THIỀN

Túy Hồng

Hai cán bộ tuyên truyền đạp xe qua khắp thôn xóm kêu gọi ai nấy hãy mau mau ra sân tập thể thao.

Mặt trời hé mắt nhìn xuống mặt đất đang ngái ngư, hoa lá lả lơi cười, một buổi sáng trẻ đẹp như thế này mà chui rúc trong nhà thì phí quá, hãy đi ra ngoài họp mặt trời đất. Bác Hồ đưa ra ý kiến: toàn dân phải dậy sớm tập thể dục. Bác Hồ chia dân ra làm ba giai cấp: Địa chủ, tiểu tư sản, vô sản. Bác Hồ kêu gọi toàn thể công dân nên tản cư về miền quê để trốn tránh thực dân Pháp dội bom lửa  ở các thành phố.

Anh bần cố nông ngưng tay hỏi:

“ Thưa sư thầy, cha Hồ đang ở nước ngoài phải không?”

Thiền sư trả lời:

“ Đừng gọi một kẻ không sinh thành ra mình là cha, gọi là Bác cũng tạm được rồi.”

Nông phu thắc mắc:

“ Do đâu mà có chữ Bác?”

“ Tại vì Hồ độc thân, bình dân và yêu thương trẻ con. Tại vì trăm nghìn năm về trước, tại Tàu, có một vị chúa tể đã muốn được dân gọi mình là bác.. Có lẽ Hồ Chủ Tịch đã mượn ý người xưa. Ngoài ra..”

Thiền sư chợt nghĩ Việt Minh giết học giả Phạm Quỳnh và nhà văn Khái Hưng, bèn không nói tiếp.

Năm 1946, một năm sau khi nắm chủ quyền, Việt Minh ban hành đạo lệnh Ba đ Ghét đ, giết đ, đâm đ..để xử tội Việt Gian, những kẻ chạy theo Pháp và những kẻ hợp tác với chính phủ bù-nhìn. Để tiết kiệm đạn, Việt Minh giết người bằng cây gậy tre có một đầu nhọn bọc sắt, tức là ngọn giáo. Chính phủ lâm-thời Viêt Minh còn phát động lệnh sát-sinh Ba Không: Không ân huệ, không dung tha, không thương hại. Ngọn giáo sắt đâm họng, thọc bụng, xuyên ngực Việt gian.

Những ngày dài cào cuốc cỏ dại để gãi ngưá cho đất đai, đã làm người thiền tăng và người bần cố nông thích nhau. Những lúc nghỉ tay, anh nông dân ăn trầu hút thuốc, uống nước chè xanh bên bụi dưá dại. Người tu hành ngồi ngó mấy tên cùng đinh còng lưng cắt cỏ, ngắm mấy chị thợ gặt quỏ lưởi liềm ngang lưng lúa, nhìn những trái bắp vễnh râu nghe lóm chuyện thời sự, những cây khoai mì ốm yếu bất lực, những dây khoai lang ôm nhau nằm bò dưới nắng. Anh nông phu chúm miệng huýt gió gọi chim én đang rạo rực liệng. Dù nghèo mà ham, tình thầy trò mát lành như sưã bò..

Trước khi vác cuốc ra về, thiền sư khuyên người bần nông hãy chôn vài nắm muối dưới tất cả những cây dừa vì dừa là loại cây ưa mặn, nếu được mọc ven bờ biển, cây dừa sẽ không đòi hỏi gì hơn là đẻ trái nhiều cho người bần nông ăn và giải khát.

Đêm đến, thiền sư về chùa. Chỉ ban ngày mới ra đồng phụ giúp nông dân cày cuốc.

Ít lâu sau, Việt minh biệt phái cán bộ Tam-cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng ngủ một nhà với bần cố nông về làng giúp dân cày cuốc. Theo nghiêm lệnh của   Việt-minh, mỗi cán bộ tam cùng phải ăn-ở trong nhà một người cày ít nhất là sáu tháng, sau đó sẽ nhận được lệnh mới thuyên chuyển đi nơi khác. Nhà nhỏ một gian, đêm đêm anh cán bộ phải gở cánh cửa rỏm ở sau bếp xuống để nằm ngủ trên đó. Hai bên ăn ở chung đụng như vậy, nhưng chưa bao giờ diễn ra cảnh tượng anh cán bộ giựt vợ anh nông phu ở làng này.

Hiện thời, thực dân Pháp chiếm hết thành thị và xa lộ, chủ tịch Hồ và Việt Minh nắm giữ các vùng thôn quê và lòng dân.

Sáng sáng, hai người trở dậy ra đồng, anh nông dân hỏi người cán bộ cách- mạng- mùa-thu:

“ Phạm Quỳnh là Việt gian, phải không?”

Cán bộ nói:

“ Đó là một người thâm học Hán-Nho, nhưng nói tiếng Tây tài hơn ai hết.”

Hai người gian khổ làm ruộng dưới nắng nóng. Lúc nghỉ tay, họ ăn chung một mo cỏm. Người nông phu vấn một điếu thuốc lá tổ bự hấp tấp hút.

