Lời nói đầu

KHI sửa Soạn làm số đặc biệt tưởng niệm Khái Hưng, anh Trần đình Phong cùng anh Nguyễn đình Vượng có đến tòa soạn nhật báo Dân Chủ tìm tôi, yêu cầu cho Văn được biết những gì tôi biết về Khái Hưng, cung cấp cho Văn một ít tài liệu và viết cho Văn một vài bài.

Tuy quá bận, song tôi đã vui vẻ nhận lời và " Văn số 22, tưởng niệm Khái Hưng " được ra đời vào ngày15 - 11 - 1964.

Trong đó, ngoài những tài liệu đặc biệt và giá trị viết về Khái Hưng của học giả Hồ Hữu Tường và các văn hữu khác, tôi đã phải bận tâm và chú ý đến đoạn chót của bài " Khái Hưng, thân thế và tác phẩm " Bài tiểu luận này do Thư Trung viết.

Sau khi đã kể lại thân thế và sự nghiệp văn chương của Khái Hưng, Thư Trung kết luận:

" In lại những tác phẩm mà Khái Hưng đã hoàn thành trong thời gian ông đấu tranh Cách Mạng không những là việc nên làm của thân nhân và văn hữu Khái Hưng mà, theo thiển ý còn là việc cần làm của Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Cùng lúc với sự khôi phục giá trị cho một Khái Hưng nhà văn Cách Mạngt việc in những tác phẩm hiếm có của Khái Hưng còn gìn giữ cho kho tàng văn học dân tộc những tác phẩm có giá trị bền vững, và hơn thế nữa, còn nuôi nấng được trong lòng những thế hệ trai trẻ đang tới cái ý thức hào hùng của nhà Cách mạng chân chính thực lòng mến yêu quê hương, thiết tha với tương lai dân tộc...

" Có một điều này chắc chắn: chịu tốn công sưu tầm rồi đem in thành sách những tác phẩm của Khái Hưng viết hồi 1945 - 1946 it nhất cũng có ích cho văn giới và học giới nhiều hơn là đem in lại những bài báo của Phạm Quỳnh viết từ năm 1917. Việc có ích đấy, nhưng mà có ai làm không? Và ai sẽ làm đây ? "

Theo Thư Trung, chỉ " chịu tốn công sưu tầm rồi đem in thành sách ", vấn đề thật cũng quá giản dị đấy, và cũng không mấy khó? Nhưng sưu tầm ở đâu ? Thư viện nào có giữ ? Mò trăng đáy nước có lẽ còn dễ hơn là việc đi sưu tầm những bài của Khái Hưng viết trong nhữrng năm1945 - 1946.

Tôi có một may mắn không ngờ (nhưng không tiện nói rõ ra đây) là ngay từ năm 1945 - 1946, và sau ngày toàn quốc, khói lửa tôi vẫn còn giữ được một số tài liệu quí, có cả những bài Khái Hưng viết. Tôi còn được biết thêm là ngay từ hồi đó. Khái Hưng còn có cả bản dịch toàn bộ " Liêu Trai Chí Dị " và đã cho một thân hữu mượn.

Người bạn đó là ai, hiện còn giữ nguyên bộ "Liêu Trai Chí Dị " của Khải Hưng như lúc văn sĩ cho mượn nữa hay không, tôi cũng xin miễn kể. Câu chuyện đã trở thành riêng tây và đã đi vào quá khứ "im lặng như một nấm nhà mồ " rồi.

°

Lời Nguyền tập truyện cuối cùng cũng như vở kịch dài bốn hồi nhan đề " Khúc tiêu ai oán" của Khái Hưng, hiện nay tôi vẫn giữ (Ấy là chưa kể tập truyện dài " Xiềng Xích " tôi có được một ít, vì Khái Hưng đang viết giở giang, và những bài thuộc loại, nghị luận về chính trị, xây dựng văn hóa, xã hội, khảo cứu và các loại linh tinh khác...)

