Chuyện Ba Người Phi Công Tị Nạn

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Năm 1975, tôi đến trại Fort Chaffee với hai đứa bạn trong phi đoàn: Thằng Tiến và thằng Hạnh. Ba đứa chúng tôi cùng ở chung một barrack. Thằng Tiến giường trên, tôi giường dưới, thằng Hạnh giường bên cạnh. Tiến và tôi là hai thái cực. Tôi xông xáo bao nhiêu thì nó tà tà bấy nhiêu. Thậm chí, ngày 30 tháng 4, nó đã vào phi trường Tân Sơn Nhất rồi mà lại tính quay trở ra. Chúng tôi phải nhét nó lên tàu bay, cất cánh xong nó vẫn còn cằn nhằn là nếu mai mốt phải ra tòa án quân sự, “cả lò nhà chúng mày” phải chịu trách nhiệm. Tôi láu cá bao nhiêu thì nó thật thà bấy nhiêu. Thật thà đến độ nhiều khi tôi phải tự hỏi tại sao một thằng cù lần như vậy mà lái tàu bay được.

Thằng Hạnh thì khác, lớn hơn tôi vài tuổi, ít nói, hay suy tư và rất khôn ngoan. Nội chuyện nó có hai bà vợ ở Việt Nam mà không bà nào biết bà nào thì đủ hiểu con người nó ghê gớm ra sao. Nó khôn hơn tôi, dĩ nhiên, nhưng phải cái tính lười và hơi nhát gan, nên làm bất cứ chuyện gì cũng phải có tôi nhúng tay vào mới xong. Vì thế, trong ba đứa, tôi luôn luôn được “giữ một địa vị quan trọng”.

Những ngày đầu tiên nơi đất khách này, vốn tánh lo xa, tôi lo sợ cho tương lai lắm nên rủ chúng nó cắp sách đến trường học thêm Anh văn. Thằng Tiến mới đầu từ chối nhưng nằm nhà thấy chán quá bèn ôm sách vở theo tôi. Tôi biết tính thằng này, lè phè như nó mà học hành cái gì. Trong lớp học, sách vở và bài học nó chẳng lo mà cứ hết nhìn ngang rồi đến nhìn ngửa để kiếm vợ. Gặp em nào đẹp đẹp một chút là mắt nó sáng trưng, nhào tới thực tập câu Anh văn ruột chẳng hề biết mắc cỡ: “Are you married?”. Tôi có than phiền với nó về chuyện này, nó còn lên mặt la mắng tôi:

– Đã ngu lại còn bày đặt đạo đức giả! Mình là dân nhà binh võ biền, suốt đời sống giữa chốn ba quân, mấy khi được may mắn lọt được vào một chỗ có nhiều… con gái như thế này? Phải biết lợi dụng thời cơ, đánh mau đánh mạnh, chốp ngay một em đem về nhà, để lâu thiên hạ đớp hết thì hối hận không kịp.

Tôi lắc đầu, gằn giọng đem một câu trong tam quốc chí rẻ tiền để dạy dỗ nó:

– Làm trai đứng trong trời đất, chỉ sợ mình không lập được công danh, đừng sợ không có vợ.

Thằng bạn dê sồm nhìn tôi cười nham nhở:

– Đù mẹ. Học Anh văn i tờ hạng bét mà cứ ham nói chuyện công danh, công danh cái búa. Đấy, mày cứ chăm chỉ đèn sách để lo công danh đi, ông thì ông cứ cắp sách đến trường để tán gái và kiếm vợ, để xem thử rồi thằng nào ngon hơn thằng nào.

Tôi lắc đầu ngán ngẫm và thấy tội nghiệp cho nó, nhưng mãi về sau này tôi mới thấy chính mình là kẻ đáng tội nghiệp chứ không phải nó. Người bạn còn lại, thằng Hạnh, mỗi ngày tôi thấy nó cứ sáng sớm là đã bỏ đi đâu mất biệt, đến chiều mới mò về, mặt mày hốc hác, mồ hôi mồ kê nhễ nhại.

Cuộc đời tị nạn của chúng tôi như vậy là coi như tạm yên sau vài tuần. Qua cơn khủng hoảng của thời gian đầu, bình tâm trở lại, chúng tôi cảm thấy… thèm nhiều thứ. Đi lính lâu năm, đứa nào lại chẳng mang tật “cà phê thuốc lá”. Chúng tôi thèm ly cà phê và tô phở buổi sáng như người nghiện thuốc phiện nhớ bàn đèn. Phở thì chắc chắn không có rồi, chẳng ai dại gì mơ ước nhưng cà phê thì may mắn thay, nơi sân đá banh gần barrack của tôi có một chiếc xe phát cà phê và bánh ngọt miễn phí của Salvation Army. Tuy cà phê Mỹ mới uống vào thấy nhạt nhẽo nhưng “có còn hơn không”, chúng tôi là khách hàng thường trực của chiếc xe ân huệ này. Khỏi cần nói, ai cũng có thể tưởng tượng được cái đuôi xếp hàng lãnh cà phê free của dân tị nạn nhàn rỗi nó dài ra sao. Trung bình là một tiếng đồng hồ và xui xẻo nhất là khi chỉ còn chục người nữa tới phiên mình thì cô hàng đóng cửa cái rầm sau khi xổ một câu gọn lỏn: “Sorry, no more coffee”.

Ngày nọ, tôi và hai thằng bạn quý đã đứng chờ được chừng hơn tiếng thì từ đâu một cơn mưa đổ ào xuống. Là trai đất Việt, chúng tôi “sương gió nào ngại chi” nhưng cái cô phát cà phê người Mỹ lại ngại mới là kẹt. Cô ta ngước mặt nhìn trời, rồi nhìn xuống đám tị nạn nghèo khổ chúng tôi lắc đầu. Lại câu nói cụt ngủn cố hữu: “Sorry, I am closed”. Cánh cửa gỗ xập xuống nghe đến xầm một cái làm lòng tôi tan nát. Thế là tiêu hết một cữ cà phê. Không biết trút nỗi tức giận cho ai, tôi đành nhìn trời, ngạo mạn trách: “Ông trời hại anh em rồi, mưa gì mà độc vậy, chờ người ta lấy xong ly cà phê rồi mưa có được không?”. Miệng cằn nhằn, chân chúng tôi chạy đều dưới cơn mưa miền Nam nước Mỹ đang trút xuống ào ạt.

