Vô Đề

Túy Hồng

Mây ba mà u trên đường trời. Bầy chim trên chạc cây. Không khí thở yếu; tuy vậy, trên mặt cỏ mềm vẫn có một và i chén sương mù lỏng như cháo trắng. Xa xa, mặt biển tĩnh bơ, nhưng lòng biển chưa nguôi dục tình và cổ họng biển ợ chua.

Mấy hôm sau, gió nín thổi, bầu trời trầm cảm…

Nước Mỹ sạch. Cỏ được cắt kỹ còn hơn tóc được hớt.. Cảnh đẹp và cảnh trẻ.. Buổi mai mới tinh, hai người đà n bà Lào đi hái lá non từ sớm để ăn mặc dầu cơm tị nạn vẫn có món rau hằng ngà y. Bầy chim cút ngửa mỏ hót, kêu đòi niềm vui. Lòng-chậu Los-Angeles mát; lòng-chảo Điện Biên Phủ, nơi người Pháp cạn tiền, nát tan danh dự vì Viên- ngọc Viễn Đông, không biết có nóng, nhưng chắc chắn Sà igon thì không lạnh rồi đa. Đôi vú của Hồ Chí Minh city lắm khi lên cỏn sốt khô sữa.

Tâm bôi chút phấn hồng trên hai gò má rồi đi ra xếp hà ng ăn cơm sáng. Da Tâm trắng hơn ai hết trong đám người sắp hà ng một đứng đợi. Đôi má Tâm trông hỏi lệch, bởi vì chỉ một bên có cái lúm đồng tiền thôi, nhưng bộ ngực thì hai bên cân bằng trên cái bụng đẹp.

Chương trình cứu người vượt biển đã cho dân tị nạn ăn những bữa cơm xinh xắn . Tâm cầm một bản tin vừa coi vừa ăn. Bà i báo viết bằng tiếng Anh đập và o mắt Tâm câu hỏi: ” Mỗi ngà y bạn ăn bao nhiêu mà u sắc?”. Mà u sắc, theo tác giả bà i nà y là rau và qủa. Hãy ăn hết một mâm cơm đang tô sắc thắm trước mắt bạn: Trái chuối mà u và ng diệp, cà chua đỏ choét, dưa leo mà u lam lục, cà rốt đỏ hồng, lá rau diếp xanh..Nhan sắc của một bữa ăn đang dậy thì với từng miếng ngon tươi đẹp. Và hãy kiêng bớt thịt cá đa tình…

Tâm nhìn cơm, thầm nghĩ ” sáng nay tôi ăn màu trắng.”

Tâm đặt tờ báo xuống bà n. Người đà n ông Mỹ cao to và trẻ, phụ bếp không lương trong trại tị nạn, đến bên Tâm gợi chuyện:

“Tên tôi là Jeffrey. Cô cần giúp đỡ gì không?”

Tâm nói tên mình ra. Anh ta đưa cho Tâm mảnh giấy và bảo:

“Địa chỉ của tôi. Sau nà y nếu cô có điều gì cần tìm đến tôi.”

Trời nín mưa gần một tháng nay. Mặt trời ở Mỹ hình như nhỏ con hơn mặt trời Việtnam nên tâm tính của thời tiết Mỹ ít nóng nảy. Sà igon đổ mồ hôi hột hoà i.

Tâm cầm ly nước bước về trại, ngửa mặt bắt lấy sức nặng của ánh sáng trên vừng trán chưa có vết nhăn.. Một gã tị nạn tiến đến trước mặt Tâm, chà o:

“Tên tôi là Phan Văn Lương. Ngà y mai tôi rời trại. Đây là điạ chỉ của tôi. Sau nà y nếu chúng ta có điều gì cần tìm đến nhau.”

Tâm cũng khai tên họ mình ra.

Tâm sửa soạn đi học lớp Anh-văn dưới bóng cây. Giáo viên đến dạy là một nhóm trí thức quốc tế và người tị nạn tha hồ đặt câu hỏi.

Dưới bóng cây, một ông thầy dạy sinh ngữ khuyên học trò:

“Quý vị nên ở lại tại đây cho đến ngà y nhổ trại để học thêm Anh-ngữ, đừng nên xuất trại ngay.. trình độ còn qúa yếu kém; ra ngoà i, quý vị chỉ có thể kiếm được những việc là m lao động mà ít lương như rửa chén bát tại các nhà hà ng, hoặc cắt cỏ, hoặc săn sóc người già tại các viện dưỡng lão, hoặc đổ rác, hoặc xối rửa cầu-tiêu..”.

Một tị nạn già lo ra:

” Trở ngại nói năng.. Ông thầy ơi, già rồi, học tiếng Anh không vô.. Nói chuyện cứ quen miệng chêm tiếng Pháp vô hoà i…”

Ông thầy cười, tiếp tục giảng bà i:

” Người di tản đừng bao giờ ước mơ trúng số đề ở Mỹ. Có thể một hay hai lần gì đó, bạn ra đường nhặt được tờ giấy một dollar hoặc hai dollar của ai là m rớt.. Nhưng, thần may-mắn chỉ có thể phù hộ các bạn chừng đó thôi, bạn đừng hy vọng trúng những số tiền to hơn..vì ông cha của chúng ta không ai hy sinh xương máu cho cái đại cường-quốc nà y cả nên chúng ta không được tiền nhân của người Mỹ hậu tạ.”

Ông thầy lại nói:

“Đi là dại.. Mình ở lại cũng chẳng ai là m gì mình hết.. Nhưng bây giờ cũng hãy còn kịp: Con tà u Thương-Tín đã chở 5 ngà n người hồi hương. Những người hoảng hốt bỏ chạy đó, nay đã trở về nước mẹ. Các bạn nên nghĩ lại.. Nước Viêtnam nay đã thống nhất, nhưng sao các bạn lại điên rồ cà -chớn vượt biển. Mỹ mất tiêu một tỉ đô-la cho cái cục cưng chiến tranh Việtnam.. của quý vị rồi”.

Ông thầy phản chiến nhìn mấy tị nạn già , nói giọng xuống đường:

” Bác đi, bỏ lại nhà cửa cỏ nghiệp.. Lúc khổ cực vì chiến tranh thì bác ở, lúc sung sướng thống nhất có được một quê hương thênh thang hai miền Nam-Bắc nhập một thì bác đi..”