Chiều nay, anh cán bộ còn phải dẫn một bầy con nít nông thôn lên đồi thả diều. Chiều nay, chú  làm cho các cháu vài con diều cóc. Món đồ chơi này gồm một cái vòng tròn bằng dây để đeo vào tay và một cái khung bằng tre phơi khô được gói kín trong lá chuối non phơi nắng ba ngày. Con diều cóc này, bởi thế, nhẹ hơn diều giấy và bay cao hơn trong trời chiều ngợp gió. Trẻ con cười, chạy tới chạy lui, tung tay ra bắt nắm sợi dây dài, nhảy cà tưng đuổi theo làn gió Lào tràn qua biên giới Vietnam. Trẻ con reo cho đến khi mệt nhoài rồi nằm xuống vạt cỏ ống, chúng tháo vội cái vòng ra khỏi tay để đeo vào chân. Chúng tươi vui nằm thở, mắt mở to nhìn theo cánh diều cóc bay qua bay lại trên mặt cỏ, và đồng thời nhìn trời cao bao la khi mây bốn phương kéo về. Mây tuổi thơ có ba màu: màu nước dừa lợn cợn, màu cam sành, và màu dưa hấu.

xxxxxxxxxxx

Dưới lá cây, nhà sư đứng nhìn lên giải mây màu trắng nước dừa lợn cợn rồi ngồi xuống xếp tréo hai chân lại để bắt đầu bài học về phép thở thiền.

Lần đầu tiên ngồi đếm số lượng những lần thở ra và thở vào từ mũi mình, nhà sư trẻ, vừa mới tu, công đức  chưa dày, cảm thấy sốt ruột, hai mu bàn tay chảy mồ hôi, sư chỉ ngồi thở chừng 5 phút rồi chán. Một môn học không cám dỗ. Nhưng đã lở tu rồi..

Trài qua 4 tháng, sư có thể chịu đựng được từ 15 đến 40 phút ngồi ̉học thở. Sau đó, một thiền giả Cao Miên tặng sư cuốn sách mỏng kê khai những câu, những lời  để sư thư thỉ cùng không khí khi hành thiền.

Hãy lấy thí dụ: tôi đang ngồi thở với thu, với mùa thu lá đổi màu, tôi đếm một hai ba  khi dưởng khí bay vào mũi tôi, và tôi đếm một hai ba khi thán khí thoát ra từ mũi tôi. Tôi đừng nghĩ rằng: mùa thu, ai chưa quét lá phong, ai cho ai chiếc lá cuối chiều..! Cái đó là sai, là vô thần.

Buổi mai đã muộn, một ít chim đang hót. Con chim nhỏ đậu trên cành thấp ranh mãnh nhìn sư chắp tay tĩnh toạ trong tư thế tròn hình đoá hoa sen và lắng nghe sư nói:

Thích Ca bảo tôi: “ Nước của   nghìn con sông phản chiếu nghìn ánh  trăng. Nếu mây không che mờ mười ngàn dặm đất, ta có thể thấy mười ngàn dặm trời.”

Giê-Su bảo tôi: “ Rồi ta sẽ trở về với mái tranh ở trên trời.”

Mohammed bảo tôi: “ Tiếng gồng, tiếng tù-và, tiếng trống đồng đã tắt, chỉ còn tiếng gọi của   Alla trên mây cao gọi ta về gian lều cỏ.”

Đaṭ Lai Lama dạy tôi: “Quả đất quay làm ta chóng mặt. Về thôi, về đi thôi. Niết- Bàn ơi..”

Trang-tử cười với tôi: “ Ta chỉ là một cánh bướm lẳng lỏ.”

Lão-tử bảo tôi: “ Cởi hạc về trời, bụi đời rư sac̣h…”

Khổng-Tử nghiêm dạy: “ Luân lý hiền lành bao che ta, nhưng nếu ta vô luân, thì sẽ thấy sự trừng phạt dã man của   luân lý..”

Mạnh Tử phụ hoạ: “ Bỏỉ luân lý đi đôi với công lý, và luân lý làm ra dư luận.. ”

Bom nguyên-tử bảo tôi: “ Nạn đói năm gà đã giết mười phần trăm dân số Vietnam rồi, thôi ta buông tha…”

Thiền xong, sư mở mắt ra nhìn không gian tím tươi và thời gian tím bầm. Sư ngó con sông dài, sư thở trên sóng đời cuồn cuộn chảy. Xa xăm, con thuyền xuôi mái cố gắng chèo xa bến khổ. Sư chắp tay vái không khí khi trả lời cùng tất cả chư vị lãnh đạo các tôn giáo: “ Kính thưa quý vị giáo sư, quý vị đã dạy tôi thở, dạy tôi nhìn cái đẹp, và dạy tôi đôi đường luân lý.Tôi xuất gia dưới mái chùa Phật đã được một thời gian,  nhưng ngay trong đáy ruột của   tôi, một câu chuyện vẫn chưa có đoạn kết..”

Sư đeo túi dược thảo vào vai, bước qua cây cầu dừa, thiền hành về chùa, vừa đi vừa nóỉ thiền: tôi bước, tôi bước, tôi bước..Thiền dạy ta nói hỏi nhiều, đi, đứng, ngồi, ăn, ngư..gì gì cũng nói ra thành lời. Trông hơi kỳ, không giống ai đang đi ngoài đường cả.

Gần đến chùa, sư nghe tiếg quác quác và thấy người chăn vịt dẫn đàn vịt Xiêm lông dày sáng ánh, đến cánh đồng vừa mới gặt xong để ăn mót những hạt lúa còn sót lại. Chàng chăn vịt thắt một chéo vải màu đen trên trán kéo xuống tận chân mày, tay mặt cầm cây cờ tam-tài nhỏ màu xanh rực, tay trái nắm cây gậy tre để lùa bầy vịt đi sát vào nhau không được xé lẻ. Tụi vịt bầu  đít nhoi, chân bước chữ bát lạch bạch, cổ nghễnh cao tò mò dòm ngó hai bên, mỏ oang oang vừa đi vừa chuyện trò bằng tiếng vịt. Mỗi lần đàn vịt không bước đều, lao xao làm mất trật tự, chàng chăn quỏ gậy, phất cờ kêu gọi chúng nó hãy đề cao cảnh giác, tôn trọng luật đi đường.