Về phòng, tôi nằm trên giường suy nghĩ mãi. Mình xưa nay vẫn tự hào là người khéo xoay xở, sang trại tị nạn gần tháng rồi mà vẫn chưa tìm được cách nào để xoay tí tiền còm cà phê thuốc lá cho vui. Nhìn thằng Tiến đang dương cặp mắt ốc lồi ngó mưa rơi ngoài cửa kính tôi lại càng thấy động lòng hơn. Chúng nó dù không nói ra, đã đặt tin tưởng rất nhiều nơi tôi. Té ra tôi cũng chẳng hay ho gì. Còn mặt thằng Hạnh mới là sầu thảm. Tôi biết nó ghiền thuốc lá rất nặng. Con cá thiếu nước như thế nào thì nó thiếu thuốc lá cũng y như vậy. Đã có lần tôi ái ngại bảo nó:

– Mày không chịu khó lo học Anh văn để hôm nào ra trại còn kiếm việc làm, ngày nào cũng bỏ đi đâu mất biệt vậy?

Nó hằn học:

– Ông đíu cần học. “No cigarette no study.”

Lại cái câu rẻ tiền ngày nào ở trại Tent City. Lúc ấy chúng tôi vừa mãn khoá Thủ Đức, được đẩy về đó để học Anh văn. Một ngày, vì lương phát trễ, chúng tôi vào lớp học làm ồn ào. Các ông giáo sư nhà binh Mỹ hỏi lý do, chúng tôi nửa đùa nửa thật đồng thanh nói: “No money, no Study”. Bây giờ, nước mất nhà tan trên đất khách ông thần ghiền thuốc lá này bản cũ soạn lại. Tôi lên mặt dạy dỗ:

– Ngu bỏ mẹ. Ở trại tị nạn không học, ra ngoài làm sao tranh đấu với đời.

– Học cũng cu ly, không học cũng cu ly. Mày có học cho lắm ra ngoài cũng đâu có hơn ông được mà làm tàng?

Câu trả lời của thằng Hạnh làm tôi giựt mình, thấy nó nói đúng quá. Những thằng giở thầy giở thợ như chúng tôi mai mốt ra ngoài biết làm gì để sống ngoại trừ cái nghề cu ly là nghề chẳng cần bằng cấp gì cả? Cả hai cùng im lặng. Một lúc sau, thằng Hạnh mới đứng lên, nhìn tôi cất giọng buồn buồn:

– Mày biết ông đi đâu không?

Tôi cười:

– Dâm đãng như mày thì chắc là phải đi kiếm em út.

– Em con khỉ, cà bơ cà bấc như mình, trên răng dưới đồng hồ em chó nào nó thèm mê.

– Vậy mày đi đâu mà ngày nào cũng biền biệt vậy?

– Tao đi xin thuốc lá!

Tôi đang còn ngạc nhiên thì nó tiếp luôn:

– Tao có quen một thằng ở mãi tận building 1008 (cách đó chừng 3 hay 4 dặm). Sáng nào cũng cuốc bộ hai tiếng đồng hồ lên đó để xin điếu thuốc. Không lý mình gặp nó, xin thuốc xong rồi bỏ đi về liền thì coi kỳ quá. Tao phải ở lại nói chuyện trời trăng mây nước cho ra cái vẻ mình nhớ bạn lên thăm. Hết chuyện nói mới bỏ về được. Đù mẹ mỗi ngày cuốc bộ 4 tiếng đồng hồ giữa trời nắng chang chang cực quá, lại hèn nữa, mà không có thuốc lá thì nhịn không được.

Tôi phẫn nộ:

– Bạn bè gì mà chó đẻ thế! Sao nó không cho mày vài đồng để mua thuốc lá?

Thằng Hạnh lắc đầu thảm hại:

– Hồi mới gặp, nó có dúi vào tay tao mấy đồng đó chứ, nhưng thấm vào đâu? Mày nghĩ coi, mình nhiều bạn bè mà đứa nào cũng nghèo hết, thằng này chĩa một điếu, thằng kia xin một điếu…. Chỉ có mấy ngày là tao lại sạch túi. Xin nữa kỳ quá không được.

– Thế mỗi lần lên đó, nó cho mày mấy điếu?

– Hút tại chỗ hai điếu, hai điếu nữa “sơ cua” mang về.

Tôi phê bình:

– Mày đúng là thằng có chí.

Chiều nay, nhìn cái mặt chảy xệ ra của nó, tôi biết nó nhớ cái gì. Bỗng tôi nẩy ra một kế vặt, ngồi nhổm dậy, la toáng lên:

– Xong rồi, có tiền cà phê thuốc lá rồi!

Thằng Tiến vẫn nằm yên nhưng con nhà Hạnh ngồi bật dậy ngay như cái lò xo, mặt mày hớn hở. Nó không lạ gì cái tài “an bang tế thế” của tôi từ những ngày còn ở biệt đội. Dù trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào, tôi vẫn luôn luôn nẩy ra vài cái kế độc để kiếm tiền lẻ ăn nhậu.

Nó nhìn tôi cười cười:

– Mày có tư tưởng mới?

– Không có sao dám nói?

Nó bốc tôi một câu:

– Biết ngay mà. Tao biết trước sau gì mày cũng có kế độc. Nói anh em nghe coi.

Cả mấy thằng độc thân khác nằm gần đó cũng nhỏm dậy, ào tới vây quanh giường tôi. Đã lâu lắm rồi, kể từ ngày mất nước, lần đầu tiên tôi mới được trở thành một nhân vật quan trọng như vậy nên rất lấy làm khoái chí. Tôi vỗ hai tay vào nhau nghe đến đốp một cái:

– Phen này chúng mày cứ gọi là cà phê thuốc lá… mút chỉ thiên thần.