Tị nạn bóp tay, hoặc bẻ ngón tay, máu gầm lên trong động mạch nhưng cố tốt nhịn. Một tháng nay, riêng trong cộng đồng tị nạn người Viêṭ ở trại A-san đã xẩy ra sáu vụ ẩu-đả, trong khi đó, cộng-đồng Miên và Là o được đà i phát thanh ghi nhận không có đập lộn la-ó. Người xưa đã truyền miệng lại rằng Cụ Mạc Đĩnh Chi đi sứ nghe người Tà u nói: ” Dân An-Nam, vóc thì nhỏ, tầm thì ngắn, nhưng khẩu khí rất hùng hậu khi phê bình đời tư của kẻ khác và mặc cảm tự tôn qúa lớn. Ngà y hôm nay, sống chung trong trại tị nạn, người Việt Nam dà o dạt một nguồn cảm hứng khi xoi móc nhau và tung tin đồn: Đà n ông Mít mình sang Mỹ loãng xương long gối hết rồi, teo rồi chứ không to như hồi xưa nữa..Bậy nà o, ai chứ tôi thì chẳng bao giờ móp méo cái cục cưng gì trơn.. Không tin cứ thử đo coi cho biết.. Dù gì dẫu gì, thì đà n bà cũng là Thị-mẹt, Thị Mầu, thị Nở.. quý báu chi. Nghe tôi kể đây: Đầu tiên khi vừa đến Mỹ, đà n bà Vietnam mê Mỹ qúa trời; nhưng sau đó, lại quay về với đà n ông Việtnam liền.. vì hạm-đội Mỹ ngoà i khơi vớt hà ng chục thuyền-tà u vượt biển chở toà n vịt xiêm đực.. vì miền Nam vụt mất qúa nhanh, lính phải bỏ chạy ngay không kịp về nhà lấy theo vợ con nên cái xác thịt ngon béo của mấy Thị Mẹt, Thị Bẹp tại hải ngoại mới hấp dẫn còn hơn món Đỉm-Sấm ở các tiệm Tà u. Một ông bác sĩ nà o đó mà phải lấy một bà thợ may vì trống thừa mái thiếu. Vậy, tội đách chi mà ta phải lấy Mỹ khi ta có thể dễ dà ng lấy một ông lớn Viêtnam.

Hai tuần sau, trại tị-nạn lại có tin mới: Đó đó, hãy nhìn cái ông bác sĩ người Nam đó, người miệt vườn Bà -Rịa đó.. đà n ông mà lại rẽ đường ngôi chính giữa cái đầu, đà n ông con trai phải rẽ đường ngôi một bên chứ ai lại chia đầu tóc ra là m hai phần bằng nhau như cán cân công lý rứa.. Khi còn ở tại Bà Riạ, khi ông ta vừa mới tốt nghiệp thì được một gia đình già u có kêu gả con gái, hứa sẽ hồi-môn một phòng mạch với đầy đủ dụng cụ y khoa.. Mười ngà y sau, cô gái về nhà cha mẹ và khóc i-ỉ, ông bà via mới hỏi tại sao, cô ta khai: ” Mười đêm nay,. anh ấy ngủ riêng đâu có đụng tới con.. vì.. vì trong cái phòng mạch mà tiá-với-má là m của hồi môn cho con đó.. không có cái máy chụp hình phổi tức là cái máy-rọi.”…ừ ừ..đúng đa, mấy cha bác-sĩ là rứa đó.. cưới tiền mặt, cưới và ng là m vợ.. người Huế tui có câu nói: “Hai hạng người ăn ở ác đức nhất là mấy ông quan toà và mấy ông y-sĩ.. con cái của họ rồi sẽ mạt”…” Ôi thôi, dẹp chuyện mấy ông bác sĩ Huế và ông bác sĩ Bà -rịa với cái máy-rọi lại đi.. Sang tới đây rồi thì đốc-tờ, tu-bíp..gì gì cũng bị sung công là m việc từ thiện trong trại tị nạn hết.. Mỹ họ phát quần áo cho tị nạn, phát toà n quần áo mặc ngoà i thôi, chớ không phát đồ- lót… thà nh ra mấy thằng nhóc Cu tý Cu tèo Cu toét không có xì líp để mặc bên trong cáí quần tây.. Ui chao.. ngà y nà o cũng xẩy ra tai nạn kẹt chim và o cái phẹt-ma-tuya . Cha mẹ của mâý thằng Cu tý,Cu Tèo, Cu toét đó phải bế chúng nó và o trại phát thuốc xuýt xoa xin mấy ông bác sĩ là m ơn kéo con chim chân chính của chúng nó ra khỏi cái phẹt ma tuya.. Thôi mà , chuyện mấy ông bác sĩ tham tiền là chuyện xưa từ đời bà Rịa, bà Bầu, bà Hom, bà Hạc, bà Queọ, bà Tà -lơn.. chứ bây giờ trong trại tị nạn nà y, bao nhiêu ông bác sĩ đang là m việc thiện nguyện khám bệnh cho đồng bà o tị nạn.”

Hai tháng rưỡi sau, nhiều cặp vợ chồng lục-đục bỏ nhau, một bà vợ nói: ” Anh mà yêu tôi ư? Anh quậy tôi thì cóTôi đã cảnh cáo trước với anh, anh ngỡ rằng tổ quốc trọng nam khinh nữ, anh nện kềnh kềnh cái tấm thân thông minh nhất nam tử của anh để mà đè ép tôi, tôi sẽ cắm cho anh một cái sừng… Ở đó mà đà n ông thông minh nhất nam tử”

Ông chồng cãi:

” Nếu các cụ ông nhà ta ngà y xưa mà không thông minh nhất nam tử thì là m sao họ đa thê được? Họ phải là m được cái chi đó ngầu lắm thì đà n bà , kẻ trước người sau mới chịu chui và o đời và o đùi họ để mà đè nhau chơi chứ.. Đà n ông phải là kẻ đè đủ năm thê bảy thiếp chứ không ông nà o chịu chơi với chỉ một bà mà thôi.. Các gia đình ngà y xưa, bốn năm bà cùng lăn xả và o cho một ông đè, họ ghen tuông nhau, bà nà o cũng muốn một mình ăn nguyên một cái chả-giò, một cái gơi-cuốn.. Tục lệ đa thê có được từ xưa là do tại đà n bà , đà n ông đã chịu một tá tiếng oan..”