Qua nhiều lần yêu cầu, thúc dục của gia đình tác giả mong tôi sớm cho in thành sách và qua những lời kêu gọi của anh bạn Thư Trung nói trên tôi đã cố gắng cho in cuốn Lời Nguyền, giữa một thời củi quế gạo châu này.

Đế làm đẹp lòng người đã chết, với tất cả chân thành của một người em văn nghệ vẫn hằng mến yêu văn sĩ. Để làm vui lòng những người còn sống, đã luôn luôn tha thiết với tiền đồ Văn học nước nhà... Và phần thưởng tinh thần mà tôi tin tưởng sẽ đến với tôi, chính nhờ ở tấm lòng cởi mở của các thân hữu và của các bạn đọc.

Saigon ngày 19- 5 -1966
NGUYỄN THẠCH KIÊN

 

LỜI NGUYỀN

ĐỒ sộ, chót vót trên đỉnh đồi cao, đồn Vụ- bản hách dịch nhìn xuống con đường đá nối Nho-quan với Hòa-blnh. Trên một quả đồi đối diện và thấp hơn, khu trại giam chính trị phạm náu mình trong hàng dậu dầy nứa nhọn và hai hàng cọc chăng giây thép gai. Phía dưới là một cái thung lũng nhỏ với con sông Vành quanh co uốn éo như con rắn dài vận khúc bạc lướt mình trong cỏ hoang, rừng rậm. Bên kia sông là phố và chợ Trào, dăm chục nóc nhà vừa lợp ngói vừa lợp tranh quây vuông lấy bốn cái quán gạch trống rỗng.

Xa xa về phía Tây Nam, dẫy núi Hoành Sơn sừng sững như một bức thành kiên cố đứng ngăn. Buổi sáng nó chìm biến vào trong sương dầy trắng đục, buổi chiều nó lờ mờ trong sương lam bốc lên như khói. Buổi trưa nó lấp lánh ném ánh bạc của những cây ngân diệp mọc bên sườn. Về phương Đông bắc, và chỉ xa chừng dăm cây số, một quả đồi cao và dài đứng án ngữ như một bức bình phong. Quanh đó những núi đá trắng và đen mọc lởm chởm, với những hình thù cổ quái. Còn phía Tây bắc là những đồi rậm liên tiếp những rừng sâu, cỏ sắc bao vây lấy từng khu ruộng nhỏ hẹp và dài.

Vùng ấy hằng ngày yên ngủ để chờ đợi những hồi kèn rời rạc báo giờ từ vòm đồn tỏa xuống, cả những hôm phiên chợ tắp nập, nó cũng yên lặng buồn tẻ với những người Mường it cười ít nói: Họ lững thững gánh gạo, gánh măng, gánh lợn, gà, vịt, ngỗng ra chợ bán, rồi lại lững thững trở về làng vời một ít muối và các thức đồ dùng của người Kinh đem từ vùng xuôi lên. Họ như chán nản, chả buồn mặc cả nài giá bao giờ.

Cái trạng thái u huyền giữa một cành thiên nhiên hùng vĩ, khiến Khanh, một tù nhân chính trị, tưởng tượng ra một thần bí gì rùng rợn ngày đêm bay lượn trên không để đe dọa vùng này. Một hôm vác ống bương ra suối lấy nước, y ngỏ ý nghĩ đùa bỡn ấy với người lính kèn. Thì kinh ngạc xiết bao, người kia hãi hùng se sẽ đáp lại:

- Phải, một lời nguyền.

Người lính cũng chỉ thốt ra một câu vắn tắt. Rồi như khiếp sợ một cái gì có thể sắp xảy tới, y im bặt.

Đêm hôm ấy trong khi nằm lịm trên giường lát nứa, nghe bài kèn tám giờ, Khanh lại liên tưởng đến ng