Thằng Hạnh hít hà, dục:

– Biết mày có tài rồi. Kế của mày là kế gì, nói nghe thử?

Tôi kênh kiệu:

– Đứa nào còn thuốc lá lấy một điếu ra mồi hút thì tao mới có cảm hứng mà nói được.

Tôi nói câu đó và mắt nhìn thằng Hạnh. Tôi biết tõng nó còn thủ một điếu Pall Mall trong túi áo chờ đến ăn cơm chiều xong thì hút. Ông phi công tị nạn giả vờ lờ đi, dương cặp mắt “thủ đoạn” nhìn ra xa xôi.

Tôi liền xoay người nằm xuống giường trở lại:

– Đù mẹ, no cigarette no talk.

Thằng Hạnh chờ một lúc, thấy chẳng ai có gì thật, mới méo mặt móc điếu thuốc gia bảo ra:

– Đây, đù mẹ thuốc lá đây, nói đi thằng phi công mất dạy. Kế nghe mà không hay thì chết với ông.

Tôi ngồi bật dậy, cười hề hề sảng khoái:

– Chỉ cần vài ngày nữa là chúng mình tha hồ cà phê thuốc lá.

Chính tay thằng Hạnh bật lửa cho tôi. Điếu thuốc được chuyền tay nhau. Tôi lên tiếng:

– Tao có một kế hoạch này hay lắm, nhưng tụi mày phải giúp tao mới được. Tiền dư nhiều tao không biết nhưng tao bảo đảm chúng mình sáng sáng sẽ được vô Hitching Post uống cà phê, mỗi đứa có bao pall mall đỏ choét bỏ vào túi áo để dợt le với thiên hạ….

Ngoại trừ thằng Tiến là con người chẳng coi chuyện gì quan trọng, bốn năm cặp mắt cùng sáng lên một lượt với hình ảnh của người tị nạn hạnh phúc trong trại Fort Chaffee có bao Pall Mall đỏ trong túi áo. Chưa gì đã thấy có thằng muốn chảy nước miếng rồi. Thằng Hạnh giục:

– Nói mẹ nó đi, cứ úp úp mở mở hoài.

Rồi như chợt nhớ ra rằng tôi vốn là một thằng lém lỉnh láu cá chẳng thua gì nó, con nhà Hạnh giật mình, nghiêm sắc mặt nhìn tôi:

– Đù mẹ hay là mày lừa ông để hút thuốc lá lẻ. Có kế gì không, nói thật đi thằng nhóc, không có thì biết tay ông.

– Có chứ, phải từ từ để tao nói. Tao sợ mai kia mày không có đủ miệng để hút thuốc lá của ông.

– Kế gì?

– Ông mở tiệm hớt tóc tại đây!!!

Bốn năm cái miệng cùng ồ lên một lần.

Người Việt mình vốn có tinh thần mau thích ứng với hoàn cảnh mới. Chỉ sau vài ngày đến trại tị nạn, đã có nhiều tấm biển quảng cáo thương mại dán khắp nơi. Cái thì may sửa quần áo, cái thì hớt tóc, cạo gió, coi bói bài v.v…. Tôi có lần đã nghĩ về vấn đề kiếm tiền bằng cách hớt tóc khi nhìn thấy một bảng quảng cáo dán ở nơi nào đó với hàng chữ nguệch ngoạc: “Hớt tóc 50 cents. Con nít 30 cents” nhưng mãi đến hôm nay buồn quá mới nhớ ra.

Thằng Hạnh là người hớn hở nhất. Mặt nó tươi trẻ lại khoảng mười tuổi, nhìn tôi… rất cảm tình:

– Mày hớt tóc được à? Có thật không?

Tôi phịa:

– Trước khi đi lính, tao có lần đã hành nghề hớt tóc.

Thằng Hạnh mừng rỡ ôm chầm lấy tôi, dáng điệu y hệt một thằng Mỹ con được quà. Nếu nó chịu khó điều tra một chút thì sẽ biết ngay rằng tôi chỉ nói phét. Tôi trẻ măng, sinh ra đi học từ nhỏ đến lớn, vừa rời ghế nhà trường là đi lính, thì giờ đâu đi làm phó cạo mà giở trò nói phét. Đúng ra, ở gần nhà tôi có một tiệm hớt tóc. Hồi nhỏ, những khi rảnh rỗi, tôi hay lang thang sang các tiệm hớt tóc để coi các ông thợ đánh cờ tướng hoặc húi đầu cho thiên hạ. Nhìn nhiều lần đâm quen. Tôi chưa bao giờ hớt tóc nhưng biết rõ từng động tác, từng điệu bộ của người thợ, cách thức đi tông đơ, cắt xén v.v….

Lớn hơn chút nữa, vì nhà nghèo quá, bố mẹ ít khi có tiền cho các con đi hớt tóc, nên tôi nẩy ra ý nghĩ mua tông đơ về hớt tóc cho các em. Hớt cho ai chứ cho em thì quá dễ. Lần đầu tiên, cái đầu của mấy thằng em khốn khổ của tôi loang lổ như những vườn hoa tươi đẹp bị bầy chó hoang vào quấy phá. Tội nghiệp các em tôi. Chúng nó buồn lắm mà chẳng dám hé răng vì biết tính tôi vốn hung dữ hà khắc. Đi học với cái đầu như vậy thì tránh sao nổi khỏi bị bạn bè cười chê. Nhưng nhà nghèo quá và “tài của anh tao chỉ có vậy” thì biết làm sao? Lần lần rồi tôi cũng cải tiến nghề được, nhưng chưa bao giờ lên đến trình độ đủ để sống bằng nghề đi cầm tông đơ. Hôm nay, đã mấy chục năm không rờ cái tông đơ, vì thèm cà phê thuốc lá vặt, tôi đã xâm mình trở thành ông thợ cạo. Tôi cũng còn đủ trí khôn để biết cái nghề hớt tóc của mình chỉ có trong trí tưởng tượng, nếu đem ra thực hành chắc chắn sẽ gặp rắc rối to nhưng lém lỉnh như tôi thì làm chuyện gì cũng phải có kế hoạch hẳn hòi.