Một tuần sau trong giờ học Anh văn dưới bóng cây, thân cộng lại kiếm chuyện:

” Việtnam thống nhất.. một phép lạ chưa từng có trong lic̣h sử.”

Mấy vượt biển độc thân đứng lên nạt:

” Vậy sao không cút về với Cộng sản đi.. ông cố nội.. Đứng đó mà nói dại , chúng ông đập cho văng bựa ra trong quần bây giờ.”

Sau khi thân cộng bỏ đi, một giáo viên khác đến dạy cách chia động từ bất quy tắc và chép lên bảng bà i thơ nhỏ:

Roses are red
Violets are blue
But they don’t get around
Like the dandelions do
Slim Acres.

Hoa hồng mà u đơ
Hoa “đừng-quên-em”mà u xanh
Nhưng chúng không mọc khắp nơi
Như hoa dandelion sắc vàng.

Giáo viên viết xong, nói:

” Bây giờ đến phiên cả lớp hãy hát tặng tôi một bà i ca Viêtnam hay thật là hay đi nà o.”

Một lính đa tình đứng lên:

” Chúng ta hãy hát bà i Viêtnam Viêtnam của Phạm Duy. Trong bà i nà y, Phạm Duy quẳng và o bao nhiêu con chữ Viêtnam Viêtnam, nên hát bà i nà y Mỹ nó nghe nó hiểu được mấy chữ đó, chứ hát bà i khác Mỹ nó đéo đếch hiểu. Phạm Duy sáng tác ra ca khúc ni là cốt để cho chúng ta hát trong hoà n cảnh nà y.”

Cả lớp hát xong, một học trò hỏi thầy giáo:

“Ra ngoà i, người Mỹ có cho chúng tôi học Anh văn hay bắt chúng tôi đi là m liền.?”

“Có ngân sách nuôi người tị nạn học English, học nghề. Các bạn sẽ kiếm được việc là m.. sau đó để dà nh tiền mua nhà thực hiện.. giấc mộng Mỹ.”

“Kiếm việc là m ở văn phòng có dễ không? Ngà y còn ở Saìgon tôi là thư ký đánh máy.”

“Đánh máy chữ cũng giống như đi xe đạp.. nếu các bạn đã biết từ trước, thì các bạn sẽ nhớ lại ngay sau một lúc ngồi và o”

Một nữ tị nạn hỏi:

“Chúng tôi đến từ một nước nóng..mà Hoa Kỳ thì qúa lạnh.. Chúng tôi không có tiền mua thịt bò ăn cho ấm, liệu chúng tôi có bị ho lao không?”

Giáo viên vội cười :

“Người Mỹ lập quốc trên tuyết , đức tính chịu lạnh là niềm tự hà o của họ, chúng ta nên tơ ra cho họ thấy rằng trời mùa đông Washington cũng thi vị lắm chứ bộ..”

Tị nạn lại đặt vấn đề:

“Chúng tôi có đi hái dâu được không?”

Gíáo viên giảng:

“Hái dâu strawberry.. thì phải nằm.. cũng không phải là nhà n.. Cây dâu thấp như người ngồi..nhưng gia chủ cấm không cho mình ngồi mà hái mà phải nằm, vì họ sợ nếu mình ngồi thì bể đầu gối , họ phải chở mình đi nhà thương điều trị tốn tiền của họ.. họ còn cấm mình không được đứng dậy đi, mà phải nằm và bò lê bò lết từ bụi cây nà y đến bụi cây khác trong biển dâu rộng, và mình phải hái lanh tay, vừa giựt vừa ngắt vừa vồ.. như ăn cướp, mình phải mau thật là mau mới đúng với chỉ tiêu mỗi ngà y phải hái mấy trăm pound gì gì đó.”

Tị nạn cứ hỏi lung tung:

“Vậy thì chúng tôi đi hái trái cherry.. okay?”

“Hái cherry không phải là một nghề.. Trái cherry nhỏ mà nặng, ai thấy cũng thèm. Bạn đợi đến giữa mùa, lúc đó, các tay nhà nghề đã hái hết những quả to rồi, cherry chỉ còn lại những quả không to, bạn và o vườn hỏi mua, gia chủ sẽ đưa cho bạn một cái túi nylon, bạn trèo lên cây, bạn vừa hái vừa ăn ngay tại chỗ, và bạn cứ hái hoà i cho đủ một số lượng nà o đó, bạn có thể hái cả ngà y, 50 hoặc 70 pound, gia chủ sẽ cân và bán cho bạn mỗi pound chỉ bằng 1/5 giá cherry bán ngoà i thị trường.. thí dụ , mỗi pound chỉ 50 xu.”

Tị nạn lại thắc mắc:

” Chợ Tà u có gần đây không?”

Ông thầy tươi cười:

” Ngà y ra khỏi trại, các bạn nên là m và i phát chả-giò Sà igòn đãi ân nhân bảo trợ. Ngay bây giờ, mấy bạn có thể đưa tiền nhờ tôi mua giúp mấy bạn và i xấp bánh đa và bún Tà u.. Chợ Tà u ở rất xa đây.”

Tị nạn về trại moi tiền đưa ra nhờ ông thầy mua hộ hai thứ đó, không nghĩ rằng bánh sẽ mốc và bún sẽ mọc râu vì để lâu trong trại nóng. Tị nạn tin chắc rằng: Sà igon còn mãi , và chả giò sẽ còn với Sà igòn, ta đã quyết ra đi vì giấc mơ Mỹ, nếu ta nuôi mộng mua nhà thì ta ơi , sao không là m trăm cái chả-giò bưng đến nhà thờ đãi bảo trợ ăn..

Hơn mười năm sau, thầy trò tình cờ gặp lại nhau trên đất khách, ông thầy ôm lấy học trò, bảo:

” Chả-giò Sà igòn tuyệt lắm, ngon hơn chả-giò đương-đại Trung quốc Chinese egg roll, beó hơn chả-giò Phi lumpia, bùi hơn chả-giò Đà i Loan .”

° ° °

Gia đình Tâm nằm vùng tại trại tị nạn cho đến ngà y đóng cửa thì được một cơ quan truyền giáo bảo trợ ra ngoà i bao nuôi ăn ở trong một apartment thuộc vùng phụ cận Los Angeles.