“ Thưa sư thầy,” chàng chăn vịt chào, “ chắc thầy vừa đi nhổ dược thảo và tìm lan về?”

“ Chào Công,” nhà sư chào trả, chỉ vào đàn vịt, “ vịt có thể bước qua cây cầu khỉ được không?”

“ Thưa thầy, vịt của   con có thể làm trò đó. Gia đình con chuyên nghề nuôi gia súc. Vịt và chó rất ngoan, dễ dạy, biết vâng lời, người chăn nuôi có thể dẫn chúng đi bộ ngoài đường tìm mồi, hoặc đi chơi đi dạo. Nhưng mèo và gà thì hư lắm, cứng đầu lắm, ít chịu nghe lời hay ý đẹp, con phải kìm giữ mèo và gà ở trong bếp, trong vườn.”

Nhà sư nhìn xuống bầy vịt:

“ Có phải anh Công dẫn vịt ra chợ bán?”

“ Dạ không, con dẫn chúng nó ra hồ ao, để chúng tắm, gội đầu, rửa mặt, bơi và nô đùa..Mẹ con và chị con chuyên nghề ấp trứng gà vịt để đem ra chợ bán..còn con thì vô tích sự.”

“ Anh Công có đem chó ra chợ bán không?”

“ Dạ không. Giết chó tội lắm..Ngày xưa bên Tàu có người nuôi một con chó và một con mèo. Ông ta cấm chúng nó leo lên ghế bọc nệm mà ngồi..Con chó vâng lời, nhưng con mèo tính bướng  lắm, nói không nghe, Ông chủ đánh con mèo ba roi. Con mèo đau lắm nhưng vẫn tính nào tật ấy.. Ông chủ đi làm trọn ngày, con mèo đợi ông ta ra khỏi nhà lại nhảy lên ghế nệm nằm. Đến giờ Ông chủ sắp về, con mèo nhẩy xuống, nhưng Ông chủ sờ tấm nệm, tay cảm thấy nong nóng, ông  lại đem con mèo ra quất ba roi. Sau đó, trước giờ Ông chủ đi làm về, con mèo nhẩy xuống khỏi ghế nệm, con chó liền lấy chân cào sạch lông mèo, hà hơi thở dồn dập vào chỗ con mèo nằm cho mát lại.”

Kể chuyện xong, Công chào nhà sư, lôi bầy vịt đi. Lũ vịt lắc mình nhoi đít, rướn cổ đẹp như chim thiên nga, chong mắt tròn như trứng chim hoạ-mi, ấm giọng chuyện trò ồm ồm. Con vịt Việt-Nam bé bỏng kêu khẹt khẹt, con vịt Xiêm-la to xác kêu khèng khèng, con vịt Cuba vừa mới bị viện trợ sang Đông Nam Á, còn lạ nước lạ cái, cất bước mà..buồn vào hồn không tên.

Thiền sư bốc thuốc thơm tay, thâm hiểu Hán tự, thấm thấu tận tim hơn một trăm nghìn từ Hán-Nho trong tự điển Trung Quốc. Cho những ai dị ứng mũi, sư khuyên người đó hãy hái hoa trinh nữ và hoa trà cúc nấu uống thay  nước chè. Với nhũng kẻ cao máu cao mở, sư phát cho người ấy 45 viên thuốc tễ, khuyên bệnh nhân hãy kiêng mặn,và hãy ăn nhiều tỏi.

Đầu năm tuất, với đôi tay nghệ sĩ, sư nhổ mấy túi cỏ thuốc đem phơi khô, rồi cặm cụi ngồi kết cỏ lại thành hình con chó. Sau khi khám xong một bệnh nhân, sư rút mười chiếc lá khô từ con chó đó  đưa biếu người bệnh đem về nhà nấu uống. Qua năm Hợi, sư lại kết cây lá tạo hình một con heo. Đến năm Ngọ, trong chùa có con ngưạ bằng cỏ. Và năm khỉ, Tôn Ngộ Không múa gậy vào quậy cửa thiền.

Một bà lão dẫn con cháu nội 4 tuổi đến chùa xin thiền tăng lấy gỗ đẽo cho đưá cháu một con búp-bê. Sư phải tiêu mất một ngày trời mới làm xong tặng phẩm biếu bà già.

Hai tuần lễ sau, bà già đến chùa thưa:

“ Bạch sư ông, con cháu tôi nó vén áo bày bụng ra, nó ôm con búp bê vào lòng, rồi nó ấp con búp bê vào ngực, rồi..rồi dứ cái núm vú của   nó vào miệng con búp bê.”

Nhà sư nghiêm giọng:

“ Bà cụ hãy về nhà lấy món đồ chơi ấy ném vào lửa.”

Có những buổi mai muộn, dưới bóng im của   hàng dừa dại, nhà sư khoác áo cà-sa vàng ánh đạo, hai tay ôm bình bát, miệng lâm râm tụng niệm, tâm trí tĩnh lặng, đi quanh thôn làng khất thực.

