hội nhập quả có khó khăn… nay xét nghĩ… phạm vào luân thường đạo lý… khẩn thiết yêu cầu qúy vị nên tránh… khuyến cáo lần đầu… hạnh phúc gia đình… đáp ứng tình hình… chú tâm bồi đắp… đồng kính gửi… để kính tường…”

  Tôi đưa lưỡi ra liếm vào bề trái cái phong bì. Keo ngọt, cạnh giấy sắc như muốn cứa đứt lưỡi. Ừ, ở đời thiếu gì thằng cụt lưỡi bị vợ chê. Chả làm ăn gì được. Bỏ. Những đứa miệng trơn như có bôi mỡ, lưỡi dẻo nẹo thì hồi nào đến giờ cũng đông gái.

  Tôi ghé tiệm bán bánh mì thịt nguội mua cho ông già vợ một ổ. Trong góc quán có treo cái TV. Cô gái mặc váy ngắn ngồi thái thịt xíu, khoanh giò lụa lâu lâu ngưng động tác để ngửa cổ lên theo dõi khúc phim bộ đang chiếu. “Nói thật nghe, anh là đứa không ngại mang giày cũ đâu”. Tôi nhìn thằng tài tử Hồng-kông vừa phát ngôn (lồng tiếng) có cái bản mặt trông đáng ghét. Xấu thua khúc thịt mà cô gái đang trăn trở trên tay. Ruồi bay quờ quạng nơi bắp chân trần.

– Xin anh hai đồng. Sao không mua năm ổ để được tặng không một ổ?

– Độc thân mà cô. Biết ăn cách gì cho hết?

  Người con gái đứng két nhìn tôi khi nhận tiền. Có thể cô này là chị cô kia, thảy mặt hoa da phấn và cũng có thể cô biết rõ tôi là hạng ba hoa chích chòe. Đã là hạng người đó thì hơi đâu mà đùa dai. Tôi cũng vậy, làm thinh là thượng sách. Tối nay không biết tôi sẽ nói những gì với Hân? Hai nhân vật chính trên màn ảnh truyền hình bỗng dưng la lên nhốn nháo. Cửa phòng mở, xuất hiện thêm thằng đàn ông mặt điên dại cầm dao nhảy bổ vào: “Đôi gian phu dâm phụ kia…”

  Tôi quay lưng, âm thanh cuốn phim DVD đuổi theo bén gót. Chạy băng qua đường tôi xém bị xe cán chết. Tiếng vỏ bánh xe cắn xuống mặt đường nghe kiêng răng, mặt nhựa bốc khói. Tiếng chửi thề tràng giang đại hải tuôn ra, như thể cái miệng ấy vốn ngứa đã quá lâu, chẳng biết lấy gì mà gãi cho đã. Hừ! Nếu chết tôi sẽ là một hồn oan. Tôi chết mà không nhắm mắt, bởi lẽ hai tấm hình đã gửi đi. Giả như nó còn trong túi áo thì ít nhất khi khám nghiệm tử thi, người ta cũng tìm được một lý do để nói thay tôi, khép đóng hồ sơ vĩnh viễn: “Dễ hiểu quá mà, thằng này tự tử vì vợ nó ngoại tình” Còn ổ bánh mì thịt nắm chặt trong tay thì sao? Chẳng lẽ tiểu ban điều tra tội phạm cũng chóng tìm ra đáp số: “Thằng này khôn dàng trời, lo đầu cơ tích trữ lương thực, sợ đói bụng trong khi sắp hàng đứng chờ được húp chén cháo lú. Phải đó mày. Bánh mì thương chớ không ai thương đâu!”

  Nắng trưa hung tợn đổ xuống người tôi thứ màu mè nổ đom đóm. Mắt mờ, chân run, tôi ngồi bệt xuống bờ cỏ lề đường, mở giấy gói, nhai ổ mì thịt, ngấu nghiếng.

Hồ Đình Nghiêm
30 tháng Tư đen ngoài quê cũ.

 104 total views,  2 views today

Bình luận