Sau khi dọn dẹp, kê bà n ghế, Tâm chải tóc bước xuống tầng lầu dưới, gõ cửa một căn hộ.

Người đà n ông Mỹ mở cửa ra. Tâm ngậm câm một cục, nà ng đã cho con mèo mượn cái miệng nên không nói được một câu. Đó là Jeffrey.. cao to và hiền, phụ bếp ở trại tị nạn.

Một lát Tâm cố nói:

” Gia đình tôi mới dọn đến, ở lầu trên..không ngờ ông cũng ở đây.. xin ông.. xin ông…”

” Xin cô cho tôi biết cô muốn hỏi tôi câu gì?”

” Xin hỏi ông gần đây có ngôi nhà thờ nà o không?”

Người đà n ông lạ ấy không phải đồng hương, khác quốc tịch, khác mà u da, nhưng cùng chung một thế giới, một quả đất, một bầu trời, trả lời chậm:

” Nhà thờ St.Humphrey chỉ cách đây hai block.”

Chiều hôm sau, Tâm đi công chuyện về, mới vừa nằm xuống đọc và i trang truyện dà i thì có tiếng gõ cửa. Tâm ra mở. Jeffrey dáng dà i, vai rộng, ̣đứng đó.

” Cô Tâm có cần hỏi tôi điều gì nữa không?”

Tâm không soạn bà i trước, không có sẵn câu hỏi. Chợ, chùa, nhà thờ, nhà thương, nhà qùang, phòng mạch nha khoa, trường học, sở bưu điện.. đều biết cả rồi.

Jeffrey không đứng lâu, bỏ đi. Sáng Chủ nhật, người lạ ấy lại đến và nói:

” Cô còn muốn hỏi tôi câu gì nữa không và cô có cần tôi giúp cô cái gì không?”

” Xin cám ơn ông, gia đình tôi đang sửa soạn đi lễ nhà thờ.”

“Tôi xin đưa gia đình cô đi nhà thờ.”

Trước giải phóng 75, một chiến sĩ tiền đồn về phép cưới Tâm là m vợ được năm ngà y trăng mật, rồi đêm sau đó chà ng trở ra chết tại mặt trận Bình Thuỷ; hiện tại Tâm sống cùng cha mẹ trong lòng chậu Los Angeles. Buổi sáng ở đây, sương gió an là nh, chén cơm điểm tâm nà ng ăn pha mà u tươi đẹp như cuộc đời nà ng sẽ là m lại.

Jeffrey hiện ra mỗi buổi chiều để trả lời những câu hỏi, để giúp đỡ những điều cần. Chà ng đề nghị cùng Tâm đi shopping, và đi dạo để nắm tay nà ng khi họ bước bên nhau dưới hà ng cây hiền là nh đứng bên bờ hồ ngó họ. Tay chà ng khô và ấm và mềm, che chở bà n tay nhược tiểu của Tâm. Thật dễ tin rằng chỉ một cái nắm tay của chà ng mà toà n thân thể Tâm xóc mạnh với hai ba cái run…

Tâm không hề lên cân, nà ng nói trong mơ:

“Tình yêu thơm như nước mắm quê hương em. Cắn một miếng nem rán, hay nhai một miếng bánh pizza, hoặc ăn Mcdonald, em cảm-tưởng như nghe một tiếng pháo nổ nhỏ trong miệng.”

Jeffrey trầm lặng, trông chà ng không lanh như đà n ông Việtnam, Tâm tiếp:

“Và em sẽ cho anh ăn phở mãi đến hỏi thở cuối cùng của đời em.”

Rồi Tâm lãng mạn :

“Em thích đọc văn chương đủơng đại và truyện ngoại quốc .Mỹ vừa mua của Phi-châu 25 ngà n con voi.. em muốn coi voi cười và nghe voi hát.. Giọng voi hát trủ̃ tình hơn tiếng ca của chó, khúc ngâm của mèo và điệu hò của cá dolphin.”

Jeffrey trầm lặng, trông chà ng không lanh như đà n ông Việtnam, Tâm tiếp:

“Em biết vẽ tranh tĩnh vật, nghĩa là vẽ những vật thường thấy như hộp cá sardine, con thằn lằn , con kiến lửa, con gián.”

Jeffrey cười hỏi:

“Vậy thì tranh động vật có phải là bức hoạ những con vật nhúc nhích trên bưć tranh không em?”

Tâm giảng:

“Em không biết.”

Tâm tiếp:

“Em có hai khuôn mặt.. một, để em nhìn cái đẹp và một, để em nhìn bổn phận.”

Và Tâm nên thơ:

“Em đổ bụi đời và o thùng rác. Em là m bếp. Em không cười xuân, không hờn hè, không hoà i thu, không buốt đông, và không bao giờ em kêu ba tiếng: em yêu anh..trong kiếp này.”

Một tháng sau, hai người cưới nhau tại nhà thờ St.Humphrey, ước mong một đời mãi mãi bên nhau trong ngôi nhà mùa đông chỉ mở máy sưởi 62 độ, trong mùa hè mát, trong mức sống cao, trong hạnh phúc nhiều..vân vân.. Jeffrey là công chức lớn của hãng điện thoại Verizon, thỉnh thoảng trực ca đêm để thanh tra toà n bộ đường dây và kiểm soát nhân viên dưới quyền..

Những chiều cuối tuần, hai người cùng cởi già y bỏ dép ra, để đi chân đất bên nhau trong nhà hoặc ngoà i vườn. Những ngà y trong tuần, buổi trưa nà o Jeffrey cũng về ăn cơm nhà , Tâm nấu nồi cơm tình nghĩa: đong một chén gạo nanh chồn, cởi bốn chiếc nhẫn hột xoà ng ra khỏi tay để vo cho sạch cám. Tiếp theo,Tâm bắt son chảo là m ba món căn bản: xà o mặn canh. Đúng 12 giờ, Tâm cắm nồi cơm điện. Nửa giờ sau, nồi cơm vừa chín tới thì Jeffrey về tới nhà . Tôi cho chồng ăn hạt cơm vừa chín tới; tôi không bao giờ bắt chồng ăn cơm nguội đem hâm nóng lại. Ngà y nà o tôi cũng nấu hai nồi cơm trinh trắng chứ không phải chỉ một. Nồi cơm xới ra được bốn chén. Buổi điểm-tâm, tôi xay đậu nà nh là m sữa uống ấm bụng.