Có những ban mai chưa muộn, sư thay áo cộc nâu sồng, an nhiên vào chợ mua vài lon gạo lứt. Chiều đến, sư đi thăm một vài gia đình tá điền. Tu khổ hạnh ép xác, da mặt sư mét xanh bởi quanh năm ăn rau với cải, bởi đêm đêm bắt buộc phải thức thâu khuya, tụng từng hồi kinh dài không dứt và niệm từng tràng kệ sâu hút ý đạo. Hơi thở sư nhẹ lên sắc sắc. Tiếng nói sư trầm xuống không không.. Sư đã thấm thiền đích thật rồi. Tâm lý sư thật giản dị và thật dễ hiêư. Sư sống không làm dáng, bỏỉ tu không phải là làm dáng, người tu đi bộ trên đường trần, con đường không có số nhà, không có điểm cuối để về.

xxxxxxxxxx

Ba mươi năm cũ, ngoại thành cố-đô có cô gái cầm chiếc kéo sắt, cùng đi với người anh họ đến bià rừng cắt một cụm hoa thạch thảo.

Tóc cô gái dài thẳng một giải luạ, một giây ngân-hà, một dòng suối. Mỗi lần chải, nàng phải đứng trên ghế cao, mái tóc buông xoã phư kín nhiều viên gạch hoa. Mỗi lần đi đâu, nàng phải búi tóc lại. Trong khuôn viên ngôi nhà, chỗ nào nàng đi đến, hương tóc nhẹ bay thơm ngát mùi chùm-kết và mùi chanh, cộng với mùi bông lài bông lý, cộng thêm mùi hoa ngọc lan, rồi tổng cộng với tất cả hương ngát của   mọi loài hoa dại hoa khùng từ các khu vườn lân cận ven bià rừng. Suối tóc cô gái dài quét đất nhưng không bao giờ rối như tỏ lòng, mà bao giờ cũng mượt, cũng láng ánh. Tại sao? Tại vì, cô gái chưa bao giờ nói một lời thề nguyền cùng ai để tóc mai phải rối, phải rụng, phải thở dài. Cho đến hôm nay cùng người anh đi hái chùm bông thạch thảo.

Một loạt phi cơ Pháp bay thấp, nghiêng cánh lượn trên không rồi chúc mũi xuống thả một loạt bom lửa.

Trong phút nguy cấp, người anh họ kéo cô em nhẩy xuống hố cá nhân hình chữ A và ôm lấy nàng bao che suốt thời gian phi giờ oanh tạc dã man, mặt đất động kinh bể nhiều mảnh, đá sỏi nhào lăn..Bỗng suối tóc huyền của   người con gái bung ra, một cột tóc đen rậm và dài lẳng lỏ xoã rộng bao quanh, che kín miệng hố  để hai người không còn nghe tiếng bom nổ chát chuá, tiếng máy bay rền vang  hoặc bất cứ tiếng động kinh hồn nào nưã! Người con trai chỉ còn nghe tiếng tóc hát, tiếng tóc nói, tiếng tóc thầm thốt một một câu thề. Tóc dịu thở một làn hương, tóc run rẩy nhẹ thỏang mùi chùm-kết và mùi chanh mỏng vỏ, hoa lài hoa lý.. Người con trai khát nước quá  cổ họng khô dòn  như bánh đa, nên há miệng uống mái tóc của   cô em và cảm tưởng rằng mình đã chìm trong một khe suối ngọt, một con lạch không sỏi đá, chỉ có đường phèn hoà tan trong nước cam-tuyền..giống như một gã đàn ông nào đó cả đời chưa bao giờ thấy biển, bỗng dưng phải phóng mình nhẩy xuống đại dương.

Ngưng tiếng động oanh tạc , hai anh em trèo ra khỏi miệng hầm. Bỗng máy bay quay lại quần thảo mãnh liệt hơn, quyết liệt hơn với ác ý muốn làm trời sập. Người anh kéo cô em nhẩy xuống hố lần nưã. Nhưng lần này hai anh em nhẩy xuống hố định mệnh. Một trái bom nổ tan nát trên bãi bắp gần đó, một mảnh bắn vào miệng hầm nơi hai người đang ẩn núp.

Một người chết, người còn lại cầm kéo cắt mái tóc thề gói lại rồi đi thẳng vào chùa tu thành sư!

xxxxxxxxx

Nhà sư trẻ lục tìm tư kinh Phật, nhồi nhét vào đầu một tổng số kinh kệ, học phép thở thiền, đêm thức khuya, ngày ôm sách, làm biếng nấu cỏm chay.

 Sư đọc một tờ báo đăng hai tài liệu viết về công hiệu của   tương: một nhà máy sinh hoá tại tỉnh Hồ Bắc, Trung Cộng, xác nhận rằng có một loại tương được chế biến từ  tóc con người. Loại tương này mùi vị thơm ngon hơn tương đậu nành! Và chưá đựng nhiều chất bổ dưởng hơn!

 Theo một số khoa học gia người tỉnh Hồ Bắc Trung Hoa, loài người ăn nhiều cá thịt. Khi cá thịt vào trong thân thể họ ,một số cá thịt mọc thành tóc nên tóc ăn rất ngon rất bổ.

Sư mở gói tóc kỷ-niệm ra, nhón vài cọng đưa vào miệng, nhai không ra nhưng cố trợn mắt nuốt! Sư lắc đầu khóc, mắt bên trái khóc với mắt bên phải. Thôi hãy gói kỷ niệm lại đem cất dưới chân Phật, ta giờ đây chỉ còn níu lấy câu kinh mà sống thôi. Bẻ gãy đũa mun, đập vở đồ sứ liễn sành, ta đi tìm gió mát từ ao sen Phật. Ôi em, anh yêu em nhiều lắm!