Có gì đâu, tôi sẽ dùng những thằng bạn ngô nghê đói thuốc này để thực tập trước. Năm cái đầu là quá đủ cho tôi ôn lại và… học thêm nghề. Tôi lại nhớ đến những mái tóc loang lổ của các em tôi mấy chục năm trước. Bất giác tôi thấy thương những thằng phi công Việt Nam tị nạn này. Chỉ vì cái hình ảnh một người tị nạn hạnh phúc với gói Pall Mall trong túi áo do lời vẽ vời của tôi mà vài hôm nữa đây, có vài đứa sẽ trở thành những sư ông bất đắc dĩ. Tôi biết chắc, bàn tay vụng về của tôi mà thực tập cái đầu nào rồi thì chỉ còn nước đem đi cạo trọc. Một cái đầu nhẵn thín không có tí tóc nào coi vẫn còn đẹp hơn cái đầu loang lổ chỗ đen chỗ trắng. Không phải tôi là thằng vô lương tâm, tôi cũng biết thương xót chúng nó đấy chứ, nhưng việc này là việc chung: Tiền hớt tóc sẽ được mua thuốc lá cà phê chia đều cho tất cả. Nghĩ thế nên lòng tôi cảm thấy bớt đi cái mặc cảm tội lỗi.

Những thằng lính trẻ tội nghiệp này, chúng nó nào có biết những tai ương đang chờ sẵn, tất cả đều hăng hái bàn tán về cái tiệm hớt tóc của tôi. Chờ cho chúng nó ngớt tiếng ồn, tôi lên tiếng, giọng uy nghiêm sang sảng tựa hồ một ông tướng trước giờ ra quân:

– Tụi mày nghe kỹ đây. Sống ở đời, làm cái gì cũng phải có kế hoạch. Tao tuy ngày xưa là thợ hớt tóc, nhưng tụi mày biết tao lái tàu bay gần năm năm, tay chân tao nó lạng quạng rồi, không còn khéo léo như những ngày chưa đi lính.

Thằng Hạnh mau mắn phụ hoạ ngay:

– Tao hiểu. Nhà binh nó làm chúng mình hư đi.

Một giọng khác rất cảm động của thằng Hùng tây lai:

– Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông….

Tôi quay lại nhìn nó và tự hỏi lòng mình rằng sao quân đội tôi có nhiều lý thuyết gia như thế này mà vẫn bị thua trận. Tôi đi mau vào phần rắc rối:

– Mình không làm thì thôi, nhưng đã làm thì làm cho đàng hoàng, không thể để khách hàng than phiền được. Mình đánh là phải thắng, không thắng không đánh. Bắt đầu ngày mai, tụi mày phải đưa… đầu cho tao thực tập trước.

Tôi im lặng chờ phản ứng. Chẳng có đứa nào nghi ngờ tài năng của tôi cả. Chỉ có thằng Hạnh, tinh mắt nhất, nhìn tôi với đôi mắt nghi ngờ nhưng trở lại nồng nhiệt ngay khi tôi nói:

– Dĩ nhiên. Mày biết mấy thằng đi xe đạp không? Đã biết đi rồi thì bỏ cả hai ba chục năm vẫn phóng lên xe lái phom phom như thường. Tụi mày đừng lo, ngày xưa tao lái tàu bay đẹp như thế nào thì bây giờ tao lái tông đơ cũng ngon như vậy.

Tôi nhìn quanh một lượt. Tốt, ngoại trừ thằng Tiến vẫn nằm lơ đãng nhìn ra ngoài, xem ra ai cũng tin tưởng nơi tôi hoàn toàn. Người Việt Nam mình quả thật là dễ tin, dễ bị lừa dối. Chả trách gì cả một nửa nước Việt Nam bị Việt Cộng lừa dối trong bao nhiêu năm. Tôi qua đề tài thứ hai, ít rắc rối hơn:

– Mình sẽ hớt ngay tại phòng ngủ này. Thứ nhất, chúng mình sẽ vô nhà tắm công cộng mượn tạm cái gương lớn đem về đây. Chơi hai cái luôn, một cái trước một cái sau cho nó có vẻ nhà nghề. Khăn choàng thì thiếu mẹ gì, mấy tấm ra đây cứ tha hồ mà xài. Lược thì có đủ. À quên, còn thiếu cái kẹp. Ngày mai đứa nào ra giây phơi đồ chộp vài cái cho tao. Nhớ lựa cái mới mới mà chộp. Tiệm hớt tóc của mình “nốp bồ” mà.

Lúc ấy tôi chẳng hiểu “nốp bồ” là gì, nhưng cũng nói đại vì thấy người ta hay dùng chữ này để chỉ những sự gì sang trọng quý phái. Thằng

Hưng mập đưa ý kiến:

– Mình cũng nên có mấy cái ghế để khách đến có chỗ cho họ ngồi chờ.

Tiên sư, chưa mở được tiệm đã tính đến chuyện cho khách ngồi chờ rồi. Sao mà lạc quan quá thế. Tôi nghĩ vậy nhưng lại nói khác đi, ra vẻ đồng ý với nó:

– Thằng Hưng nói đúng. Mình phải lấy thêm mấy cái ghế cho khách ngồi chờ. Tiệm mình “nốp bồ” thì cái gì cũng phải “nốp bồ”, phải bắt đầu “nốp bồ” từ cách tiếp khách….

Bây giờ đến cái phần quan trọng nhất là moi tiền đâu ra để mua cái tông đơ? Tôi đã đi PX một lần để… ngắm cảnh, biết ở Mỹ họ không có bán tông đơ tay mà xài toàn tông đơ điện. Tông đơ điện hớt rất nguy hiểm cho những người lạng quạng như tôi. Sơ xẩy một tí là dám đi luôn gần nửa mái tóc của người ta.

Thằng Hạnh kiên nhẫn chờ tôi trả lời về vấn đề then chốt này.