Buổi cơm tối, gạo phải vo lúc 4 giờ chiều rồi ngâm nước lạnh. Gạo phải ngâm trong nước mát đủ hai tiếng, giống như con trâu phải trầm mình trong bùn hai giờ mỗi ngà y để khỏi phát điên lên vì cái cà y nặng và ông Trời nóng. Buổi cơm tối phải ăn trước 7 giờ, nếu để muộn hơn mới ăn thì mới hơn 50 tuổi đã phải nhuộm tóc rồi.

Bà bạn người Huế lanh chanh nói:

“Rứa là sai công thức.. cơm vừa chín tới không dẻo, phải để lâu hơn trên bếp điện một chút cho cơm ráo nước, dẻo và mềm hơn.”

Nếu Jeffrey là m ca khuya thì ngà y đó, Tâm đổi giờ là m bếp: Mười giờ đêm, Tâm nấu cháo hoặc xúp đậu-hũ. . Giữa khuya, Tâm mang tô cháo vừa chín tới với đĩa đồ xà o và o sở.

Jeffrey cầm tay Tâm:

“Vợ cho gì, ăn nấy.. nhưng.. please..đừng bắt anh ăn canh măng chua. Em đừng muối măng chua trong nhà và đừng mua măng muối chua ở siêu thị đem về nhà .”

Đôi má da mà u, một thân hình không mập dù ngà y nà o cũng ăn thịt với gạo thơm đầu mùa và một thoáng kiến thức về kinh Phật cùng sách Khổng Mạnh.. Tâm còn chộp thêm một cái lộc khác trời thiên vị cho riêng Tâm, là ai mới gặp nà ng lần đầu tiên cũng thích ngay. Muốn được thích như vậy, người xưa dạy rằng phải thực tập, phải thao diễn chăm chỉ, phải học thuộc lòng những lời hay ý đẹp, đừng bao giờ tơ ra lanh và khôn khéo vượt hẳn người khác trong khi nói chuyện, mỗi đêm phải soạn bà i kỹ về phương châm xử thế để sáng mai đem ra áp dụng: Muốn được yêu thì mình phải yêu trước đã, không giận, không thù, không ghét bất cứ một ai, phải dễ chịu, dễ chơi, dễ thương, dễ mến.. Sau chót, phải ra tà i gia chánh: nấu ăn ngon và nhanh, chịu khó đứng lâu trong bếp để nấu phở Bắc, bún bò Huế, mì Quảng, chả giò Sà igon. Bếp thân thương và bếp thơm phức.. đà n ông khoái ăn phở, đà n bà thích bánh bột lọc.

Jeffrey nhìn Tâm luộc bún, nói:

“Cuối tuần nà y, anh sẽ mời 51 người bạn đến nhà thưởng thức món phở Bắc của Viêtnam.. Em nấu cho anh nồi phở gia truyền thơm mùi thuốc đông-y nhé.”

Tâm trả lời:

“Cái gì chứ nấu phở là nghề của nà ng mà .. Chúng ta có vườn rộng đủ chỗ để tiếp khách.”

“Em đang mang thai, cũng nên cử động chân tay chút ít.”

Tâm cười:

“Sức khoẻ em tốt lắm”

Nhưng Tâm rên thầm: ” Cái giọt máu Mỹ sao mà nặng. Cái hột giống Hoa Kỳ sao nó to như một trái mít Viêtnam. Nó đạp mạnh như bà o thai của một con voi Phi châu, nó nhúc nhích hoà i như một con lươn chưa um xì dầu.”

Rồi Tâm nói:

“Sao tôi lên cân chứ không sụt ký, sao tôi được uống thuốc bổ thuốc bệnh.. tôi có xe hơi để lái đi là m tóc, tôi ở nhà lầu và thừa tiền gưỉ nhà băng, tôi sức khoẻ có dư.. Còn chồng tôi thì là m việc đêm là m việc ngà y, lao động tâm não mà mặt mà y không hề nhăn nhó.”

Tiếng đồng hồ kêu tick-tick trên tường nghe như những mảnh vụn thời gian đang rớt xuống quả đất cứ quay hoà i và u hoà i.

Tâm tiếp:

“Sao tôi không mệt phờ, sao tôi không hốc hác như anh sau mỗi ngà y là m việc, và sau mỗi đêm thức trực ?”

Jeffrey hỏi:

“Em muốn đi du lịch Trung Quốc không?”

Tâm lắc đầu:

“Sống sung sướng qúa như em là có tội. Em không thiếu một cái gì hết, đời em đầy đủ như cái tủ áo của em.”

Jeffrey cương quyết:

“Anh bắt buộc em phải đi vacation nghỉ ngơi”

Tuần sau ,Jeffrey đưa Tâm đi Seattle chơi. Trên phi cơ, Tâm chỉ nghĩ đến Saigon, nghĩ đến mấy thứ ngọc-ngà vùng Viễn-đông: Ngọc bích, ngọc trai, và ngà voi nhiệt đới..

Nà ng bảo chồng:

“Sà igon vốn được gọi là Paris của vùng Viễn-đông, một thà nh phố ngọt, một trung tâm du lịch sang trọng nhất châu Á. Mà u sắc của trái cây là m da thịt Sà i-gon sáng óng lên.. nhưng mỗi một ngà y, Sà igon lại đông nghẹt người và ùn ùn các loại xe gắn máy, xe đạp-điện, nên Sà igon bụi rác và đổ mồ hôi hột và trong mồ-hôi Sà igon có mỡ béo, có muối i-ốt.”

Sau giải phóng, đà n ông Sà igòn túa ra đường nhiều hơn đà n bà , đại lộ mất qúa nhiêù khoảng trống, lề đường không còn thênh thang.