Sớm mai, sư bước ra đường đi thiền. Hai cán bộ nông thôn tiến đến chào:

“ Thưa thầy, có phải thầy đang đi thở không ạ?  ”

Nhà sư êm giọng:

“ Thưa cán bộ, đúng vậy ạ..bần tăng đang thực tập bài học thiền hành.”

Hầu hết các cán bộ nông thôn, những kẻ điều hành việc làng, đều là những tay có tài ăn nói, biết giải thích rõ ràng những điều cần thiết mà người nông dân đã hỏi họ. Trong mỗi làng, người cán bộ sống thân thiết với dân cày và giữ vai trò cố vấn chỉ đạo. Nông dân tin và đặt hết hy vọng vào họ. Người nông phu có thể đi bộ cả chục cây số đến trụ sở nhờ họ giải quyết những vấn đề khó.

Người cán bộ cao niên nói:

“ Thưa thầy, chiều nay có buổi họp lớn tại đình làng, mục đích là để giảng bày cho dân thị thành tản cư về làng hiểu biết chút nào về tình hình sinh hoạt ở thôn quê. Ban quản trị ltrân trọng mời thầy đến tham dự..”

Nhà sư khước từ:

“ Nhưng tôi là một tu sĩ..”

Cán bộ vôị cươì:

“ Ban quản trị cần sự hiện diện cưa nhà chùa..Thưa thầy..”

Sư cúi chào, bỏ đi. Hai cán binh nhìn nhau cười tếu, một anh ba hoa kể chuyện:

“ Có một thằng cha sợ muỗi hơn sợ ma hút máu, thằng chả  đến chùa

hỏi một ông sư tu thiền làm sao diệt trừ bệnh sốt rét, ông thầy thiền này bảo anh ta đêm tối phải dăng mùng dăng màn..nhưng không được nằm trong mùng màn mà ngư, mà phải chui xuống gầm giường nằm im. Đêm tối về, bầy muỗi chắc ăn là thằng chả  đang nằm trong mùng ngư, chúng xúm lại tấn công cái mùng..Thằng cha nhờ đó mà an toàn, còn cái mùng mắc bệnh sốt rét.”

Mọi nhà ăn cỏm sớm, lo đi họp. Chiều còn chút nắng. Ba con vật nhỏ: con bê, con cưù non và con dê dại trời sinh cùng có tiếng kêu be be, bờ he, he he..giọng điệu giống nhau không phân biệt được. Con bò mẹ nằm phơi bụng bự trên cỏ, đưa mắt lườm lũ ruồi nhặng bu vào nó nãy giờ chưa chịu bay đi. Trẻ con thả diều cóc, học trò trường làng đá banh. Quả bóng làm bằng giấy nhật trình và lá chuối khô vo tròn lại, lăn trên cỏ mát, dưới ánh chiều tà.

Trước cổng đình, một cánh diều trương rộng, tượng trưng mảnh hồn làng, treo cao cạnh lá cờ đỏ. Đây là một cánh diều lớn, niềm vui của   các chàng trai hương thôn, một công trình trình nghệ thuật cổ truyền. Để có đư vật liệu làm diều, dân làng phải hùn tiền lại mua 7 thước luạ quý, và một ve mực Tàu. Họ nhờ một cụ Đồ-Nho râu dài  viết hai câu thơ Đường lên mặt luạ, nhờ hai tay danh hoạ vẽ hình rồng rắn cạnh ba bộ mặt béo bụ̣̉ Phúc Lộc Thọ. Tiếp đến, hai tay tài tử hát chèo, và hai nhà làm thư công nghệ trẻ tuổi  chịu khó lên ngàn chém mười hai cây trúc để làm một chục ống sáo, mỗi ống đục tám lỗ tròn . Năm ống sáo tám lỗ, người làng gọi là sáo tố lãm, được gắn vào bụng diều, và năm ống gắn vào đuôi diều.

Xong xuôi, một chàng trai trẻ trèo lên mái đình treo cánh diều  xoay đuôi về hướng  tây.

Vào chiều hè, bốn năm tên trai tỏ thay phiên nhau bay chiếc diều này quanh làng. Họ cầm sợi dây buộc diều chạy ngược chiều gió. Đuôi diều mở toang hoát, bày cái bụng bự trống hốc ra, gió lùa qua mười ống tiêu tám lỗ  và tiếng sáo diều chợt cất lên, khi vút cao, khi trầm thấp ru hồn người dân quê sau một ngày lao động ngoài đồng.

Bỗng một hôm, cánh diều yêu dấu cưa họ đứt dây bay sang làng bên cạnh. Dân làng này mừng vui khôn xiếc đem diều dấu kín một nơi. Trai làng Nguyệt Long kéo qua đòi lại nhưng bị từ chối. Cả làng Nguyệt-long tràn qua quyết ăn thua đư. Rồi giưã hai làng, hận thù hục hặc nhiều năm không nguôi.

Giưã đình làng, tất cả cán bộ đều mặc bà-ba đen. Một số du-kích quân và nông dân gương mẫu đi chân đất, để đầu trần đến dự phiên họp.

Sau tiếng hô lớn, tất cả đứng dậy chào cờ. Khi Việt Minh cử hành lễ thượng kỳ, họ nắm bàn tay mặt lại ấn nhẹ vào thái dương bên phải, họ không duỗi  bàn tay ra cho đụng vào trán như tụi Tây. Sau bài quốc ca và bài tôn ca Hồ chủ tịch, phiên họp bắt đầu.