Tôi nhìn chúng nó, thông báo tiếp kế hoạch gây quỹ khóc thần sầu của mình:

– Về vấn đề tông đơ, tao có biết ông Lãm làm sở Mỹ ở Barrack 1701. Cha này có tiền nhiều. Tao sẽ đề nghị với chả bỏ tiền mua tông đơ cho mình. Một cái đầu 45 cents, mình lấy 25 cents, chả lấy 20 cents là tốt chán.

Thằng Hạnh thở phào nhẹ nhỏm, xem ra mộng cà phê thuốc lá của tôi có cơ thành tựu được. Nhưng nó vẫn chưa hết thắc mắc:

– Mày biết chả có chịu không?

– Chịu là cái chắc. Nếu chả không chịu, tao kiếm người khác. Đất Mỹ hiếm nhân tài chứ thiếu gì tiền.

Thằng Hưng mập có ý kiến:

-Tại sao phải 45 cents? Người ta hớt 50 cent mà.

Tôi lên mặt dạy dỗ:

-Cạnh tranh. Thương mại là cạnh tranh tối đa. Thương mại mà không có cạnh tranh là… độc tài cộng sản. Chúng nó hớt 50, mình chặt nhẹ 45 thôi, chúng nó chơi 30, mình lai rai 25 là đủ. Có vậy mới câu khách được.

Thằng Hạnh nhìn tôi khâm phục. Nó không ngờ có thằng bạn ghê quá, mới ngày nào đây còn lái tàu bay hộc xì dầu mà bây giờ đã “tài phiệt” ra gì.

– Có ai còn thắc mắc gì nữa không?

Cả phòng im lặng. Vậy là ăn tiền rồi.

Thật ra, có một điều đáng thắc mắc nhất mà chẳng đứa nào chịu hỏi là nếu tôi hớt hư đầu người ta thì lấy cái gì mà đền? Nếu chúng nó chất vấn câu này, tôi không thể nào trả lời được bởi vì chính mình, tôi cũng chưa biết xử thế làm sao trong trường hợp chết người đó….

Ngày hôm sau, tôi dậy sớm, ăn sáng xong là dắt thằng Hạnh tạt qua building 1701 để kiếm người bạn hùn vốn. Thằng Tiến vốn làm biếng, nhất định không thèm tham gia hay đóng góp gì hết vào tiệm hớt tóc nên nằm nhà. Phòng của Lãm ở lầu hai. Anh chàng này, tôi mới quen được cách đây vài tuần trong lúc chờ xếp hàng lãnh cơm. Gã cỡ 40 tuổi, đầu tóc hớt cao, nước da đen ngòm làm cho tôi có cảm tưởng gã là một anh cớm hơn là một người làm sở Mỹ. Lãm ít nói, khi cười thì hàm răng rít lại. Ngày nọ, gã đang xếp hàng trước tôi chờ lãnh cơm thì kẹt công chuyện gì đó phải bỏ hàng đi. Mười phút sau trở về, gã tính chui vô chỗ cũ thì bị một đám anh em quân nhân tưởng gã cắt hàng nên la ó phản đối, bắt gã phải xếp hàng lại từ đầu. Lãm càu nhàu đã tính bỏ đi thì tôi gọi lại, thanh minh thanh nga cho gã và mời đứng trước chỗ mình. Gã có vẻ thích tôi từ dạo ấy. Tôi có ghé lên building 1701 thăm gã một lần. Lăn lộn với đời, chỉ cần nhìn qua căn phòng là tôi biết gã này có nhiều tiền nhưng không muốn làm thân. Nụ cười với hàm răng rít chặt của gã làm tôi ngờ ngợ. Hôm nay tôi đột ngột tới kiếm làm gã ngạc nhiên:

– Sáng sớm anh em lên thăm tôi có chuyện gì không?

Tôi kéo gã ngồi xuống giường rồi đi một đường cắt nghĩa về cái tiệm hớt tóc của tôi. Quả đúng như tôi nghĩ, anh chàng Lãm mừng rỡ nhận lời ngay. Cũng giống như thằng Hạnh, gã có ý nghi ngờ về tài năng của tôi:

– Anh ở Việt Nam làm nghề lái… phi công mà cũng biết hớt tóc à?

Tôi tưởng tượng ra ngay một hình ảnh thật đẹp:

– Nhà tôi có đến… 3 cái tiệm hớt tóc. Trước khi đi lính tôi đã phụ giúp gia đình cắt tóc như điên.

Gã móc trong túi ra bao thuốc lá Pall Mall. Tôi và thằng Hạnh nhìn nhau sẵn sàng để nếu gã mời là chúng tôi thò tay ra móc một điếu ngay. Nhưng gã làm như không nhìn thấy sự thèm muốn trong ánh mắt chúng tôi, bình thản móc ra một điếu thuốc rồi bỏ trở lại vào túi. Gã châm lửa. Mùi thơm của điếu thuốc bay ra, quyện lấy chúng tôi. Tôi thấy hoa mắt nhưng nhất định không mở miệng ra hỏi. Đường đường cũng là bạn làm ăn, xin thuốc lá coi nó kỳ quá. Gã tiếp tục phần phỏng vấn:

– Thế anh có biết ráy lỗ tai không?

– Thợ hớt tóc mà không biết ráy lỗ tai thì thợ con mẹ gì? Bảo đảm ráy không êm, không đê mê là không lấy tiền.

Sợ gã bắt tôi chứng minh liền thì khốn khổ nên tôi nói lấp đi:

– Nhưng anh chưa biết luật bên Mỹ này, chỉ bác sĩ mới có quyền rờ vào lỗ tai người ta thôi. Không phải thầy thuốc mà mò mẫm lạng quạng là đi tù hết. Chán thật, đi hớt tóc mà không được ráy lỗ tai thì mất hết 80% cảm hứng….

Thằng Hạnh cũng phụ họa theo:

– Cần gì. Càng ít công việc càng đỡ rắc rối. Qua Mỹ, mình nên thực tế sống theo kiểu Mỹ.