Tâm thương nhớ những con chó Saigon chạy theo sau những chiếc xe ba bánh chở trái cóc và tráí chùm ruột. Tâm thâm thù và sợ hãi bọn người dã man ăn thịt cầy, công khai đạp xe đi bắt chó ngoà i đường. Tâm khó chịu khi đọc một bà văn sĩ Mỹ đã viết rằng người Viêtnam xưa kia vốn chỉ ăn nhái sống chấm với ớt hiểm và để dà nh lửa trong cái sọ dừa khô. Nhà văn đó còn bảo rằng Việtnam mang nặng ân tình bảo hộ của người Pháp trong cách kiến trúc nhà cửa và trên những mảnh giấy viết thực thực-đơn kê khai món ăn. Bà n tay người Pháp đã sờ và vuốt ve Viêtnam cho đẹp hơn lên. Với Việt Nam, thực dân cũng là ân nhân.

Buổi chiều đi chơi núi Rainier về phòng trọ, Tâm thấy quý vị trong bộ biên tập toà báo Đất-Mới đứng bên ngoà i và một ông Mỹ say ngồi trên ghế tay cầm ly rượu.

Chủ nhiệm báo Đất-mới chỉ tay và o căn phòng số 6B để giảng cho Tâm hiểu:

” Đồng-hương mình tổ chức khiêu vũ ở bên trong, ông Mỹ nà y tới đây đánh ghen vì vợ ông đang nhẩy đầm với Việt-kiêu trong ấy..Cả toà báo Đất-mới bị ông ta lôi đi dự vụ bắt ghen nà y..”

Chủ-bút HQ im bặt ngay vì ông Mỹ say hét lớn:

” Tôi hạ lệnh cho tất cả những người có mặt ở bên trong hãy đứng dậy ra về và từ nay cấm không được đến đây tụ họp nữa.. Nếu các ông là người Đại-Hà n, người Là o, người Miên hoặc Tà u hoặc Nhật, Mã-lai, Indonesia, Thailand vv…thì hãy đứng sang một bên, tôi không là m gì quý vị hết.. Riêng các tên đà n ông Viêtnam thì hãy cởi già y dép ra, tụt vớ, tụt bít tất ra cầm ở hai tay dong cao lên và quỳ xuống mà đi bằng hai đầu gối . Tôi tự giới thiệu tôi có vợ Viêtnam sinh được một đứa con.. và một bà o thai hiện đang nằm tại chỗ kín…

Khi tôi mở cánh cửa nà y ra thì quý vị Hà n-quốc, Trung quốc, Là o, Miên, Mã, Xiêm, Hời .. cứ thong thả đi ra.,với thẻ căn cước hoặc bằng lái xe cầm ở tay chứng thực quý vị là người nước nà o. Còn các tên đà n ông Việtnam thì phải bò phải lết không được đứng dậy. Bỏi đà n ông Viêtnam đã dê vợ tôi và dê những người đà n bà Viêtnam khác lấy chồng Mỹ. Tại sao vậy? Tại sao đà n ông Viêtnam dê xồm vợ tôi và vợ của đà n ông Mỹ khác vậy? Còn đà n ông Miên, Là o, Thailand, Tà u.. thì tôn trọng lễ giáo Khổng Mạnh, không là m chuyện đó.? Tại sao đà n ông Viêtnam mắt la mà y liếc vợ Mỹ vậy? Tại sao đà n ông Viêtnam cứ tìm cách gặp mặt vợ của người Mỹ hoà i vậy? Tại sao đà n ông Việtnam cứ điện-thoại cho vợ tôi hoà i vậy? .Tại sao đà n ông Viêtnam cứ ưa đớp vợ của người Mỹ vậy? Cứ nhè vợ của người Mỹ mà buông lời thư thi âm- dương?.. Đà n ông Vietnam ..đêm đêm các ông ngủ với vợ nhưng lòng ngoại tình nghĩ đến vợ của chúng tôi. Đây, tôi xin đưa ra một thí dụ điển hình nói về dục tình của đà n ông Viêtnam mà tôi đã đọc trong một bản tin của hội thánh Tin Là nh trong số báo ra ngà y 27 tháng chạp năm 1977, cách đây hai tuần lễ.:

“Một thuyền nhỏ bằng gỗ chở hai mươi bốn người Viêtnam vượt biển vừa đến được Phi Luật Tân, trong số thuyền nhân đó có một người đà n bà vừa có bầu được hơn một tháng rưỡi, khoảng tám tuần lễ..Người đà n bà nà y vượt biển cùng với chồng và ba con, lênh đênh hơn hai tháng trời trên mặt nước và đã mang bầu trong thời gian đó.

Uỷ ban bảo trợ lấy là m lạ là tại sao trong những giờ phút nguy nan gần kề cái chết trên biển dữ như vậy, và trong một chiếc thuyền gỗ nhỏ đông người chen chúc như vậy mà người chồng Việtnam lại có thể đè vợ ra là m tình đến thụ thai.”

Tên Mỹ hắc hắc cười:

“Vậy là hai vợ chồng nà y đã trần truồng trước bao nhiêu cặp mắt và ..và đã là m tình mà không biết mắc cỡ trước những cái nhìn của trẻ con…Đà n ông Viêtnam đúng là ..cứng hơn ai hết, cứng hoà i bất cứ lúc nà o, nơi nà o.”

Chủ bút báo Đất Mới cải chính:

“Ông hiểu lầm rồi. Người Việtnam vượt biển trên thuyền gỗ nhỏ, đã gặp hải tặc Tháiland. Và những người đà n bà đẹp đã bị hãm hiếp, chồng của họ phải nhận mình là cha của các bà o thai đã thụ trong thời gian vượt biển.. Thuyền gỗ nhỏ do người vượt biể̉n tự đóng lấy ra đi tìm tự do, không dá́m chạy giữa bể khỏi sóng bổ vòi, mà phải dong gần bờ biển, men theo con nước cạn nên mới gặp bọn chà i lưới Tháiland .”

Tên Mỹ say quay lại căn phòng số 6B réo vợ:

“Tôi hỏi con mụ đà n bà ghê gớm, tôi yêu mà y, bao nhiêu tinh trùng trong người tôi dà nh hết cho mà y chưa đủ sao?..”

Tâm hỏi ông chủ báo :

“Anh dám đăng chuyện nà y lên báo Đất Mới không?”

Ông Vinh trả lời:

“Báo Đất Mới chả dám đâu..các cha nội sẽ kéo tới đập phá cho hư cả hai cái máy chữ.. còn chi để đánh bà i..Tờ báo chỉ nhận một chút tà i trợ của tiểu bang thôi..để in ra và phát hà nh, nên bất cứ hội họp ở đâu cũng bị lôi đầu đến tham dự.. Cuối năm nay tôi sẽ thôi tờ Đất Mới để̉ cho Mai Thảo là m chủ bút. Hắn ta vừa đến trại tị nạn Bi-đông.”

