1

Tôi giật mình khi chợt nhận ra bức tranh treo ở góc trên cao của phòng triển lãm.Trong lòng tôi nhói lên một nỗi buồn cay đắng, chạnh nghĩ đến cái hư vô của kiếp người. Lẽ nào, đã từng có một con người tồn tại trên cõi đời này, đam mê hội họa, yêu đến tận cùng của bản thể. Rồi, chỉ để cho gió xóa hết đi dấu vết của sự hiện hữu trong cõi nhân gian, ngoài một bức tranh lặng lẽ và khiêm nhường kia thôi sao?

Bà già trực ngồi bên chiếc đàn dương cầm cổ đã lên nước bóng loáng, tóc bà bạc trắng như cước rất hợp với bộ đồ dân tộc truyền thống mặc trên mình. Bà nhắc nhở tôi đã đến giờ đóng cửa bảo tàng. Ngôn ngữ của bà rất khó nghe, phần vì giọng khản phần vì pha trộn cả thổ ngữ địa phương như hầu hết những người già sinh sống ở dọc hai bên bờ sông Dnepro. Tôi vâng vâng dạ dạ nhưng vẫn nấn ná chần chừ chưa chịu rời bước khỏi vị trí của bức tranh mà tác giả của nó là bạn đồng học thủa trước. Ðây là bức tranh duy nhất trong cả khu bảo tàng khắc họa chân dung một người phụ nữ Á Ðông khỏa thân. Góc bên trái bức tranh có gắn một miếng đồng nhỏ đã han gỉ ghi hàng chữ  Hoa Sen Trắng tựa gốc Bạch Dương – Evgenii Nikolaevich (Kiev). Giải thưởng đặc biệt mang tên danh họa Repin.

Bức tranh như một đứa trẻ mồ côi được sinh ra trên cõi đời, kết tinh của một mối tình đầy chất bi. Có lẽ, khách xem tranh không ai biết được rằng, chính người mẫu trong tranh mang cái tên Hoa Sen Trắng – Bạch Liên.

Tôi thẫn thờ bước ra ngoài sân và lại gần đài phun nước trong khuôn viên tràn ngập ánh nắng thu. Những chiếc lá phong vàng xoay tít trong không trung rồi đáp nhẹ xuống mặt nước xáo động vì làn gió thổi tới từ phía con sông Dnepro rộng mênh mông. Ký ức bỗng ào ạt trở lại. Nhưng không hiểu sao, các khuôn mặt thậm chí cả giọng nói của những con người có liên quan tới bức tranh kia cứ nhòe đi như những viên sỏi đủ màu sắc lung linh dưới đáy bể nước, vừa thực lại vừa hư ảo. Tôi lưỡng lự không biết nên bắt đầu từ đâu để gỡ dần sợi dây ký ức mong manh đang rối lên trong đầu…

2

Buổi học về hình họa của thầy Igo bị hoãn lại. Thầy là một cựu chiến binh trong chiến tranh ở Afghanistan, cụt một chân và bị mất một con mắt trái. Nhưng sự khiếm khuyết đó không cản trở việc nhiều thiếu nữ trong trường phải lòng thầy. Nhóm sinh viên ngoại quốc chúng tôi mỗi người phỏng đoán một kiểu, nhưng cuối cùng mới vỡ lẽ: Cô người mẫu bị chồng thượng cẳng chân hạ cẳng tay, đánh thâm tím mặt mày khi biết vợ kiếm thêm bằng nghề này. Tôi nhớ, thời điểm đó để kiếm được một người mẫu có thân hình chuẩn cũng không phải dễ dàng vì thực sự đây không phải là một nghề được xã hội công nhận và tiền công lại rẻ mạt. Ðứng suốt tám tiếng đồng hồ gần như liên tục mà chỉ được 50 rúp. Hơn nữa, dư luận xem nghề này cũng chẳng khác gì nghề gái điếm nên quy định của trường là phải giữ bí mật danh tính cho các người mẫu. Họ làm đủ các nghề từ công nhân xây dựng, nhân viên bán hàng, diễn viên múa và cả phu khuân vác ở bến cảng đường sông… Trong lịch sử mỹ thuật, trừ trường hợp người làm mẫu là những nhân vật quan trọng, nổi tiếng thì mới được lấy tên đặt cho tên tác phẩm. Thỉnh thoảng có họa sĩ đề tên người mẫu vào tranh, nhưng đa phần họ được xem là mãi mãi vô danh. Thực tế sáng tác cũng cho thấy, trong các ký họa thì tác giả thường ghi chú cẩn thận mình đang vẽ ai, nhưng khi chuyển ký họa đó thành tác phẩm thì cũng thường “lờ” người mẫu đi. Với nghề làm mẫu khỏa thân, không có đam mê và sự hy sinh cho nghệ thuật thì khó đạt được kết quả như mong muốn. Tác phẩm hội họa phải là đứa con của một mối tình say đắm giữa họa sĩ và người mẫu, phải là sự thăng hoa của cảm xúc, hay nói đúng hơn là ham muốn của họa sĩ với người mẫu trong quá trình sáng tạo.