Gã Lãm nhíu mày tính toán một lúc rồi mới nói:

– Tôi đồng ý. Anh biết giá một cái tông đơ bao nhiêu tiền không?

Thằng Hạnh mau mồm:

– Tụi tôi coi kỹ rồi, mười hai đồng. Chỉ cần hớt chừng hai tuần là anh sẽ lấy lại vốn.

Câu trả lời của Lãm làm chúng tôi ngạc nhiên:

– Cái anh nói là thứ tốt, cái rẻ nhất chỉ có 8 đồng. Nói thật với anh, tôi cũng đã có ý định này lâu rồi, nhưng chưa biết tìm thợ ở đâu ra thôi.

Tôi hơi buồn một chút. Tưởng mình đã khôn lanh, nào ngờ cái gã này lại còn khôn hơn mình. Gã đứng dậy, chìa tay ra:

– Mỗi cái đầu anh lấy 25 cents, tôi lấy 20. Dứt khoát nhé. Tối nay tôi đem tông đơ qua cho anh. Anh về chuẩn bị quảng cáo và các thứ lặt vặt đi.

Bắt tay xong, thằng Hạnh còn tính đứng lại gỡ gạc một điếu thuốc nhưng tôi kéo nó đi, bảo nhỏ:

– Mình là dân làm ăn, không để nó khinh được, ráng nhịn vài ngày nữa thì chúng mình tha hồ mà hút.

Chiều hôm đó, y lời hẹn, gã Lãm hí hững bưng cái tông đơ qua. Nhìn thấy tiệm hớt tóc dã chiến chúng tôi trang bị lộng lẫy, gã cười toét miệng:

– Tài thật mấy ông Không Quân! Đi đường tôi đã thấy quảng cáo dán khắp nơi. Tông đơ đây, mai… chúng ta bắt đầu nhé.

– Chưa được.

– Sao vậy?

– Ông muốn làm ăn lâu dài hay làm ăn… không lâu dài?

– Lâu dài chứ.

– Chúng tôi cần thì giờ để chuẩn bị, dợt lại nghề một chút cho nó nhuyễn tay. Không làm thì thôi, còn làm là làm cho nó đàng hoàng, cho nó “nốp bồ”.

Mấy đứa trong phòng chỉ nhìn vào bao thuốc lá Pall Mall đỏ ké trong túi áo trên của gã. Nhưng gã lờ đi, đưa tông đơ cho tôi rồi cáo từ ra về.

Không bỏ phí thì giờ, tôi dắt cả bọn ra khu cầu tiêu, bắt ghế trước mấy cái lavabo có gương để thực tập liền. Tôi dụ khị thằng Hạnh:

– Mày dù gì cũng là bạn bè thân thiết trong phi đoàn với tao, mày ngồi lên để tao hớt trước.

Con nhà Hạnh khôn như quỷ, dại gì đưa cái đầu cho một thằng tự xưng là thợ hớt tóc thí nghiệm, nó kiếm cớ thoái thác ngay:

– Từ từ đã, tóc tao chưa dài, mày hớt đứa khác đi.

Biết tính nhau ai bằng bạn bè, tôi bất mãn lắm nhưng đâu có làm gì được. Nhưng may cho tôi, thằng Hưng mập xung phong ngồi liền. Chao ôi, không ngờ trong cuộc đời tị nạn này vẫn còn nhiều tráng sĩ can đảm không thua đời xưa. Tôi chịu tráng sĩ Kinh Kha bao nhiêu thì cũng phục thằng này bấy nhiêu. Gần… trọc đầu đến nơi mà vẫn biểu lộ được phí khách của con người. Tôi cắm điện cái tông đơ, lẩm bẩm vài lời cầu kinh với thượng đế rất chân thành rồi… rón rén bắt đầu. Tôi có cảm giác y hệt như ngày xưa xa lắm, lúc lao chiếc phi cơ xuống rừng phòng không địch để bắn trái róc két đầu tiên của cuộc đời phi công. Phải công nhận, con người trời sinh ra có một khả năng tự vệ phi thường trong những trường hợp như vậy. Đã mấy chục năm nay, tôi có bao giờ cầm tông đơ đâu mà tối đó, thí nghiệm cái đầu của thằng Hưng mập đẹp quá sức tưởng tượng. Sau ba tiếng đồng hồ cặm cụi, lúc nghiêng phải, lúc uốn mình sang trái, lúc khác lại nhảy nhỏm lên khi cái tông đơ điện đi một đường hơi sâu, tôi hoàn thành tác phẩm dưới những cặp mắt thán phục của bạn bè. Thằng Hạnh, đứa nghi ngờ khả năng tôi nhất bây giờ lại là thằng to miệng tán thưởng tôi nhiều nhất làm tôi tưởng mình là thợ hớt tóc thật. Nó chìa tay ra, giọng cảm động:

– Tao xin lỗi mày.

– Mày làm gì?

– Ngày hôm qua tao đã trót dại coi thường và nghi ngờ khả năng của mày. Tao không ngờ mày là con nhà… phó cạo thật. Tao phục mày quá, mày cho tao xin lỗi.

Tôi thấy có cái gì nhức nhối trong tim. Vừa mất nước, từ một ông thiếu úy phi công xuống làm thằng di tản buồn tháng trước bây giờ lại được tặng câu khen thưởng là “con nhà phó cạo thật”. Đời tị nạn sao nhiều oan khiên thế này hỡi trời, chỉ hai tháng mà bị xuống luôn hai cấp. Tôi đóng trọn vở kịch:

– Thì tao đã bảo chúng mày mà, tao có máu phó cạo trong người thật.

Chúng nó bu xung quanh thằng Hưng mập, bàn tán, xuýt xoa phê bình. Tôi thấy mặt mũi đứa nào cũng rạng rỡ. Hình ảnh người tị nạn hạnh phúc có gói Pall Mall trong túi áo chắc đã vừa tầm tay. Chờ cho chúng nó tiêu hóa xong niềm vui, tôi nói với cả bọn:

– Bây giờ khuya rồi, đứa nào phụ trách vệ sinh phải lo dọn dẹp. Ngày mai ai muốn hớt tóc.