Jeffrey kéo Tâm và o phòng, đóng mạnh cửa. Hôm sau Tâm thức dậy sớm, ngoà i trời, đời sống vẫn chưa sáng.

Họ trở về Los-Angeles. Sau đó, Tâm sinh ra hai tí-nhau, là m chủ ba ngôi nhà . Jeffrey hỏi:

“Em còn muốn có con nữa không; nếu không, anh đi bác sĩ để cắt bỏ, hoặc cột lại.. Anh nghĩ rằng người chồng nên đoạn sản thay cho vợ vì khi nà o muốn có con trở lại, người chồng sẽ đến nhà thương để tháo ra, hoặc gì gì đó..”

Tâm dụi mặt và o ngực Jeffrey thầm cám ơn người chồng chịu để dao kéo mổ xẻ đụng đến thân thể thay cho nà ng.

Một hôm Jeffrey bảo:

“Sáng thứ hai tuần tới, sở tổ chức bữa ăn sáng, anh cần em là m cho anh ba khay cơm chiên lạp xường và tôm tươi để anh mang và o sở đãi nhân viên.”

Một người bạn kéo Tâm đến xin yết kiến Hoà Thựơng Thích Mãn Giác tức Thi-sĩ Huyền Không nhân dịp Thầy đến Seattle là m Phật-sự và sau đó, hỏi thăm tin một Phật-tử. Người nà y có một đứa con trai được chính phủ Hoa Kỳ trả lương thật hậu để đi theo nhóm trí thức trở về nước phản tuyên truyền, trong thời hạn 4 năm. Chiến dịch lạnh nà y do Mỹ đưa ra, bác lại chiến dịch lạnh ở Việt-Nam khuyến khích dân chúng vượt biển của Cộng-sản.

Thầy Mãn Giác bảo Tâm:

” Chùa nghe nói chị Tâm và anh Phan Văn Lương sẽ cùng đi với phái đoà n Phật giáo về Việt Nam phát chẩn gạo cho đồng bà o.”

° ° °

Một ngà y tuyêt́ tan, Jeffrey dẫn Tâm ra bờ hồ ngồi trên ghế đá nhìn mấy con ngựa nhai tuyết, tụi ngỗng Canada tắm dưới hồ, một đoà n lục bình run lạnh đứng xúm xít và o nhau. Bên cạnh Jeffrey, Tâm như nghe được tiếng reo của sức khoẻ, như nếm được nhưạ sống, như hôn được cái đẹp của giống đực để tình nghĩa phu thê bung nở với hy vọng vươn lên trong tiếng hát du ca.

Chà ng hỏi:

” Mỗi lần về Vietnam, em có chích ngừa không?”

” Không, tại sao em phải để mũi kim nhọn phập và o da thịt em?. Chích ngừa là có lỗi với Sà igòn, là là m mất lòng đồng bà o đang ở lại với Sà igòn dơ dáy và vi trùng.”

Jeffrey nhẹ bảo:

“Luật quốc-tế nói rằng ai đến Nam Mỹ, Mexico, Châu Á ngoại trừ Nhật Bản , Châu Phi và Bắc Âu ..đều phải chích ngừa .”

Việt-kiều naò về nước cũng chích ngừa đủ thứ: thương hà n, tetanus, viêm gan, quai-bị, sưởi, iả chảy, ho gà , sưng phổi, lở đít.

Hảo, người Huế, cũng bảo Tâm :

“Phải chích ngừa cả mấy thứ đó, Tâm ơi, và phải ..ngừa thai nữa”

Tâm cười:

“Chị lo ngừa thai cho cái thân chị đi.”

Rồi Tâm nghiêm giọng:

“Lần nà y, em về Viêtnam với mục đích thăm mấy chà ng thương-phế-binh, chị có đồng nà o bỏ ra để em đem về giao tận tay gia đình chị. Chị còn lại bên quê nhà cả một đống chị em ruột thịt, máu mủ, xương da, dạ dà y, lông tóc.”

Hảo phụ hoạ:

“Tôi còn sáu chị em bị tôi bỏ lại không đem qua Mỹ.. Ai sang Mỹ cũng đi cà y để mua được ít nhất một cái nhà ..tôi đã đánh mất tại Mỹ sáu ngôi nhà đáng lẽ thuộc về tay sáu chị em tôi.”

“Vậy thì lần nà y, chị phải gửi về cho gia-đình 200 dollars.. em bù thêm 800 đô cho đủ một nghìn.”

Đang nói chuyện, Hảo nghe tiếng điện thoại réo ở đầu dây bên kia, Tâm kêu vội:

“Em.. có người kêu viễn liên.. lát nữa ,em sẽ gọi lại chị”

Một giờ sau, Tâm gọi lại:

“Phan Văn Lương gọi em..Cha nội nà y em quen từ ngà y còn trong trại tị nạn. Hồi đó, dân tị nạn ưa hỏi xin địa chỉ của nhau để sau khi xuất trại sẽ tìm gặp lại nhau.”

Tâm nói tiếp:

“Nhưng Lương là kẻ đến sau .. Jeffrey gặp em trước mất rồi.”

Năm kia, Tâm thải ra một lô áo quần cũ để cứu trợ Hảo. Thân hình Tâm cong như một cánh cúc gầy với hai trái ổi chín mềm nằm núp dưới áo dà i.. còn Hảo thì ốm đói, khô rốc khô ráo như tôm khô ai về Việtnam cũng nhớ mua.. nhưng lại to ngang nên quần của Tâm thải ra, Hảo mặc vừa.

Jeffrey lại nhắc:

“Anh không thể để em về Vietnam mà không chích ngừa.”

Tâm cãi:

” Em về thăm quê-hương em, cho dù sẽ bị viêm gan A, em vẫn không chích ngừa.. và em vẫn ăn rau sống xịt thuốc giết rầy…”

Jeffrey ngơ ngác , Tâm giỡn:

“Em về Viêtnam, ôi..em tiêu chảy..em nhiễm trùng, thấp khớp, ho gà , hen suyển, lòi rôm… Nhưng em không chích ngừa..”

