Thắm Nguyễn

Henry van Dyke
Hoàng Nghị lược dịch

Lễ Hiển Linh (Epiphany) được cử hành vào 6 tháng Giêng, sau lễ Giáng sinh, mừng kỷ niệm ba nhà đạo sĩ đến triều bái Chúa khi Ngài hạ sinh tại Be-lem, dâng vàng, nhũ hương và mộc dược. Henry van Dyke (1852 – 1933) hư cấu câu chuyện của đạo sĩ thứ tư với những cuộc phiêu lưu và báu vật của chàng.

Artaban chậm bước ra ngoài sân thượng. Gió đêm thổi từ sườn núi Orontes về thật lạnh. Ngoài một dải sương trắng đục nằm dài trên bình nguyên phía đông, cả bầu trời trong xanh không một gợn mây. Chàng ngước mắt nhìn trời cao. Bỗng nhiên trước mắt chàng hai vì sao Jupiter và Saturn quyện vào nhau như một bó đuốc và từ đó bắn ra một đốm lửa lung linh màu tím thẫm, dần dần đổi sang màu cam vàng ối và cuối cùng trắng sáng như bạch kim. Chàng bàng hoàng tự nhủ: Dấu hiệu đây rồi. Vua đã giáng hạ. Ta phải đi chiêm bái Ngài mới được.

Lời tiên tri từ ngàn năm trước đó được giải đoán là một ngôi sao mới sẽ xuất hiện để báo tin ngày ra đời của đấng minh quân, cứu tinh của dân tộc Do Thái.

Chàng đã sửa soạn từ lâu cho cuộc hành trình này. Ðem bán hết tài sản, chàng tìm mua ba viên ngọc quý, dự định dâng lên Vua mới ra đời: một viên ngọc xanh biếc như bầu trời xanh đêm, một viên hồng ngọc đỏ chói hơn tia nắng rạng đông, và một viên bạch ngọc trắng như đỉnh núi đầy tuyết phủ.

o O o

Suốt đêm, Vasda – con tuấn mã chạy nhanh nhất trong bầy ngựa của Artaban – yên cương đã sẵn sàng trên lưng, đứng bồn chồn trong chuồng như cùng chia sẻ nỗi lòng nao nức của chủ.

Trước khi bầy chim cất tiếng ca vui buổi sáng, trước lúc làn sương đục tan dần trên dải bình nguyên, chàng đã nhanh nhẹn nhảy lên mình ngựa phi nước đại về phía tây.

Ngựa băng qua vùng núi Orontes với những suối nước chảy băng băng, qua bình nguyên Nissaeans có bầy thú vật hàng ngàn con đang gặm cỏ, qua những cánh đồng phì nhiêu Concabar bụi bay mù mịt từ những sân đập lúa, qua Baghistan nơi những dòng nước tuôn róc rách từ khe đá xuống tưới vườn cây xanh mướt…

Suốt cuộc hành trình dài đăng đẳng, người và ngựa thân nhau như đôi bạn, cùng ngủ dưới bầu trời đầy sao, cùng uống nước từ những dòng suối mát, cùng chia nhau những bữa ăn thanh đạm. Cả hai cố nuốt quãng đường xa thăm thẳm, vì chàng trù tính phải đến đúng hẹn với ba người bạn đang đợi chàng ở Babylon.

Chàng băng qua những đèo cao heo hút lạnh, những núi đồi gió buốt căm căm, những dòng sông nước gầm ào ạt. Ðến ngày thứ mười, khi hoàng hôn xuống, chàng đã thấy bức tường thành Babylon trước mặt. Người và ngựa cùng muốn dừng chân tìm chỗ nghỉ ngơi trong thành, nhưng chàng biết chỉ còn đi ba giờ nữa là có thể đến được ngôi đền Ba Vòng Cầu nơi chàng có hẹn với các bạn đêm nay. Vì vậy chàng không dừng lại mà phi ngựa đi luôn băng qua đồng cỏ.