“ Thưa quý đồng chí, đồng bào .

Đêm nay rằm, chúng ta, đầy đủ dân làng và dân thành thị  tản cư về quê, họp mặt trong thiện cảm và thông cảm. Mục đích của   buổi nói chuyện quan trọng này là để vinh danh các đồng chí nông dân hữu công với tổ quốc, và tiếp theo, chúng ta chờ đợi trăng lên để cùng tĩnh tâm ngồi thở bên nhau với sự tham dự của   Thiền sư Huyền-Thông..Bây giờ, xin nhường lời cho đồng-chí Hùng. Xin đồng bào cho một nụ cười và một tràng pháo tay!”

Xin một nụ cười và một tràng pháo tay. Câu nói này phát xuất trong dân làng từ bao giỏ ̀không cần biết?  Chỉ biết rằng một thời gian khá xưa, hoàng đế Bảo Đại và hoàng hậu Nam Phương ngự lãm một xuất hát, trong đó, có hai vai hề đóng hài quá hay, khán giả muốn cười quá nhưng phải nín và cố nhịn, dù tức bụng. Lý do vì vua chưa cho phép vỗ tay cười! Khi màn hạ, một giọng nói của   viên quan cận vệ cất lên:

“ Lệnh nhà vàng cho phép cười và vỗ tay!”

Lập tức, khán giả cười và vỗ tay.

Sau khi dân làng vỗ tay, đồng chí Hùng hắng giọng:

“ Chúng ta là cán bộ Việt Minh yêu nước, lãnh đạo của   chúng ta, ba vị Hồ, Võ và Phạm đều tinh thông ngôn ngữ Tây-Tàu và tu theo đạo Phật kiêng sát sinh, khác với Mao và Staline. Việt Minh là những chiến sĩ chống nạn đói và chống quân thù xâm lược.

 Hôm nay, tôi muốn kể lại với đồng bào một câu chuyện về tướng Võ Nguyên Giáp: Thuở thiếu thời, tướng Giáp học trường trung học Thuận Hoá. Vào thời đó, khắp ba miền đất nước, chiến tranh triền miên, học trò đi học, dấu võ khí chống Pháp trong người và rải truyền đơn khắp nơi.

Một hôm, nhân viên an ninh Pháp đến trường tịch thu một số truyền đơn, biểu ngữ, lựu đạn.. và bắt những học sinh phản động ra xếp hàng ngoài sân.

Tên công-an Pháp nói lớn:

“ Học sinh nào chủ trương phá rối học đường, rải truyền đơn, xách động biểu tình, bãi khoá..Hãy đứng sang một bên. Có gan làm, tất có gan chịu.”

Học sinh im phăng phắc, tên công an tiếp:

“ Tay anh hùng nào đã phá rối trường học, nếu không nhận tội, nhà chức trách sẽ đóng cửa tất cả các trường học .”

Không thấy ai nhúc nhích, viên công an lấy phấn vẽ một vòng tròn trên sân trường và chỉ tay vào đó:

“ Nếu không học sinh nào nhận tội, tất cả các trường học sẽ bị đóng cửa vĩnh viển. Ai chủ mưu phá rối học đường, hãy can đảm bước vào đứng trong vòng tròn này….”

Học sinh Võ Nguyên Giáp  đã bước vào vòng tròn.

Cán bộ Hùng cao hứng tiếp:

“Và, đây là hình an̉h cao đẹp thứ hai: Phạm Văn Đồng! Người anh hùng Nho Giáo này tuy là một nhà mô phạm, nhưng lại phản đối bọn thối nát trí thức, đã nói một câu ngon lành, đáng để đời: Trí thức là cục cứt!  Và người thức giả này đã từ chức xách cặp sách đi theo tiếng gọi của   kháng chiến.. một mùa thu năm xưa cách mạng tiến ra đất Việt..”

Hùng thao thao thuyết tiếp:

“ Và, Hồ Chí Minh! Người anh hùng số một của   toàn cõi Đông-dương cũng như của   sử-sách từ xưa nay!  Chính danh họ Hồ đã làm ra cuộc chiến tranh chống Pháp này, chính tay họ Hồ sẽ bẻ gãy chính sách đế-quốc xâm lược..để lưu lại hậu thế, để cho con cháu một cái gì. Tất cả mọi cuộc chiến trên thế-giới đều xấu, tàn khốc: Thế-chiến một, Thế chiến hai, Chiến tranh Triều-tiên..đều xấu xấu xấu..chỉ có một chiến tranh này, kháng chiến chống Pháp của   Hồ chủ tịch là đẹp tuyệt trần!  

Bỗng một viên chức áo đen tay cầm bút giấy đến bên. Hùng lui ra. Người này dành nói:

“ Cho tôi xin vài giây phút để vinh danh các đồng chí nông dân, con cưng của   tổ quốc, những tay cày tay cuốc đã đánh tan giặc đói để mọi người có cái ăn. Hy vọng đặt vào các bạn, niềm tin đặt vào các bạn. Trong tương lai, nhờ các bạn, những người dân đứng trên đỉnh cao giống nòi, Việt Nam sẽ trồng được tất cả các thứ lúa lạ như là yến mạch, tiểu mạch, đại mạch.”