Tâm và Lương về Huế đúng và o một ngà y trời mưa kịch liệt. Mưa Huế lúc Tâm về thật hung ác và bạo hà nh, gió Huế rống to căm tức trước khi mưa bắt đầu khưng bố. Giọt mưa nhọn nỗi khùng đâm rách tà u chuối và xé lá chuối xác xơ.. Huế lốc và Huế lụt. Mưa tấn công tới tấp và chừng hai giờ sau thì nước sông dâng bốn bề, người Huế chỉ vừa kịp leo lên mái nhà . Phan văn Lương đèo Tâm trên xe đạp chở đến nhà bà Phán Dần. Nhà văn Văn-Quang giới thiệu gần hai chục thương-phế-binh đến gặp Tâm và Lương. Tâm đem về ba mươi chai dầu gió xanh, hai chục chai Nhị thiên đường vạn ứng Nhị thiên dầu, sáu nghìn dollars và hai va li đựng qùa vặt.. đủ để tổ chức một cuộc họp mặt văn nghệ. Các chà ng thương-phế-binh nà y có người cụt hai giò, có người phải cắt bỏ một tay, nhưng ai nấy thắm thiết chà o mừng Lương Tâm và vui nhộn gãy đà n thật điệu nghệ , tà ì tử, oằn người đánh trống, trầm giọng hát ca, ngâm thơ, hò Huế, chỉ một mình Tâm là buồn tái-tê..Thật quê một cục. Một chà ng biệt kích dù cụt hai chân hát tặng Tâm bà i “Đèo Ba-Rền”.

Tâm hỏi:

” Đèo Ba-Rền ở đâu vậy Lương.?”

” Quảng-Ngãi..một ngọn đèo sát nhân.. giết chết không biết bao nhiêu chiến sĩ anh hùng.”.. Chiều và ng lên đeò, quân hùng ca reo.”

Một chà ng lính biệt-động, sống sót sau hà nh quân Lam-Sơn 719 kể rằng một tiểu đoà n biệt kích đóng ở Khe-sanh.. vượt biên giới qua Hạ-Là o, sau hai đêm giáp chiến với quân Bắc-Việt ở Tchepone, đã hoà n toà n bị tận diệt.. 500 chiến sĩ rằn-ri mũ đỏ đã bị giết trong hai đêm.

Phan văn Lương đứng lên:

” Đừng nhắc đến chuyện bại trận nữa; bây chừ, thiên hạ quên chiến tranh hết rồi, quên người lính miền Nam đã cam nhận cái chết và vui nhận số phận sau khi được sống còn. � n trên không công bằng, chính quyền miền Bắc nuôi quân đầy đủ cơm, cá, thịt, rau; chính quyền miền Nam cho lính ăn đồ hộp C-ration, lính miền Nam bị táo bón và trĩ lòi rôm, đuối sức, sụt cân. Bất công hơn nữa, dân chúng miền Nam, trước năm 1975, lại ưng hộ quân đội miền Bắc hết mình. Từ cuối thập niên 1960 đến 27 tháng ba năm 1973, liên-quân Mỹ-Việt tại miền Nam không hề thắng Cộng quân một trận nà o cả.”

Chiều thứ bảy, Lương và Tâm đi thăm lăng Tự Đức. Bầu trời chất đầy những đám mây đen nặng. Huế ơi sao Huế đau khổ vậy? Huế cứ mưa hoà i. Huế ôm lấy dòng sông, cây cầu và những con đường áo trắng. Điệu hò Trước bến đã dứt nhưng đôi tai gái Huế vẫn còn hát.

Sáng chủ-nhật, Lương và Tâm đi cửa Thuận..rồi sau đó chia tay, mỗi người về một tiểu bang của nước Mỹ..

Tâm điện thoại cho Hảo:

” Trưa mai tui đón bồ đi ăn phở Hùng.”

Buổi trưa mưa dứt, trời sáng nhạt, lá phong rụng ít nhiều trên mặt đường ban đêm có người phu quét dọn và dãy núi nằm cong lưng ngủ.

Tâm húp một muỗng phở, chê:

” Phở tiệm thua xa phở nhà em nấu. Nồi nước dùng của em không bao giờ qúa nhiều mùi thuốc Bắc và không bao giờ đắng mùi hồi.”

Hảo kêu lên:

” Tôi xin thề từ nay không bao giờ nấu phở nữa , bởi vì tôi là một kẻ không bao giờ thất bại trong tình yêu mà chỉ thất bại khi nấu phở.”

Rồi hỏi:

” Phan văn Lương là ai rứa ?”

Tâm tươi cười:

” Một kẻ em quen từ khuya, khi còn trong trại tị nạn. Chị.. chị goá buạ..có thèm đà n ông lắm không?.. em nhường lại cho chị.”

Hảo từ chối:

” Thôi cô giữ lấy để mà dùng.. Cô lấy chồng Mỹ nhưng lòng vẫn còn ấm ức, vẫn còn nuối một người đà n ông Viêtnam, vẫn muốn có một chút đà n ông ấy để ăn vụng.”

Mùa đông sau đó, tuyết ngập đường phố cao tới nửa đùi. Hai trận bão khốc liệt quét qua, kéo theo bao nhiêu cỏn mưa dà i. Hoa lilac nín nở, bồ câu xếp cánh không bay. Thời tiết cũng xấu như lòng người, gây cảm tưởng bực mình và khó chịu như đà n bà thấy tháng.

Tâm bỗng lên một cơn sốt không có triệu chứng báo trước, bị đưa và o nhà thương cấp cứu, bị bác sĩ cắt đi một khúc dồi trường gần hậu môn.

Hết một tuần lễ nhập viện, Jeffrey chở Tâm về nhà , cõng Tâm lên gác, bế Tâm bỏ và o giường, vuốt tóc, đắp mền lên tận cổ Tâm. Chà ng đặt một cái chuông nhỏ cạnh gối vợ. Ban đêm, chà ng trải manh chiếu gon dưới đất nằm cạnh giường nà ng.

Jeffrey xin nghỉ phép hai tuần lễ và hiền là nh nói:

” Anh đặt cái chuông gần cánh tay phải của em, anh nằm dưới đất để em ngủ cho dễ. Em cần gì, rung chuông, có anh ngay, em đừng mở miệng nói mà mệt.”

Tâm ngồi lên định đi và o buồng tắm. Jeffrey b