Lần này thì 4, 5 bàn tay cùng giơ cao lên một lượt, có cả bàn tay của thằng Hạnh mới là ly kỳ:

– Tao. Tao tình nguyện, ngày mai mày hớt tao trước đi.

Tôi đã tính vênh váo từ chối cho bỏ ghét nhưng nghĩ lại, tôi rộng lượng gật đầu:

– Ừ, mai tao hớt cho mày. Ăn sáng xong về mình bắt đầu liền. Thực tập hết ngày mai, ngày mốt mình có thể khai trương tiệm hớt tóc được.

Tối hôm đó, lần đầu tiên kể từ ngày di tản, tôi gối đầu trên hộp tông đơ ngủ một giấc ngon lành.

Hôm sau, tôi và thằng Hạnh bắt đầu rất sớm. Chúng tôi tính hớt ngay tại phòng nhưng vì thấy nhiều người còn ngủ, đành phải xách ghế ra khu nhà vệ sinh. Sáng sớm, tôi để ý thấy sự lưu thông trong khu nhà cầu công cộng này rất nhộn nhịp, khác hẳn tối hôm qua. Đúng ra, chúng tôi không nên bắt đầu sớm như thế vì buổi sáng là giờ của người ta hay giải quyết các vấn đề đi cầu và rửa mặt. Ai đi qua gặp chúng tôi cũng đều tỏ vẻ khó chịu. Người Việt mình khác với các dân tộc Tây phương, không bao giờ được tự nhiên khi hưởng thụ cái đệ tứ khoái ở những nơi công cộng có nhiều người. Thậm chí, có người khó tánh còn ngồi trong cầu nói nhiều câu xách mé ra ngoài, ngụ ý chửi chúng tôi. Trong nhà cầu lúc ấy chỉ có vài thứ âm thanh: Gần nhất là âm thanh của cái tông đơ điện, nghe rè rè và êm ái. Rồi đến tiếng nước chảy, nghe rõ có hai loại khác nhau. Một loại chảy ra từ rô bi nê và một loại chảy ra từ… người. Chói tai nhất là loại tiếng động chúng ta vẫn thường nghe khi ném một vật gì nặng xuống nước ở một cao độ thấp. Xen lẫn với những âm thanh này là những tiếng thở phì phò và thỉnh thoảng tiếng giựt nước cầu tiêu. Đã mấy lần, tôi tính bảo thằng Hạnh dời vào phòng ngủ mà hớt tiếp nhưng nghĩ đến việc phải dọn dẹp sạch sẽ trước khi đi, hơn nữa đầu thằng Hạnh đang dang dở, một bên trắng bên đen coi rất nham nhở, nên lại thôi.

Làm việc với những thứ âm thanh ghê gớm như vậy bên tai, làm sao khỏi bị chia trí. Nếu là tay phó cạo thật chưa chắc đã hớt được đẹp, huống gì ông thợ cạo lại là người đã mười mấy năm chưa sờ đến cái tông đơ. Chỉ sau mười lăm phút “lái tông đơ,” tôi hốt hoảng nhận ra cái đầu của thằng Hạnh đã loang lỗ như đồi… Charlie, với đầy đủ hình ảnh những hố bom và giao thông hào chằng chịt dọc ngang. Tôi tái mặt. Thằng Hạnh cũng tái mặt, còn tái hơn tôi. Thế này thì trời hại hai thằng phi công tị nạn rồi. Thằng Hạnh khôn lắm. Nó rán giữ miệng, không thèm nói gì cả, vì biết nói ra chỉ làm tôi cuống quít thêm.

Bây giờ thì phải nói là tôi không còn hớt tóc nữa mà đang làm công việc sửa chữa các giao thông hào, lấp các hố bom bằng tông đơ trên đầu thằng bạn khốn khổ. Tay và chân tôi mõi rã rời, mồ hôi đổ hột, nhỏ xuống cả lớp khăn choàng. Khổ nổi, tôi như con muỗi đã bị lọt vào tổ nhện, càng loay hoay tháo gỡ, càng lọt sâu vào đám dây tơ chằng chịt. Cái đầu thằng Hạnh mỗi ngày một ngắn hơn mà chẳng thấy đẹp hơn chút nào. Tôi có bao giờ ngờ được cuộc đời anh phó cạo lại cay đắng đến như thế này. Ngày xưa ở Việt Nam, mỗi lần bước vào tiệm hớt tóc, tôi nghênh ngang như một ông tiểu tướng. Hớt xong, tôi quẳng ra trăm bạc nhưng luôn luôn nghĩ rằng giá tiền đó quá cao cho một người chỉ đứng biểu diễn tông đơ trong mười lăm phút. Bây giờ, tôi chỉ mơ ước được xuất thân là “con nhà phó cạo” chính tông để giải quyết được cái đầu thằng bạn tôi. Ôi, đẹp biết chừng nào những bàn tay… phó cạo.

Sau gần một tiếng đồng hồ đau khổ và kiên nhẫn ngồi im nhìn tôi xây dựng lại những đổ vỡ… trên đầu nó, thấy mái tóc mình càng ngày càng trở nên trắng ra, thằng Hạnh biết đã đến lúc phải tốp tôi lại. Thật ra lúc ấy không ngừng cũng không được, vì cái đầu nó còn chỗ nào có tóc đâu mà sửa? Nó cay đắng mở miệng mà mồm méo xệch đi:

– Đù mẹ mày chơi ông!

Tôi cứng họng, vừa hối hận vừa buồn. Nó nói vậy chỉ để mà nói vì nó biết tôi nãy giờ hì hục lúi cúi sửa chữa cho nó.

– Đù mẹ tốp lại đi. Tháo khăn ra, ông đấm vỡ mặt mày.