Bọn tôi chia nhau đi dán quảng cáo ở dưới ga tàu điện ngầm, cổng các nhà máy và các khu chợ đông đúc… Cũng có vài người phụ nữ đến nhưng nghe điều kiện làm việc và tiền công họ đều nhún vai bỏ đi mặc dù  đời sống rất khó khăn, giá cả sinh hoạt tăng vọt.

Cuối cùng, người mẫu mà chúng tôi mong đợi cũng xuất hiện.

Zenhia (tên gọi thân mật của Evghenhi), một sinh viên lớn tuổi hơn lứa chúng tôi, tính tình cũng như diện mạo hơi kỳ quặc, có thể nói là lập dị, đã tìm ra. Nghe nói, anh thuộc loại du thủ du thực, lang bạt kỳ hồ khắp các xó xỉnh, đã tham gia các toán người đào vàng ở miền tây Siberia hoang vu, buôn trứng cá đen trên biển Bắc, vẽ tranh Thánh giả cổ bán cho các thương gia phương Tây… Và bây giờ, làm thêm nghề thợ sửa máy trong tổ hợp dệt may ở ngoại ô Kiev. Anh thuê giá rẻ một căn gác xép tồi tàn trên phố Sadova để vừa trú chân vừa làm nơi vẽ. Mùa Hè thì nóng hầm hập còn mùa Ðông lại lạnh giá, chỉ vì hai lý do: Cửa sổ mở ra toàn cảnh khu tượng đài Bà mẹ Tổ quốc bên bờ sông Dnepro và luôn luôn đón nhận được  ánh nắng mặt trời tràn ngập gần như suốt ngày. Tôi vẫn còn ấn tượng về những bức tranh mà anh vẽ hồi đó, rất quái dị và màu sắc có gì đó hơi rợ. Anh thích lấy bố cục tranh theo các tích trong kinh Thánh hoặc các truyện kinh dị hoặc từ truyền thuyết dân gian, tạo cảm giác vừa rờn rợn vừa bí ẩn và khó hiểu. Anh nói với tôi “đấy là cảm giác của con người trước vũ trụ vô cùng”.

Lúc Zenhia dẫn cô người mẫu tới phòng vẽ hình họa thì tôi đang phải trả nốt bài kiểm tra môn lịch sử mỹ thuật cổ đại Ý. Cậu bạn người Ả Rập vào sau, khi đi ngang qua chỗ tôi ngồi, nói khẽ:

– Có người mẫu rồi! Người mẫu Phương Ðông hẳn hoi nhé!

– Có xinh không? Tôi ngẩng đầu lên buột miệng hỏi.

– Người mẫu khỏa thân che mặt! Nói xong, cậu ta đi thẳng về chỗ ngồi. Còn tôi, mặc dù vẫn còn thời gian chuẩn bị nhưng đã hấp tấp giơ tay xin được trả lời câu hỏi.

Tôi đẩy cửa bước vào phòng vẽ hình họa, bỗng  sững sờ trên ngưỡng cửa vì đ