Rừng cây chà là rậm rạp ngăn chút ánh sáng mờ nhạt còn lại lúc hoàng hôn. Ðêm dần dần buông xuống. Con Vasda chậm bước đi thật cẩn thận. Bỗng nó chùn bước lại. Con tuấn mã này như có linh tính một mối đe dọa nào đang chờ đón khi thấy một vật đen ngòm nằm bất động trên đường.

Artaban xuống ngựa. Trong bóng sao mờ nhạt, chàng thấy hình dạng một người nằm bất tỉnh. Bộ quần áo nghèo nàn, khuôn mặt khắc khổ của người đó cho chàng biết y là một người Do Thái lưu lạc trong vùng. Bàn tay y lạnh ngắt và nơi bộ ngực không còn nghe tiếng đập. Chàng thở dài với ý nghĩ xót thương, tưởng tượng đến xác chết nằm đây sẽ làm mồi cho dã thú. Vừa quay mặt đi, chàng  bỗng nghe một tiếng thở yếu ớt thoát ra từ đôi môi xác chết. Và bàn tay xương xẩu của y bỗng níu chặt lấy gấu áo chàng.

Tim Artaban như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, không phải vì sợ, nhưng vì một ý nghĩ vừa thoáng qua óc chàng: Làm sao có thể nán lại đây để cứu giúp một người lạ mặt đang cơn hấp hối? Nếu chàng chỉ ở lại một giờ thôi thì cũng không thể đến kịp hẹn với các bạn. Họ sẽ nghĩ là chàng bỏ cuộc và ra đi không đợi chàng nữa. Nhưng nếu chàng bỏ đi thì người này chắc chết, mà nán ở lại may ra có thể cứu được y chăng. Tâm trạng chàng rối bời, không biết tính sao, chỉ thầm cầu Trời cho mình chọn đúng con đường phải theo lúc này.

Rồi chàng quay mặt lại, gỡ tay người bệnh ra, bồng y đến một gốc cây chà là. Lấy nước từ con lạch gần đó, chàng thấm dần vào đôi môi trắng bệch của y, hòa theo chút linh dược luôn mang theo bên mình. Chàng xoa bóp hàng giờ như một lương y tài khéo, và cuối cùng người đó được hồi phục. Y ngồi dậy nhìn chàng, ngập ngừng hỏi:

– Ngài là ai, tại sao lại thấy tôi ở đây mà cứu giúp?

– Tôi là Artaban, chàng đáp. Tôi đi từ Ecbatana đến Jerusalem để tìm một vị Ấu Vương vừa sinh ra làm vua người Do Thái.

Người bệnh run run đưa hai tay lên trời nói:

– Cầu xin Ðức Chúa của Abraham, Isaac và Jacob chúc phúc cho cuộc hành trình của ngài. Tôi không biết lấy gì trả ơn ngài, nhưng có điều này có thể cho ngài rõ là Ðấng Cứu Thế không sinh hạ ở Jerusalem đâu, mà ở Belem xứ Judea vì các đấng tiên tri của chúng tôi đã nói như vậy. Cầu Ðức Chúa đưa ngài tới đó bình an vì ngài đã xót thương người bệnh hoạn.

Ðã quá nửa đêm lâu rồi. Artaban vội vã thúc con Vasda lên đường nhanh như một mũi tên bắn. Nhưng vừa hừng đông, khi chàng đến được ngôi đền Bảy Vòng Cầu thì chẳng thấy các bạn đâu. Chàng tìm được một mảnh giấy chặn dưới viên gạch vỡ cho biết các bạn không thể đợi chàng lâu hơn nên đã ra đi rồi, nếu muốn tìm thấy họ thì đi vào sa mạc.

Ngồi phịch xuống đất, chàng vò đầu, bứt tóc: Làm sao có thể qua được sa mạc với một con ngựa đã mỏi mệt, lại không đủ lương thực để ăn uống trong nhiều ngày? Chàng suy nghĩ thật lâu. Chỉ còn một cách thôi: phải bán viên lam ngọc đi lấy tiền mua mấy con lạc đà và lương thực ăn dọc đường mới mong đuổi kịp các bạn. Chỉ có Ðức Chúa nhân từ mới hiểu được là chàng