Tôi lẳng lặng tắt cái tông đơ, tháo khăn ra, cũng chỉ mong nó đấm vào mặt mình một cái cho tôi đỡ bị lương tâm dày vò. Nhưng nó không đấm, chỉ đứng nhìn vào tấm gương, lấy tay xoa xoa tóc rồi thở dài não ruột:

– Đù mẹ mày chơi ông. Mày hớt thế này thì ông còn dám nhìn ai. Đù mẹ hỏi thật với mày, ở VN mày có thù oán ông cái gì không? Đù mẹ mày giết ông rồi!

Như để đổ thêm dầu vào lửa, có vài người vào khu vệ sinh, nhìn thấy đầu thằng Hạnh, không nín được liền bật cười lên thật to. Mãi đến lúc đó, tôi mới thấy rằng ai nhìn thấy nó mà không cười ré lên thì kẻ đó chắc bị bệnh thần kinh nặng. Chính tôi là người đang nát tan ruột gan mà cũng không nhịn được. Đằng nào cũng đã lỡ, tôi đành chìu theo bản năng, để những tiếng cười sằng sặc tuôn ra một lần. Từ khi di tản, đây là lần đầu tiên tôi được cười một trận ra gì. Thằng Hạnh càng lộn gan:

– Mày mà cũng cười được à thằng “giặc lái khốn nạn”? Đù mẹ đồ đểu cáng, ông biết mày chơi ông mà, coi chừng ông đá bỏ mẹ mày. Giá còn cây súng ông phơ cho một phát chết nhăn răng ra rồi tới đâu thì tới.

Nó vừa nói vừa nhìn vào tấm gương, rờ đầu rờ tai nhăn nhó khổ sở. Chả mấy chốc, tụi thằng Hưng Mập, thằng Hùng cũng đã có mặt tại chỗ. Đứa nào cũng ôm bụng cười no nê.

Tôi đứng sát bên thằng Hạnh năn nỉ nói với nó bằng tất cả sự thống thiết và chân thành của một con người:

– Tao xin lỗi mày. Số mày xúi quẩy làm sao đó. Mày thấy không, tao đã cố gằng hết sức….

Nhìn thấy cái đầu của Hưng mập đẹp đẽ ngon lành, thằng Hạnh lại đau đớn:

– Đù mẹ mày chơi ông, sao tối qua mày hớt cho thằng Hưng đẹp vậy?

– Không phải đâu, tại tối qua tao cố gắng quá sức.

– Thế hớt cho ông, mày không cố gắng quá sức được à?

– Không phải, tại tao chia trí. Giá hồi sáng mình hớt ở trong phòng thì đâu đến nỗi nào.

Vốn là một đứa biết lo xa nên vừa năn nỉ nó tôi vừa nghĩ đến những “hậu quả thương mại” của vấn đề. Nếu để thằng Hạnh đem cái đầu như thế này ra ngoài cho thiên hạ nhìn thấy thì tiệm húi cua của chúng tôi chưa mở cửa coi như sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn. Húi đẹp vậy, họa có bọn bộ đội ngu dốt của bác Hồ mới thèm mò đến cho tôi cắt tóc. Chờ cho nó nguôi nguôi, tôi bèn đem thực tế ra “lễ phép trình bày”. Con nhà Hạnh tuy vừa bị một vố ra gì nhưng rất khôn ngoan và vẫn còn tin tưởng nơi tôi lắm, nhất quyết không để cái hình ảnh thê thảm sáng nay làm mờ đi cái hình ảnh đẹp tuyệt vời của người tị nạn với gói Pall Mall trong túi áo. Nó chắc lưỡi, vẫn còn hậm hực:

– Tao mà ra đường như thế này thì con nít gặp nó cũng khóc thét lên, nói gì đến chuyện có thằng ngu nào dám đến hớt tóc.

– Đúng đúng, vậy tao mới phải bàn với mày. Bây giờ tính sao?

– Phải đem cái đầu này nhờ thợ sửa.

– Mày làm gì có tiền?

– Trước khi di tản, vợ tao có dúi vào tay tao 5 đô, tao ghiền thuốc đốt hết 3 đồng, còn lại 2 tính để phòng khi đau ốm và khẩn cấp. Trường hợp này là… đại khẩn cấp rồi.

Ghê gớm thay cái thằng Hạnh. Nếu tôi biết nó còn 2 đô la thủ kỹ trong người mà sáng sáng phải cuốc bộ ba bốn dặm đường đi xin thuốc thì tôi đã từ nó rồi. Phi công Việt Nam nổi tiếng hào hoa phong nhã, sao lại có một thằng bần tiện lọt vào đây?

Nó ôm quần áo chui vào nhà tắm vặn nước, nói vọng ra:

– Mày phải kiếm cho tao một cái mũ, nếu không có thì lấy đỡ cái khăn cũng được. Tắm xong là tao đi liền. Phải… di tản khỏi đây liền lập tức trước khi người ta gọi tao là Hạnh… thầy chùa.

Và nó đi thật. Thằng Hạnh đi mãi đến tối mịt, mọi người đã lên giường cả mới trở về. Chúng tôi ào ra bật đèn lên.

– Dỡ mũ cho tao coi cái đầu cái nào. Thợ sửa có đẹp không?

Thằng Hạnh dỡ cái mũ lưỡi trai nhà binh mà giờ này coi rất là lố bịch với bồ đồ civil ra. Thằng Tiến phê bình câu đầu tiên:

– Đù mẹ tưởng thợ sửa ra sao, sửa vậy thì có hơn gì thợ nhà.

Thằng khác góp ý:

– Coi đỡ hơn hồi sáng nhưng nếu cạo trọc thì vẫn đẹp hơn.

Một đứa khác:

– Trọc mẹ nó rồi chứ còn nếu gì nữa.

Tôi ngồi yên trên giường, “mặc cảm tội lỗi” tràn trề hơn hồi sáng vì sau khi nó đi, tôi có thực tập thêm hai cái đầu nữa, cái nào coi cũng tạm được. Chỉ nhìn thoáng một vòng, con nhà Hạnh nhận ra ngay. Nó ngồi xuống giường, cởi đôi giày, thảy gói Pall Mall lên giường tôi:

– Tao mới mua bao thuốc lá đấy hú