Viên chức áo đen quay mặt nhìn chàng chăn vịt:

“ Đồng chí Công! Tôi xin gửi lời thăm bầy vịt của   đồng chí..Tôi xin kính chào má và em gái của   đồng chí, hai người ấp trứng vịt độc đáo nhất của làng này, hai tay ấp hột vịt lộn tài ba nhất.”

Vài con dế cất tiếng đáp lời.  Buổi họp mặt chạm vào đề tài chính:

“ Đêm nay, chúng ta ngồi ngắm trăng tập thể theo mệnh lệnh của   cấp trên. Trăng, một chút trăng soi vào tâm tư có thể làm duỗi dãn những co thắt trong thân tâm chúng ta; sau một ngày làm việc gian lao, thể xác chúng ta gào kêu một phút nghỉ ngơi dưới ánh trăng vàng..Đây, công tác ngắm trăng bắt đầu!”

Một cán bộ lấy hơi thở mạnh như để chuẩn bị tham thiền và ngồi thẳng lưng, mặt ngước lên trăng. Hai cán bộ hướng dẫn mọi người tĩnh toạ trong tư thế đoá hoa sen, hai bàn tay chắp vào nhau, nhưng đôi mắt phải mở lớn,  không được nhắm lại như Đức Phật…

Đêm mềm nhuyễn trong gió mát thơm hương hoa. Gió thổi dài, đủ để buồn ngư. Mặt trăng trinh nữ trong sạch không một tì vết. Về hướng tây-bắc, sao Vệ-nữ mọc thấp, tỏa ánh sáng trắng bạc; về hướng đông-nam, sao Arctorus leo lét màu vàng lửa.

“ Hãy ngắm trăng!” cán bộ ra lệnh.

Cỏn gió mỏng manh thổi đùa trên tóc mọi người đang ngồi tham thiền  cạnh vạt cỏ già khô. Những trái cây chỉ khi chín mới có mùi thơm như ổi, xoài, mít  đang tỏa hương nồng.

“ Hãy ngắm trăng đi thôi! Hãy thở cùng trăng!” Cán bộ lại kêu lớn.

Rồi cán bộ nhìn vào đám đông với đôi mắt mở to như mắt con chim cú  trí thức .

“ Trời Phật ơi!”  Thuyết trình viên la hỏang. “ Các bạn hiền thân mến! Xin hãy mở mắt banh ra! Tỉnh dậy đi..đừng ngủ nưã. Hãy tiếp tục tham thiền tĩnh toạ! Đừng gật gù..Ôi ôi đừng ngáy! Hãy nghiêm chỉnh lại! Đừng ngủ..một mai qua cơn mê..ôi ôi..đừng mộng mị, đừng mơ màng..hãy ngồi đàng hoàng nhìn lên ánh trăng..Một, hai, ba..tham thiền!

Ánh trăng tế nhị và làn gió lịch sự vẫn đùa dai làm mọi người híp mắt lại.

Bỗng trong đám đông có kẻ la lớn: “ Thằng nào đánh rắm thối quá!”

Người cán bộ trẻ mở sách ra tra cứu một kiểu thở thích hợp hơn, để áp dụng hữu hiệu hơn vào đám đông ô-hợp này, điệu bộ y hệt một nhà sư đang thuyết pháp trước đám đệ tử: “ Thở vào, tôi biết tôi đang thở vào. Thở ra, tôi biết tôi đang thở ra. Ngắm trăng, tôi biết tôi đang ngắm trăng. Mời tất cả quý vị hãy thở thiền và ngắm trăng..”

Mấy ông già êm nhẹ nằm xuống ngủ dưới trăng. Cuối cùng, cán bộ chủ toạ lên tiếng:

“ Đồng bào thân mến! Ngày xưa Phật cũng đã ngồi thở trong một vườn xoài, dưới bóng lá của   một cây xoài tượng  như chuńg ta giờ này. Đêm nay, trăng sẽ gây một niềm thông cảm giữa người dân nông thôn và người dân thị thành. Những ai tản cư về làng, các bạn quen ngắm trăng thành thị, thì đây là một cơ hội tốt để quý bạn thưởng ngoạn trăng đồng quê. Và giờ này, quý vị đang được ngắm một mảnh trăng gương mẫu, một ánh trăng hồng trần nghìn năm vàng soi, một chén trăng tròn đựng đầy thực và mộng. Theo chủ tịch Mao-sì-Tung, người chiến sĩ cách mạng văn hoá, khi vừa mới 26 tuổi đời, đã dẫn một đoàn nông dân đi bộ từ nam Trung Hoa ra đến bắc Trung Hoa, thì ánh trăng là nguồn cảm hứng cho người làm thơ, viết văn. Làm ra thơ văn..chẳng qua cũng chỉ là nhờ ngó mãi ngó hoài vào cái mặt của con trăng.

 Phật giáo chủ trương rằng mọi cái đẹp trong trời đất đều gói gọn trong một chữ Thiền của   Phật! Đêm nay, chúng ta tĩnh tu, ngồi thở thiền để thấm thấu cuộc viễn chinh bằng chân của   chủ tịch Mao. Đêm nay, chúng ta đa cảm mộng mơ với thơ và với văn! Vậy , chúng ta hãy:

“ Một, hai, ba thiền!

“ Một, hai, ba làm thơ!”

Một con chồn cái động tình rít lên trong đêm đen. Sau khóm tre làng, một con chim cú trợn mắt cất tiếng hú theo. Cán bộ chủ toạ hô tiếp:

“ Một, hai, ba thiền!

“ Một, hai. ba viết văn!

Ngồi suốt buổi họp, sư Huyền Thông nhận xét rằng cho đến giờ này, pháp môn thiền vẫn còn là thứ ánh sáng âm u chưa được phổ biến rộng trong dân chúng! Kinh sách phần lớn không được thông dịch rõ ràng bằng tiếng Việt. Học giả Nghiêm Xuân Hồng một lần nào đã nói với riêng với nhóm bạn thân: “ Kinh sách viết sao, cứ để nguyên vậy mà tụng, nếu tụng bằng tiếng Việt, Phật và Bồ-tát là người Ấn Độ làm sao hiểu.”

Buổi họp không dài lắm, sư thong thả về chùa, lòng nhẹ nhớ kỹ niệm cũ:

Ơi em yêu quý! Một mùa hè xưa thật là xưa, chúng ta chợt khám phá ra cây xòai vườn hàng xóm năm nay mang nặng nhiều trái vàng chín ngọt dưới ánh nắng nóng gắt như muối rang. Chúng ta chun qua hàng rào, anh nhẩy lên bám lấy một cành sai quả, đánh đu cho nó hạ thấp xuống..để em với tay hái hai trái. Bỗng bà chủ nhà mở cửa, anh hỏang sợ nhẩy vội xuống, không cần biết em đã hái trái nào chưa, anh lao đầu cắm cổ ù té chạy, dẵm lên mấy bụi trà cúc, phóng qua hàng cây lilac, đạp nát mấy bụi cỏ may và lao vào đường mòn, tẩu thóat theo hướng con sông Ô-lâu .

Anh ngồi đợi mãi, không thấy em. Chần chờ giây lát, em mới hiện ra. Thay vì xin lỗi rằng anh đã bỏ em mà chạy một mình, anh nghiêm khắc nhìn em:

“ Đáng lý ra là phải chạy theo, tại răng đứng lại đó?:

“ Bà chủ không nhìn thấy em.”

“ Bà chủ đã làm chi..?”

“ Bà cho phép em chọn hai trái bự nhất để hái.”

Em đưa cho anh cả hai trái xoài, anh lấy trái bé và trả lại em trái lớn để xí tội.

Anh cắn vào đôi má của   quả xoài, nhai đầy miệng  Anh ngẩng mồm hút hết nước ngọt của quả xoài, nhớ chuyện cô đào cải-lương Bo-Bo ăn xoài tượng mà không cầm dao cắt, cứ nhai nguyên cả vỏ.. Anh đang mút cái hột xoài, bỗng nhận ra trái xoài của em vẫn còn nguyên chưa đụng tới.

Anh trừng mắt bảo:

“ Phải ăn ngay.”

 “ Tại răng?”

Anh chìa cái cằm bết xoài vào mặt em:

“ Nếu em không ăn  là em buộc tội anh.”

Em không trả lời, anh tiếp:

“ Em phải ăn để giảng hoà, để chúng ta huề nhau. Nếu không ..”
” Nếu không thì răng?”

Anh mở to cặp mắt hùm beo nhìn em, oai như một ông tướng! Toàn thân anh cứng ngắt như đang mặc quân phục kaky màu vàng.

“ Nếu em muốn chúng ta là bạn, thì phải ăn.”

Hình như cả anh và em cùng cảm thấy như có cái gì rất nhỏ nhưng rất cứng nhói mạnh ở bụng, anh tiếp:

“ Và em phải nói rằng em không giận anh.”

“ Em không bao giờ giận anh mô.”

“ Chứng tỏ.”

Em đưa quả xoài lên miệng cắn, hai hàm răng em tê khớp, làm như chất men bọc ngoài từng cái răng của   em đã bị sâu ăn mòn. Nhìn anh, em nhai chầm chậm, một tình cảm ấm ngọt thấm thấu vào em: tình yêu không chát như trái mướp đắng. Em ngồm ngoàm nhai chưa hết miếng này đã tộng miếng khác vào mồm.

Hôm sau, anh bắt cho em một con bươm bướm tươi. Con bướm này không bay được vì anh đã cạo sạch hết cả phấn màu trên đôi cánh nó.

Anh bảo rằng phải cạo sạch trơn bụi phấn đi, để coi thử đôi cánh nó tự nhiên mà vàng hay nó đánh phấn!

Em dỗi:

“ Anh ác quá!”

Em hỏi:

 “ Một con bướm không bôi phấn trên đôi cánh nó, nó có chết không?”

Anh giảng:

“ Con chuồn-chuồn không đánh phấn mà vẫn bay vẫn sống như thường.”

Em nói:

“ Em sẽ không cắt tóc, em sẽ nuôi một mái tóc thật dài..em thường hay ước mơ..”

Một tuần sau, anh kể cho em nghe rằng Đức Chúa Giê-Su sống lâu 33 tuổi. Đến tuổi đó mới chết, Đức  Chúa sống lâu quá, thọ quá!. Anh ước mơ sẽ thọ như vậy.

Em cũng ước mơ vậy, em reo lên:

“ Em sẽ cùng thọ với anh được không?”

          Kỹ niệm lướt qua nhanh, Sư ngồi lặng ngắt, ngực nhói đau. Ôi em, anh yêu em nguyên vẹn cả cuộc đời. Anh yêu em không bao giờ thuyên giảm.

 Sư lật chồng báo cũ, tình cờ bắt gặp bài thơ đau thương nhất  mà sư đã đọc nhiều lần . Màu tím hoa sim.

                             Nàng có ba người anh

                             Đi bộ đội.

                             Những đứa em nàng

                             Có em chưa biết nói